- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2015 ước tính tăng 6,50% so với cùng kỳ năm 2014 (quý I tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,81%), trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,08%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,57%; khu vực dịch vụ tăng 6,17%. Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp đạt mức tăng cao nhất với 7,89%; ngành thủy sản tăng 2,11%; ngành nông nghiệp tăng 1,77%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,69%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao với 10,15%[1]; ngành khai khoáng tăng 8,15%. Ngành xây dựng 9 tháng tăng 9,00%.
Trong khu vực dịch vụ, ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa vật phẩm tiêu dùng tăng 8,4%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 3,83%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,7%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 2,9%.
Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 16,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,09%; khu vực dịch vụ chiếm 40,52%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,09%.
Xét về góc độ sử dụng GDP 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng tăng 9,07% so với cùng kỳ năm 2014; tích lũy tài sản tăng 8,08%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 3,43 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.
- Sản xuất nông nghiệp
Tính đến trung tuần tháng Chín, cả nước gieo cấy được 1721,2 nghìn ha lúa mùa, bằng 96,7% cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo cấy lúa mùa của hầu hết các địa phương giảm do ảnh hưởng của thời tiết. Nếu điều kiện thời tiết thuận lợi trong những tháng cuối năm và không bị ảnh hưởng của sâu bệnh thì năng suất lúa mùa cả nước năm nay ước tính đạt 49,3 tạ/ha, tăng 0,3-0,5 tạ/ha; sản lượng lúa mùa đạt 9,6 triệu tấn, giảm 71,2 nghìn tấn so với vụ mùa năm 2014.
Tính đến thời điểm 15/9/2015, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1736,1 nghìn ha lúa hè thu, bằng 96,5% cùng kỳ năm trước, chiếm 82,6% diện tích gieo trồng. Diện tích lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 2,1 triệu ha, giảm 7,5 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2014; năng suất đạt 54 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha; sản lượng đạt 11,3 triệu tấn, tăng 122 nghìn tấn. Ước tính diện tích gieo trồng lúa thu đông năm 2015 đạt 671,1 nghìn ha; năng suất tương đương vụ thu đông năm trước; sản lượng đạt gần 3,5 triệu tấn, tăng khoảng 248 nghìn tấn.
Sản lượng lúa cả năm 2015 ước tính đạt 45,1 triệu tấn, tăng 140 nghìn tấn so với năm 2014, trong đó lúa đông xuân đạt 20,7 triệu tấn, giảm 158,8 nghìn tấn; lúa thu đông và hè thu đạt 14,8 triệu tấn, tăng 370 nghìn tấn; lúa mùa đạt 9,6 triệu tấn, giảm 71,2 nghìn tấn.
Chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, không xảy ra dịch bệnh lớn. Tính đến giữa tháng Chín, đàn trâu cả nước giảm 1% so với cùng kỳ năm 2014; đàn bò tăng 2%-2,5%; đàn lợn tăng 2,5%-3%; đàn gia cầm tăng 3%-3,5%; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng giảm 1,9%; sản lượng thịt bò hơi tăng 2,4%; sản lượng thịt lợn hơi tăng 3,7%; sản lượng thịt gia cầm tăng 5,3%.
- Sản xuất lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước 9 tháng ước tính đạt 172 nghìn ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 141 triệu cây, tăng 0,6%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 5834 nghìn m3, tăng cao ở mức 11,8%.
Trong 9 tháng, cả nước có 1712 ha rừng bị thiệt hại, giảm 53,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1055 ha, giảm 65,5%; diện tích rừng bị phá là 657 ha, tăng 0,9%.
- Nuôi trồng và khai thác thủy sản
Sản lượng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 4846,6 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2584,2 nghìn tấn, tăng 1,6% (cá đạt 1877,3 nghìn tấn, tăng 2,3%; tôm đạt 450,6 nghìn tấn, giảm 2,3%); sản lượng thủy sản khai thác đạt 2262,4 nghìn tấn, tăng 4,3%.
Trong nuôi trồng thủy sản, tổng diện tích nuôi trồng 9 tháng ước tính đạt 1014,3 nghìn ha, giảm 0,4%. Diện tích nuôi cá tra 9 tháng ước tính đạt 11,2 nghìn ha, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 889 nghìn tấn, tăng 1,5%. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 9 tháng ước tính đạt 76,3 nghìn ha, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 228 nghìn tấn, giảm 4%. Diện tích nuôi tôm sú 9 tháng năm nay ước tính đạt 577,3 nghìn ha, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 189 nghìn tấn, giảm 1,6%.
- Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2015 tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước[2], trong đó, ngành khai khoáng tăng 8,2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,2%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,4%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,3%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 8 tháng năm nay tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2014. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2015 tăng 9,9% so với cùng thời điểm năm trước.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2015 tăng 7,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 10,6%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,8% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 8%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 0,8%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4,4%.
- Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[3]
Trong tháng Chín (từ 20/8 đến 20/9/2015), cả nước có 7042 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 44,5 nghìn tỷ đồng, bình quân vốn đăng ký một doanh nghiệp đạt 6,3 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 22,6%; số vốn đăng ký tăng 45,9%. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới tháng Chín là 125,9 nghìn người, giảm 3,0% so với tháng trước. Trong tháng, cả nước có 1515 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 11,5% so với tháng trước; có 9439 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, tăng 24,3%.
Tính chung 9 tháng năm nay, cả nước có 68347 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 420,9 nghìn tỷ đồng, tăng 28,5% về số doanh nghiệp và tăng 31,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 6,2 tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2014. Bên cạnh đó, có 608,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn trong 9 tháng qua. Như vậy, tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 9 tháng năm 2015 là 1029,9 nghìn tỷ đồng. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới 9 tháng là 999,3 nghìn người, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm 2014.
Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong 9 tháng là 12848 doanh nghiệp, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2014. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 9 tháng là 6962 doanh nghiệp, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm 2014. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong 9 tháng là 47604 doanh nghiệp, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước.
b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh từ các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho kết quả như sau:
- Có 36,6% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III khả quan hơn quý II; 19,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 43,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý IV so với quý III, có 46,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 14,4% số doanh nghiệp dự báo kém đi và 38,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.
- Về khối lượng sản xuất, có 40% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III năm nay tăng so với quý trước; 20,7% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 39,3% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 49,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 13,8% số doanh nghiệp dự báo giảm và 37,0% số doanh nghiệp dự báo ổn định.
– Về đơn đặt hàng quý III so với quý II, có 34,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng cao hơn; 19,8% doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 46,0% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quí IV so với quý III khả quan hơn với 43,6% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 12,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 43,7% số doanh nghiệp có đơn hàng ổn định.
– Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý III so với quý trước, có 28,5% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 19,8% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 51,7% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quí IV so với quý III, có 37,6% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 13,1% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 49,3% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.
– Về chi phí sản xuất, có 26,7% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm trong quí III tăng so với quí trước; 9,7% số doanh nghiệp khẳng định chi phí giảm và 63,6% số doanh nghiệp đánh giá chi phí ổn định. Xu hướng quý IV so với quí III, có 20,6% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng; 11,7% cho rằng chi phí giảm và 67,7% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.
– Về giá bán sản phẩm quý III so với quý trước, có 15% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 12,7% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 72,3% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý IV so với quý III, có 16,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 8,8% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.
– Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 21,7% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý III tăng so với quý trước; 30,9% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 47,4% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 16,2% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 33,5% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 50,3% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.
– Về tồn kho nguyên vật liệu quý III so với quý II, có 19,7% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,4% số doanh nghiệp cho là giảm và 51,9% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý IV so với quý III, có 14,9% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 30,7% dự báo lượng tồn kho giảm và 54,4% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên, vật liệu.
- Hoạt động dịch vụ
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước (loại trừ yếu tố giá tăng 9,1%, cao hơn mức tăng 7,3% của cùng kỳ năm 2014).
Vận tải hành khách 9 tháng ước tính tăng 7,5% về số vận chuyển và tăng 7,3% về luân chuyển so với cùng kỳ năm 2014. Vận tải hàng hóa 9 tháng ước tính tăng 5,8% về vận chuyển và tăng 2,8% về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước
Số khách quốc tế đến nước ta trong 9 tháng ước tính đạt 5689,5 nghìn lượt người, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ châu Á đạt 3842,1 nghìn lượt người, giảm 5,9%; khách đến từ châu Âu đạt 866,3 nghìn lượt người, giảm 3,7%; khách đến từ châu Mỹ đạt 446,3 nghìn lượt người, tăng 5%; khách đến từ châu Úc đạt 252,6 nghìn lượt người, giảm 7,1%.
- Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 909,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31,9% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 355,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% (vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 153,1 nghìn tỷ đồng, bằng 72,7% kế hoạch năm và tăng 4,1%); vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 345,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8,8%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 209 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1%.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2015 thu hút 1432 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11,04 tỷ USD, tăng 24,3% về số dự án và tăng 44,5% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung trong 9 tháng đạt 17,16 tỷ USD, tăng 53,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng năm nay ước tính đạt 9,7 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2014.
Trong 9 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký chiếm 66,3% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí chiếm 15,3%; ngành kinh doanh bất động sản chiếm 10,5%; các ngành còn lại chiếm 7,9%.
- Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2015 ước tính đạt 640,4 nghìn tỷ đồng, bằng 70,3% dự toán năm, trong đó thu nội địa 474,6 nghìn tỷ đồng, bằng 74,3%; thu từ dầu thô 49,6 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 53,3% dự toán; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 112,8 nghìn tỷ đồng, bằng 64,5%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2015 ước tính đạt 776,4 nghìn tỷ đồng, bằng 67,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 116,6 nghìn tỷ đồng, bằng 59,8% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 113,2 nghìn tỷ đồng, bằng 59,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính ước tính đạt 542,8 nghìn tỷ đồng, bằng 70,8%; chi trả nợ và viện trợ 110,4 nghìn tỷ đồng, bằng 73,6%.
- Xuất khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Tám đạt 14,5 tỷ USD thấp hơn 19 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Chín ước tính đạt 14,2 tỷ USD, giảm 1,9% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 120,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá[4], kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 9 tháng đạt 125,5 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 9 tháng, khu vực kinh tế trong nước ước tính đạt 35,5 tỷ USD, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 85,2 tỷ USD, tăng 15,8%[5]. Nếu trừ dầu thô thì khu vực này đạt 82,1 tỷ USD, tăng 21,1%.
Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, nhóm hàng khoáng sản và công nghiệp chế tạo ước tính chiếm 45,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 39,6%; nhóm hàng nông, lâm sản chiếm 10,6%; hàng thủy sản chiếm 3,9%.
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 9 tháng, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 24,9 tỷ USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm 2014; EU với 22,8 tỷ USD, tăng 12,4%; ASEAN đạt 13,8 tỷ USD, giảm 1,7%; Trung Quốc đạt 12,5 tỷ USD, tăng 12,5%; Nhật Bản đạt 10,5 tỷ USD, giảm 4,9%; Hàn Quốc đạt 6,3 tỷ USD, tăng 20,5%.
- Nhập khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng Tám đạt 14,1 tỷ USD, thấp hơn 466 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Chín ước tính đạt 14,3 tỷ USD, tăng 1,2% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 124,5 tỷ USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 51,3 tỷ USD, tăng 9,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 73,3 tỷ USD, tăng 20,7%. Nếu loại trừ yếu tố giá[6], kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 9 tháng ước tính đạt 130,4 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm trước.
Về cơ cấu hàng nhập khẩu, trong 9 tháng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 113,5 tỷ USD, chiếm 91,1% tổng kim ngạch; nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu đạt 61,8 tỷ USD, chiếm 49,6%; nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 11,1 tỷ USD, chiếm 8,9%.
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 9 tháng, Trung Quốc ước tính đạt 36,8 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước (nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 21,5%; điện thoại các loại tăng 18,8%; vải tăng 12,6%); Hàn Quốc 20,9 tỷ USD, tăng 32,4%; ASEAN đạt 17,6 tỷ USD, tăng 3,3%; Nhật Bản đạt 10,9 tỷ USD, tăng 19%; EU đạt 8,1 tỷ USD, tăng 23,3%; Hoa Kỳ đạt 6,1 tỷ USD, tăng 32,4%.
Nhập siêu tháng Chín ước tính 100 triệu USD. Tính chung 9 tháng, nhập siêu ở mức 3,9 tỷ USD[7], bằng 3,2% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu cao ở mức 15,8 tỷ USD (cùng kỳ năm 2014 là 4,1 tỷ USD); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục xuất siêu 11,9 tỷ USD (cùng kỳ năm trước là 3,7 tỷ USD). Riêng nhập siêu từ Trung Quốc 9 tháng là 24,3 tỷ USD, tăng mạnh ở mức 21,3% so với cùng kỳ năm 2014.
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2015 giảm 0,21% so với tháng trước. Trong đó, nhóm giao thông giảm mạnh với mức 3,17%. Các nhóm hàng hóa giảm ở mức dưới 1% là: Nhà ở và vật liệu xây dựng; hàng ăn, dịch vụ ăn uống; bưu chính viễn thông. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng nhẹ gồm: Giáo dục tăng 1,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,43%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,21%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2015 tăng 0,4% so với tháng 12/2014. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm nay tăng 0,74% so với bình quân cùng kỳ năm 2014.
Lạm phát cơ bản tháng 9/2015 tăng 0,06% so với tháng trước và tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2015 tăng 2,15% so với bình quân cùng kỳ năm 2014.
- Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá xuất, nhập khẩu
Chỉ số giá sản xuất 9 tháng năm nay so với cùng kỳ năm 2014 như sau: Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,45%; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp giảm 0,74%; chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 1,8%; chỉ số giá cước vận tải kho bãi giảm 2,89%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 1,34%.
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá 9 tháng năm 2015 giảm 3,86% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá 9 tháng năm 2015 giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2014. Tỷ giá thương mại hàng hóa[8] 9 tháng năm nay tăng 0,67% so với cùng kỳ năm trước.
- Lao động, việc làm
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/10/2015 ước tính là 54,32 triệu người, tăng 11,7 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm trên là 47,78 triệu người, tăng 9,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014.
Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong 9 tháng năm nay ước tính 52,72 triệu người, giảm 177,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 23,35 triệu người, giảm 1523,7 nghìn người, chiếm 44,3%; lao động công nghiệp và xây dựng là 11,85 triệu người, tăng 756,4 nghìn người, chiếm 22,5%; lao động dịch vụ là 17,52 triệu người, tăng 590 nghìn người, chiếm 33,2%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 9 tháng ước tính là 2,36%, trong đó khu vực thành thị là 3,42%; khu vực nông thôn là 1,86%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 – 24 tuổi 9 tháng ước tính là 6,74%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên trong 9 tháng là 1,25%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 9 tháng ước tính là 1,93%, trong đó khu vực thành thị là 0,92%; khu vực nông thôn là 2,4%.
Ước tính quý III/2015, tỷ lệ lao động khu vực phi hộ nông nghiệp có việc làm phi chính thức của cả nước chiếm 56,4% tổng số lao động có việc làm khu vực phi hộ nông nghiệp, trong đó khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 64,5%.
- Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Trong 9 tháng năm 2015, cả nước có 227,8 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 25% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 938,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 27,3%. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 ước tính khoảng 7,2%, giảm 1,2 điểm phần trăm so với năm 2014.
Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 9 tháng năm 2015 là 3443 tỷ đồng. Bên cạnh đó, có hơn 7,7 triệu bảo hiểm y tế được cấp phát miễn phí cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.
- Giáo dục, đào tạo
Theo kết quả Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam năm 2014 (MICS5), số trẻ em đi học mẫu giáo trước khi vào lớp 1 đạt tỷ lệ 96,8%; số trẻ em độ tuổi tiểu học (6-10 tuổi) đi học đúng tuổi đạt tỷ lệ 97,9%, số trẻ em độ tuổi tiểu học không đi học là 1,5%. Số trẻ em độ tuổi trung học cơ sở (11-14 tuổi) đi học đúng tuổi đạt tỷ lệ 90,4%; số trẻ em độ tuổi trung học cơ sở không đi học là 6,0%. Số học sinh hoàn thành cấp trung học cơ sở tiếp tục đi học trung học phổ thông đạt tỷ lệ 90%. Số trẻ em độ tuổi trung học phổ thông (15-17 tuổi) đi học đúng tuổi đạt tỷ lệ 70,7%; số trẻ em độ tuổi trung học phổ thông không đi học là 24,1%.
Theo báo cáo sơ bộ, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2014 – 2015 đạt 93,4%, giảm 5,3 điểm phần trăm so với năm học trước; tỷ lệ tốt nghiệp hệ bổ túc trung học đạt 70,1%, giảm 18,9 điểm phần trăm.
Tại thời điểm khai giảng năm học 2015-2016, cả nước có trên 4,5 triệu trẻ em đi học mầm non; 15,2 triệu học sinh phổ thông đến trường, bao gồm 7,6 triệu học sinh tiểu học; 5,2 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông.
- Tai nạn giao thông
Tính chung 9 tháng, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 16459 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 7534 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8925 vụ va chạm giao thông, làm 6518 người chết; 4302 người bị thương và 10627 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông 9 tháng năm nay giảm 12% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,1%; số vụ va chạm giao thông giảm 18,3%); số người chết giảm 3,6%; số người bị thương giảm 2,6% và số người bị thương nhẹ giảm 20,8%. Bình quân một ngày trong 9 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 60 vụ tai nạn giao thông, gồm 28 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 32 vụ va chạm giao thông, làm 24 người chết, 16 người bị thương và 39 người bị thương nhẹ.
[1] Mức tăng 9 tháng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số năm: Năm 2012: 8,74%; năm 2013: 6,58%; năm 2014: 7,09%.
[2] Quý I tăng 9,4%; quý II tăng 10,2%; quý III tăng 9,9%.
[3] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
[4] Chỉ số giá xuất khẩu 9 tháng năm 2015 so với 9 tháng năm 2014 giảm 3,86%.
[5] Trong 9 tháng, xuất khẩu hàng hóa của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp 10,5 điểm phần trăm vào mức tăng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, trong khi khu vực kinh tế trong nước làm giảm 0,9 điểm phần trăm.
[6] Chỉ số giá nhập khẩu 9 tháng năm 2015 so với 9 tháng năm 2014 giảm 4,5%.
[7] 9 tháng năm 2014 nhập siêu 411 triệu USD.
[8] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa/chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.