Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng Sáu tăng 3,21% so với tháng 12/2025 và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước.

CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Bình quân sáu tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%.

CPI tháng Sáu giảm 0,39% so với tháng trước, trong đó có 04 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm và 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng.

– Bốn nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:

(i) Nhóm giao thông giảm mạnh 4,85% so với tháng trước (góp phần làm CPI chung giảm 0,48 điểm phần trăm). Trong đó, chỉ số giá xăng giảm 10,05%; chỉ số giá dầu diezen giảm 10,63% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước theo diễn biến giá thế giới. Cùng với đó, giá vận tải đường hàng không giảm 11,62%; vận tải hành khách bằng đường thủy giảm 0,21%; vận tải hàng khách bằng đường bộ giảm 0,08%. Ngược lại, chỉ số giá một số nhóm hàng tăng so với tháng trước: Phụ tùng phương tiện giao thông tăng 0,37% do chi phí nhập khẩu linh kiện tăng; bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,31%.

(ii) Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,09% so với tháng trước do nguồn cung hàng hóa dồi dào, nhiều chương trình khuyến mại được triển khai. Trong đó, chỉ số giá giày dép giảm 0,15%; quần áo may sẵn giảm 0,10%; may mặc khác (găng tay, cà vạt và bít tất) giảm 0,07%. Ở chiều ngược lại, vải các loại tăng 0,45%; dịch vụ may mặc tăng 0,50%; dịch vụ giày dép tăng 0,74%.

(iii) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07% so với tháng trước (góp phần làm CPI chung giảm 0,02 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực giảm 0,78%[1]; thực phẩm giảm 0,05%[2]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,20%[3].

(vi) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06%, chủ yếu do giá đồ trang sức giảm 8,01% theo diễn biến giảm của giá vàng trong nước.

– Bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

(i) Nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,01%, chủ yếu do một số cơ sở giáo dục và trung tâm đào tạo điều chỉnh tăng học phí dạy thêm.

(ii) Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% do chi phí nhập khẩu nguyên liệu dược tăng khi tỷ giá tăng. Trong đó, nhóm thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,16%; nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt chống viêm không steroid, thuốc điều trị gút và các bệnh xương tăng 0,15%; nhóm thuốc chống dị ứng và nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp cùng tăng 0,09%.

(iii) Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,04%. Trong đó, giá ti vi tăng 0,27%; máy vi tính, phụ kiện và dịch vụ sửa chữa điện thoại cùng tăng 0,21%; máy điện thoại di động thông thường tăng 0,14%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,11%; dịch vụ truyền hình và internet tăng 0,10%. Ngược lại, giá phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,43%; máy điện thoại cố định giảm 0,24%.

(iv) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,13% do chi phí sản xuất và nhu cầu tiêu dùng tăng trong mùa nắng nóng. Trong đó, giá nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,46%; nước quả ép tăng 0,45%; nước khoáng tăng 0,14%; thuốc hút tăng 0,23%; rượu các loại tăng 0,11%; bia các loại tăng 0,09%.

(v) Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17% do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng. Trong đó, giá quạt điện tăng 0,32%; gương, đồng hồ treo tường, để bàn tăng 0,31%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,30%; hàng dệt trong nhà tăng 0,28%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,25%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,24%; đèn điện thắp sáng tăng 0,23%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,21%. Ở chiều ngược lại, giá bàn là điện giảm 0,49%; bếp gas giảm 0,34%; ấm, phích nước điện giảm 0,21%.

(vi) Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,46% (tác động làm tăng CPI chung 0,10 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,10% do giá gạch, cát, đá tăng khi nguồn cung hạn chế, chi phí sản xuất, vận chuyển tăng; giá thuê nhà tăng 0,11% do chi phí quản lý, bảo trì, sửa chữa tăng khiến nhiều chủ nhà điều chỉnh giá thuê; giá dịch vụ vệ sinh môi trường tăng 0,11%; giá điện sinh hoạt tăng 2,0%, giá nước sinh hoạt tăng 0,56%[4] do nhu cầu sử dụng điện, nước tăng khi thời tiết nắng nóng. Ở chiều ngược lại, giá gas đun tiếp tục giảm 2,43% sau khi tăng mạnh vào tháng 4/2026; giá dầu hỏa giảm 17,72% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá trong tháng.

(vii) Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,66%. Trong đó, nhóm du lịch trọn gói tăng 1,10% (du lịch trong nước tăng 1,15%; du lịch ngoài nước tăng 0,23%) do nhu cầu du lịch hè tăng cùng với chi phí tổ chức tour tăng, đặc biệt là chi phí di chuyển, lưu trú và dịch vụ du lịch; khách sạn, nhà khách tăng 1,15%; dịch vụ thể thao tăng 0,46%; đồ chơi trẻ em tăng 0,25%; dịch vụ liên quan đến vật nuôi tăng 0,14%.

CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá tất cả các nhóm tiêu dùng chính đều tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,04%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,77%; giao thông tăng với 9,57%; giáo dục tăng 3,38%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,98%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,17%.

CPI bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 4,38% so với cùng kỳ năm 2025. CPI sáu tháng đầu năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

– Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,79%, tác động làm CPI chung tăng 1,72 điểm phần trăm. Trong đó: Chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng 4,85% chủ yếu do nguồn cung hạn chế trong dịp Lễ, Tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao; thịt gia cầm tăng 4,51%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,85% do chi phí nguyên liệu và dịch vụ tăng.

– Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,72%, tác động làm CPI chung tăng 1,53 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá nhà ở thuê tăng 6,32% do chi phí duy trì và vận hành tăng; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 14,12% do giá vật liệu xây dựng và nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở tăng; giá điện sinh hoạt tăng 5,54% do nhu cầu sử dụng điện tăng.

– Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 5,23%, làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 8,90%[5].

– Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 3,30%, làm CPI chung tăng 0,20 điểm phần trăm, do một số trường dân lập, tư thục, dạy nghề đã điều chỉnh học phí trong năm học 2025-2026.

– Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,63%, làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm.

– Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,40%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,96%, tác động làm CPI chung tăng lần lượt là 0,08 và 0,07 điểm phần trăm.

– Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,52%, làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm.

Lạm phát cơ bản[6] tháng Sáu tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 4,50% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân sáu tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,38% của CPI bình quân chung, chủ yếu là do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Bình quân giá vàng thế giới tháng Sáu (tính đến ngày 25/6/2026) ở mức 4.284 USD/ounce, giảm 7,05% so với tháng Năm. Giá vàng thế giới giảm chủ yếu do đồng đô la Mỹ tăng giá, kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt và nhu cầu nắm giữ tài sản trú ẩn an toàn suy giảm.

Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Sáu giảm 8,46% so với tháng Năm; tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; giảm 2,72% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 58,12% so với cùng kỳ năm trước.

Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới. Chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế bình quân tháng Sáu (tính đến ngày 25/6/2026) đạt mức 100,05 điểm, tăng 1,42 điểm so với tháng Năm do thị trường kỳ vọng FED tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ, trong bối cảnh kinh tế Hoa Kỳ duy trì tăng trưởng và lãi suất ở mức cao, qua đó làm tăng nhu cầu nắm giữ đồng USD. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng Sáu tăng 0,11% so với tháng trước; tăng 0,57% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,17% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 1,75%.

[1] Chỉ số giá nhóm gạo giảm 1,06% (Gạo tẻ thường giảm 1,10%; gạo tẻ ngon giảm 0,80%; gạo nếp giảm 1,56%; gạo nứt tẻ giảm 0,41%). Giá gạo giảm do nguồn cung trong nước tăng sau khi thu hoạch vụ lúa đông xuân, vụ lúa lớn nhất trong năm. Chỉ số giá một số mặt hàng lương thực khác giảm như: Giá khoai giảm 2,39%; sắn giảm 0,31%; miến giảm 0,21%; bún, bánh phở, bánh đa giảm 0,11%. Ngược lại, giá bánh mì tăng 0,27%; bột mì tăng 0,25%; ngô tăng 0,18%; mỳ sợi, mỳ, phở/cháo ăn liền tăng 0,16%.

[2] Chỉ số giá thịt lợn giảm 0,61%; thịt gia cầm giảm 0,15%; thủy sản tươi sống giảm 0,60%; trứng các loại giảm 0,83%; quả tươi, chế biến giảm 1,44%, chủ yếu do nguồn cung dồi dào. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá đồ gia vị và nước mắm, nước chấm cùng tăng 0,29%; sữa, bơ, phô mai và chè, cà phê, ca cao cùng tăng 0,25%; đường mật và bánh, mứt, kẹo cùng tăng 0,15%; thịt chế biến tăng 0,11%; rau tươi, khô và chế biến tăng 2,66% (cà chua tăng 11,81%; bắp cải tăng 6,02%; su hào tăng 5,70%; đỗ quả tươi tăng 3,65%; khoai tây tăng 0,47%).

[3] Do nhu cầu tiêu dùng trong dịp hè và chi phí vận hành như giá thuê mặt bằng, giá điện, nước tăng. Trong đó, giá ăn và uống ngoài gia đình cùng tăng 0,21%; giá đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,14%.

[4] Chỉ số giá điện, nước sinh hoạt tháng Sáu phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác do được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng Năm.

[5] So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá nhóm nhiên liệu từ tháng Một đến tháng Sáu năm 2026 tăng, giảm lần lượt là: -9,62%; -8,38%; 21,6%; 21,47%; 25,12% và 8,97%.

[6] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm