Giá thịt lợn tăng do thiếu hụt nguồn cung, giá ăn uống ngoài gia đình, giá nhà ở thuê và giá dịch vụ giao thông tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2025 tăng 0,34% so với tháng trước; tăng 1,32% so với tháng 12/2024 và tăng 2,91% so với cùng kỳ năm 2024.

Bình quân 02 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 2,97%.

Trong mức tăng 0,34% của CPI tháng 02/2025 so với tháng trước có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

(1) Chín nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

Nhóm giao thông tăng cao nhất với 0,63% (làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm), trong đó: Nhu cầu đi lại của người dân tăng vào dịp đầu năm mới làm cho giá vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 61,99%; giá vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 25%; vận tải hành khách bằng tắc xi tăng 0,74%; vận tải hành khách đường bộ tăng 0,26% và vận tải hành khách bằng đường thủy tăng 0,08%. Chỉ số giá xăng tăng 0,61% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng trong nước. Giá phụ tùng ô tô tăng 0,23%; lốp, săm xe máy tăng 0,24%; phụ tùng khác của xe máy tăng 0,17% do nhu cầu mua sắm và sửa chữa phương tiện tăng. Dịch vụ thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 0,49%; học phí lái xe tăng 0,41%; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,32%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,07%. Ở chiều ngược lại, giá xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,08%; dịch vụ trông giữ xe giảm 0,2%; chỉ số giá dầu diezen giảm 1,7%.

Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,55% (tác động làm tăng CPI chung 0,1 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá thuê nhà tăng 0,8% do sau Tết Nguyên đán lượng lớn người lao động các tỉnh trở lại thành phố tìm việc và sinh viên quay lại trường học dẫn đến nhu cầu thuê nhà tăng cao. Bên cạnh đó, giá bất động sản ở mức cao khiến nhiều chủ hộ tăng giá thuê để phù hợp với giá trị tài sản. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,09% do giá xi măng, giá thép tăng theo chi phí nguyên vật liệu đầu vào như than, giá phôi thép, điện, chi phí nhân công tăng. Giá điện sinh hoạt tăng 0,38%; giá nước sinh hoạt tăng 0,26%[1] do nhu cầu tiêu dùng tăng. Giá gas tăng 0,56% do từ ngày 01/02/2025, giá gas trong nước điều chỉnh tăng 3.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới tăng 10 USD/tấn ấn định ở mức 630 USD/tấn.

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,43% (tác động làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm), trong đó: Thực phẩm tăng 0,41%[2] (tác động làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm); ăn uống ngoài gia đình tăng 0,75%[3] (tác động làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm); riêng nhóm lương thực giảm 0,24%[4].

– Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 0,36% do một số địa phương triển khai áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế quy định phương pháp định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Bên cạnh đó, thời tiết miền Bắc chuyển sang nồm ẩm nên bệnh cảm cúm, đường hô hấp gia tăng, nhu cầu tiêu dùng các loại thuốc về giảm đau, hạ sốt, đường hô hấp, vitamin và khoáng chất của người dân tăng. Cụ thể, giá nhóm thuốc vitamin và khoáng chất tăng 0,21%; thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,17%; thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 0,1%; thuốc đường tiêu hóa tăng 0,04%.

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,18%, chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng: Nhóm đồ trang sức tăng 4,32%; dịch vụ về cưới hỏi tăng 0,31%; máy dùng điện cho chăm sóc cá nhân tăng 0,25%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 0,2%; đồng hồ đeo tay tăng 0,18%. Ở chiều ngược lại, dịch vụ cắt tóc, gội đầu giảm 0,28%; dịch vụ hành chính, pháp lý giảm 0,19%;

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,17%, tập trung chủ yếu ở những mặt hàng sau: Giá nhóm hoa, cây cảnh tăng 3,27%; du lịch trọn gói tăng 0,25% do nhu cầu du lịch của người dân và chi phí dịch vụ tăng; khách sạn, nhà khách tăng 0,21%; sách, báo, tạp chí các loại tăng 0,03%.

– Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12% do nhu cầu tiêu dùng trong các lễ hội đầu năm mới khiến giá rượu bia tăng 0,06%; thuốc hút tăng 0,22%; đồ uống không cồn tăng 0,07%.

– Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05% do chi phí nguyên nhiên vật liệu và vận chuyển tăng. Trong đó, giá đồ nhựa và cao su tăng 0,51%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,38%; đèn điện thắp sáng tăng 0,2%; dịch vụ trong gia đình tăng 0,15%; bếp đun không dùng điện, ga điện và đồ điện cùng tăng 0,14%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,07%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,04%.

Nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,02% do giá văn phòng phẩm tăng như bút viết các loại tăng 0,3%; văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,37%; sản phẩm từ giấy tăng 0,1%.

(2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:

– Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03%, trong đó, phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,75%; máy điện thoại di động thông thường giảm 0,12%; máy điện thoại cố định giảm 0,04%. Ở chiều ngược lại, giá sửa chữa điện thoại tăng 0,5%; giá máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng tăng 0,29%.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,11% do nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép giảm sau dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, giày dép giảm 0,24%; quần áo may sẵn giảm 0,11%. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá vải các loại tăng 0,07%; may mặc khác tăng 0,06%; mũ nón tăng 0,12%; dịch vụ may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,14%.

Lạm phát cơ bản[5] tháng 02/2025 tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 2,87% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 02 tháng đầu năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 2,97% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 3,27%) chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế là yếu tố tác động tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.

 Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 28/02/2025, bình quân giá vàng thế giới ở mức 2.898,22 USD/ounce, tăng 6,92% so với tháng 01/2025. Trong tháng 02/2025, các tuyên bố về chính sách thuế của Mỹ dẫn đến lo ngại về chiến tranh thương mại leo thang. Điều này đã thúc đẩy nhu cầu đầu tư vào vàng như một tài sản an toàn. Cùng với đó, các ngân hàng trung ương tiếp tục mua vàng để đa dạng hóa dự trữ và bảo vệ tài sản trước biến động tiền tệ. Trong nước, nhu cầu mua sắm vàng lấy may trong ngày Thần Tài sau Tết Nguyên đán tăng làm chỉ số giá vàng tháng 02/2025 tăng 4,72% so với tháng trước; tăng 32,57% so với cùng kỳ năm trước; tăng 5,8% so với tháng 12/2024; bình quân 02 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 30,84%.

 Tính đến ngày 28/02/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 107,31 điểm, giảm 1,16% so với tháng trước do lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm và ảnh hưởng từ các chính thuế quan và căng thẳng thương mại từ Mỹ. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 25.548 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2025 giảm 0,06% so với tháng trước; tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,15% so với tháng 12/2024; bình quân 02 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,75%.

[1] Chỉ số giá điện, nước sinh hoạt tháng 02/2025 phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác do được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng 01/2025.

[2] Chỉ số giá thịt lợn tăng 1,74%; chỉ số giá quả tươi, chế biến tăng 2,01%; chỉ số giá thủy sản tươi sống tăng 1,18%; thủy sản chế biến tăng 0,29%; chỉ số giá nước mắm, nước chấm tăng 0,35%; các loại đậu và hạt tăng 0,2%; đồ gia vị tăng 0,19%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,17%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,11%; sữa, bơ, pho mát tăng 0,09%. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 2,69%, trong đó giá cà chua giảm 11,94%; su hào giảm 8,26%; bắp cải giảm 7,06%; rau gia vị tươi, khô các loại giảm 2,77% do thời tiết thuận lợi khiến nguồn cung dồi dào, phong phú.

[3] Do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng trong các dịp lễ hội đầu năm, du xuân, họp mặt. Cùng với đó, giá nguyên liệu chế biến và chi phí nhân công cao sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán đã đẩy giá ăn uống ngoài gia đình tăng. Trong đó, giá ăn ngoài gia đình tăng 0,74%; uống ngoài gia đình tăng 0,99%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,62%.

[4] Giá gạo trong nước giảm do nhu cầu tiêu dùng gạo của người dân giảm sau Tết Nguyên đán, bên cạnh đó giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng khi Ấn Độ quay lại thị trường xuất khẩu gạo sau hai năm hạn chế, theo đó chỉ số giá nhóm gạo giảm 0,54% (Gạo tẻ thường giảm 0,7%; gạo tẻ ngon giảm 0,1%).

[5] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm