Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2025 tăng 0,16% so với tháng trước chủ yếu do giá thuê nhà, vật liệu bảo dưỡng nhà ở, điện sinh hoạt và ăn uống ngoài gia đình tăng. CPI tháng Năm tăng 1,53% so với tháng 12/2024; tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước.
Bình quân năm tháng đầu năm 2025, CPI tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,10%.
Trong mức tăng 0,16% của CPI tháng 5/2025 so với tháng trước, có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng; riêng chỉ số giá nhóm giao thông giảm.
(1) Mười nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:
– Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,73% (tác động làm tăng CPI chung 0,14 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,20%; giá thuê nhà tăng 0,64%; giá điện sinh hoạt tăng 0,84%; giá nước sinh hoạt tăng 1,0%[1]. Ngược lại, giá dầu hỏa giảm 3,09% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá trong tháng.
– Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,43%, tập trung chủ yếu ở một số mặt hàng: Nhóm đồ trang sức tăng 10,64% theo giá vàng trong nước và thế giới; hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,52%; túi xách, va ly, ví tăng 0,48%; sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức tăng 0,40%; dịch vụ về hỷ tăng 0,17%.
– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,28%. Trong đó, du lịch trọn gói tăng 1,09% (du lịch trong nước tăng 1,24%; du lịch ngoài nước tăng 0,67%) do nhu cầu du lịch tăng mạnh vào dịp nghỉ lễ và chuẩn bị cao điểm mùa hè; khách sạn tăng 1,36%; nhà khách tăng 0,50%; vé thuê chỗ chơi thể thao tăng 0,51%; thiết bị dụng cụ thể thao tăng 0,15%. Ở chiều ngược lại, giá cây, hoa cảnh giảm 1,61%; nhạc cụ giảm 0,02%.
– Nhóm bưu chính, viễn thông tăng 0,21%. Trong đó, giá máy điện thoại di động thông thường tăng 0,68%; phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng tăng 0,51%; máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng tăng 0,28%; sửa chữa điện thoại tăng 0,31% do giá tăng trở lại sau khi hết các chương trình khuyến mại; chi phí nhân công và giá linh kiện thay thế tăng.
– Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,19%. Trong đó, sửa chữa máy giặt tăng 0,64%; sữa chữa máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,40%; sửa chữa tủ lạnh tăng 0,37% do thời tiết bước vào đầu mùa nắng nóng, đồng thời chi phí linh kiện và dịch vụ bảo trì cũng tăng. Giá phích nước nóng tăng 0,48%; xà phòng tắm, sữa tắm và dầu gội đầu cùng tăng 0,45%; đồ dùng bằng nhựa tăng 0,39%; quạt điện tăng 0,36%.
– Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,14% do chi phí sản xuất và nhu cầu tiêu dùng tăng, trong đó nước giải khát có ga tăng 0,49%; nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,17%. Giá thuốc hút và bia các loại lần lượt tăng 0,18% và tăng 0,10% so với tháng trước.
– Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,05%. Trong đó, chỉ số giá dịch vụ giày dép tăng 0,40%; mũ, nón, áo mưa tăng 0,52%; dịch vụ may mặc tăng 0,33%; vải các loại tăng 0,12%; may mặc khác như găng tay, bít tất các loại tăng 0,04%.
– Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,03%, trong đó: Lương thực giảm 0,18%[2]; thực phẩm giảm 0,04%[3]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,28%[4].
– Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%, chủ yếu ở nhóm dụng cụ y tế như cặp hạ sốt, máy đo huyết áp, bông/băng y tế… tăng 0,25% do chi phí sản xuất và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tăng. Giá nhóm thuốc giảm đau, thuốc hạ sốt, chống viêm không steroid và thuốc điều trị gút và các bệnh xương tăng 0,18%; thuốc chống dị ứng và các trường hợp quá mẫn tăng 0,15%; nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,11%.
– Nhóm giáo dục tăng 0,01%. Trong đó, giá văn phòng phẩm tăng 0,12%, cụ thể: Bút viết các loại tăng 0,24%; văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,17%; sản phẩm từ giấy tăng 0,11%.
(2) Riêng nhóm giao thông giảm giảm 0,42%, chủ yếu do chỉ số giá dầu diezen giảm 2,33%; chỉ số giá xăng giảm 1,20% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước theo giá xăng dầu thế giới. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng tăng giá: Giá nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,36%; giá vận tải hành khách bằng đường thủy tăng 0,89%; vận tải hành khách bằng xe buýt tăng 0,22%; vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 0,16%; giá dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,24%; giá nhóm phụ tùng tăng 0,25%.
Lạm phát cơ bản[5] tháng 5/2025 tăng 0,33% so với tháng trước và tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm tháng đầu năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,10% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 3,21% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 28/5/2025, bình quân giá vàng thế giới ở mức 3.305,71 USD/ounce, tăng 2,66% so với tháng 4/2025. Bất ổn chính trị toàn cầu và lo ngại về chiến tranh thương mại leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc khiến nhà đầu tư tìm đến vàng như một tài sản trú ẩn an toàn. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 5/2025 tăng 10,47% so với tháng trước; tăng 45,95% so với cùng kỳ năm trước; tăng 35,25% so với tháng 12/2024; bình quân năm tháng đầu năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 35,37%.
Giá đô la Mỹ trong nước biến động ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 28/5/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 99,94 điểm, giảm 0,82% so với tháng trước do nhà đầu tư kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ giảm lãi suất sau khi kinh tế Mỹ cho thấy dấu hiệu yếu đi và lạm phát hạ nhiệt. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.147 VND/USD, tăng 0,68% so với tháng trước do nhu cầu ngoại tệ phục vụ thanh toán nhập khẩu tăng. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2025 tăng 2,69% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,59% so với tháng 12/2024; bình quân năm tháng đầu năm 2025 tăng 3,35%.
[1] Chỉ số giá điện, nước sinh hoạt tháng 5/2025 phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác do được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng 4/2025.
[2] Giá gạo giảm do nguồn cung dồi dào và nhu cầu tiêu dùng trong nước ổn định, đồng thời giá gạo xuất khẩu giảm cũng tác động đến giá gạo trong nước. Theo đó, chỉ số giá nhóm gạo giảm 0,28% (Gạo tẻ thường giảm 0,33%; gạo tẻ ngon giảm 0,19% và gạo nếp tăng 0,22%). Chỉ số giá một số mặt hàng lương thực khác giảm như: Giá khoai giảm 1,07%; ngô giảm 0,89%. Ngược lại, giá sắn tăng 0,43%; miến tăng 0,24%; bột ngô tăng 0,23%; mỳ sợi, mỳ, phở/cháo ăn liền và bánh mì cùng tăng 0,16%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,09%.
[3] Chỉ số giá thịt lợn giảm 0,32% và thịt gia cầm giảm 0,05%; chỉ số giá trứng các loại giảm 0,56%; chỉ số giá quả tươi, chế biến giảm 1,03%. Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng có chỉ số giá tăng: Chỉ số giá sữa, bơ, phô mai tăng 0,40%; đồ gia vị và các loại đậu, hạt cùng tăng 0,34%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,27%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,18%; nước mắm, nước chấm tăng 0,17%; chỉ số giá thủy sản tươi sống tăng 0,12%.
[4] Do nhu cầu tăng trong dịp lễ 30/4 – 1/5 kéo dài. Trong đó, giá uống ngoài gia đình tăng 0,47%; ăn ngoài gia đình tăng 0,27%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,22%.
[5] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)