KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP
NĂM 2002,2003 VÀ 2004
Doanh nghiệp là bộ phận quan trọng nhất quyết định tăng trưởng GDP nói riêng và sự lớn mạnh của đất nước nói chung, bởi vậy thông tin đầy đủ và chính xác về doanh nghiệp là rất cần thiết. Để đáp ứng yêu cầu đó, Tổng cục Thống kê có sự trợ giúp về kỹ thuật của Ngân hàng Thế giới đã tiến hành điều tra toàn bộ doanh nghiệp hàng năm từ năm 2001 đến nay và đã được công bố rộng rãi đến mọi đối tượng dùng tin lần thứ nhất vào tháng 1/2004 và lần thứ 2 này với bộ số liệu của 3 năm điều tra là 2002, 2003 và 2004.
Nội dung bộ số liệu này gồm 2 phần:
Phần 1: Những khái niệm và giải thích chung
(1) Doanh nghiệp: Là đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, được thành lập theo Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật hợp tác xã, Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài và thực tế đang còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 của năm điều tra.
Số doanh nghiệp đang hoạt động được công bố khác với số doanh nghiệp được cấp giấy phép do cơ quan cấp phép công bố và số doanh nghiệp được cấp mã số thuế do cơ quan thuế công bố.
(2) Đơn vị để phân tổ các số liệu về doanh nghiệp theo khu vực và loại hình, ngành kinh tế và tỉnh, thành phố là doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp có trụ sở chính thuộc loại hình nào, ngành hoạt động kinh tế là gì và đóng ở tỉnh, thành phố nào thì toàn bộ doanh nghiệp đều được phân vào các tổ theo trụ sở chính.
Phần 2: Số liệu về doanh nghiệp của năm 2001, 2002, và 2003
Số liệu về doanh nghiệp của năm 2001, 2002, và 2003 gồm các chỉ tiêu cơ bản về doanh nghiệp, được trình bày theo 3 mục tiện cho người sử dụng tra cứu:
Mục A: Những chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp và theo ngành kinh tế cấp 2.
Mục B: Những chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp phân theo vùng kinh tế và tỉnh, thành phố.
Mục C: Những chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế kết hợp với tỉnh, thành phố.
Qua bộ số liệu về doanh nghiệp nhiều năm, cho thấy thực trạng doanh nghiệp nước ta như sau:
(1) Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, góp phần giải quyết việc làm và quyết định đến tăng trưởng chung của nền kinh tế.
– Trong 4 năm từ 2000-2003 số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động có đến 31/12 hàng năm tăng bình quân 19,4%/năm (tổng số tăng thêm 29.724 doanh nghiệp).
Trong đó:
+ Doanh nghiệp Nhà Nước giảm 5,6%/năm (3 năm giảm 914 doanh nghiệp).
+ Doanh nghiệp dân doanh tăng 22,6%/năm (3 năm tăng 29.522 doanh nghiệp).
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,1%/năm ( 3 năm tăng 1.116 doanh nghiệp).
– Tính đến 1/1/2004 doanh nghiệp đã giải quyết việc làm cho 5,2 triệu lao động, bình quân mỗi năm tăng thêm 546 ngàn lao động, với mức lương bình quân tăng lên và cao hơn nhiều so với thu nhập của các khu vực hoạt động kinh tế khác:
+ Năm 2000 lương bình quân 1,054 triệu đồng/tháng.
+ Năm 2001 lương bình quân 1,103 triệu đồng/tháng.
+ Năm 2002 lương bình quân 1,249 triệu đồng/tháng.
+ Năm 2003 lương bình quân 1,422 triệu đồng/tháng.
– Doanh nghiệp phát triển là yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế những năm qua:
+ Doanh thu thuần tăng bình quân 21,6%/năm.
+ Tổng nguồn vốn tăng bình quân 16,2%/năm.
+ Nộp ngân sách tăng bình quân 22,0%/năm.
+ Lợi ích cao hơn là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn cho toàn xã hội.
(2) Từ phát triển doanh nghiệp tạo ra cơ cấu kinh tế mới gồm nhiều thành phần, nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh phong phú, đa dạng
– Cơ cấu giữa các loại hình doanh nghiệp và các ngành kinh tế trong khối doanh nghiệp (số liệu năm 2003):
Đơn vị tính: %
| Số DN | Lao động | Nguồn vốn | Doanh thu | Nộp ngân sách | |
| Tổng số | 100,0 | 100,0 | 100,0 | 100,0 | 100,0 |
| 1. Chia theo khu vực và loại hình
doanh nghiệp |
|||||
| – Khu vực DNNN | 6,7 | 43,8 | 59,1 | 46,6 | 48,5 |
| – Khu vực dân doanh | 89,6 | 39,6 | 19,6 | 33,3 | 14,9 |
| + Hợp tác xã | 5,8 | 3,1 | 0,7 | 0,9 | 0,3 |
| + DN tư nhân | 35,6 | 7,3 | 2,2 | 7,1 | 1,9 |
| + Công ty TNHH | 41,9 | 22,1 | 9,6 | 19,3 | 9,2 |
| + Công ty cổ phần | 6,3 | 7,1 | 7,0 | 6,0 | 3,5 |
| – Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài | 3,7 | 16,6 | 21,4 | 20,1 | 36,6 |
| 2. Chia theo ngành kinh tế | |||||
| – Nông, lâm nghiệp, thủy sản | 3,3 | 4,9 | 2,2 | 0,9 | 0,9 |
| – Công nghiệp | 25,3 | 54,2 | 34,1 | 39,3 | 53,6 |
| – Xây dựng | 13,5 | 16,7 | 7,8 | 7,8 | 2,9 |
| – Thương nghiệp, khách sạn,
nhà hàng |
44,0 | 11,4 | 11,9 | 40,9 | 24,5 |
| – Vận tải, thông tin liên lạc | 5,5 | 7,9 | 6,5 | 5,6 | 6,9 |
| – Các hoạt động dịch vụ khác | 8,4 | 4,9 | 37,4 | 5,4 | 11,2 |
– Từ thay đổi cơ cấu thành phần và các ngành kinh tế, tạo ra cơ hội phân công lại lao động trong phạm vi cả nước.
(3) Cùng với gia tăng về quy mô, hoạt động của doanh nghiệp ngày càng đạt được những tiến bộ về hiệu quả sản xuất kinh doanh
– Tổng số lỗ giảm và mức lỗ bình quân của một doanh nghiệp cũng giảm, mức lãi tăng:
| Năm | Tổng mức lỗ
(Tỷ đồng) |
Mức lỗ 1 DN
(Triệu đồng) |
Mức lãi 1 DN
(Triệu đồng) |
|||
| 2000 | 12227 | 1491 | 1612 | |||
| 2001 | 11392 | 1115 | 1558 | |||
| 2002 | 10959 | 828 | 1549 | |||
| 2003 | 10852 | 648 | 1764 |
– Vòng quay của toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh được rút ngắn, năm 2000 là 0,79 vòng/năm thì năm 2002 tăng lên 0,90 vòng/năm, năm 2003 là 0,92 vòng/năm.
– Tỷ suất lợi nhuận của vốn tăng từ 3,7% (năm 2000) lên 4,3% (năm 2002) và 4,5% (năm 2003).
– Chất lượng của hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra không ngừng nâng cao, mở ra khả năng cạnh tranh cao hơn của doanh nghiệp với nhiều hàng hóa nhập khẩu.
(4) Những yếu kém bất cập của doanh nghiệp hiện nay
(4.1) Số lượng doanh nghiệp nhiều, nhưng qui mô nhỏ, phân tán đi kèm với công nghệ kỹ thuật thủ công lạc hậu.
– Tại thời điểm 1/1/2004 bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 72 lao động, 24 tỷ đồng vốn, so với năm 2000 là 84 lao động và 26 tỷ đồng vốn, thì xu hướng qui mô nhỏ sau 3 năm không có gì được cải thiện.
– Số doanh nghiệp nhỏ (dưới 10 lao động) chiếm 46,6%, số doanh nghiệp vừa (từ 10 đến dưới 300 lao động) chiếm 48,8% và số doanh nghiệp lớn (từ 300 lao động trở lên) chiếm 4,6%.
– Trang bị tài sản cố định cho 1 lao động thấp, cũng tại thời điểm 1/1/2004, trang bị tài sản cố định bình quân một lao động là 125 triệu đồng; Trong đó doanh nghiệp nhà nước là 147 triệu đồng, doanh nghiệp dân doanh: 50 triệu đồng và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 245 triệu đồng.
(4.2) Doanh nghiệp phát triển còn mang tính tự phát chưa có định hướng rõ ràng, nhất là các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH tư nhân (biến động tới gần 20% hàng năm).
(4.3) Tăng trưởng nhưng hiệu quả chưa cao, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn yếu, do qui mô nhỏ, trình độ kỹ thuật công nghệ không cao và khả năng đầu tư thấp…
(4.4) Số doanh nghiệp có đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động mới chiếm 29,7% tổng số doanh nghiệp và chiếm 55,5% số doanh nghiệp từ 10 lao động trở lên, nghĩa là vẫn còn 44,5% số doanh nghiệp thuộc diện bắt buộc chưa thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.
(5) Những vấn đề cần tiếp tục cải tiến hoàn thiện điều tra doanh nghiệp trong những năm tới
– Cải tiến phương pháp điều tra nhằm rút ngắn thời gian tiến hành điều tra, xử lý tổng hợp để có thể công bố số liệu vào cuối năm điều tra.
– Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu, ổn định các chỉ tiêu điều tra hàng năm, các chỉ tiêu 2 năm hoặc 5 năm điều tra một lần.
– Cải tiến phương pháp tính đối với một số chỉ tiêu và không ngừng hoàn thiện phần mềm tổng hợp để đáp ứng yêu cầu phân tổ theo địa phương và vùng lãnh thổ chính xác hơn. Đồng thời phục vụ cho nghiên cứu đánh giá chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính phủ.