1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2015 ước tính tăng 6,28% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó quý I tăng 6,08%; quý II tăng 6,44%. Trong mức tăng 6,28% của toàn nền kinh tế:

– Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,36%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm;

– Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,09%, đóng góp 2,98 điểm phần trăm (Công nghiệp tăng 9,53%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao với 9,95%[1], đóng góp 1,57 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; ngành khai khoáng tăng cao ở mức 8,18%, cùng kỳ năm trước giảm 1,13%; ngành xây dựng tăng 6,60%, cao hơn mức tăng 6,11% của cùng kỳ năm 2014).

– Khu vực dịch vụ tăng 5,90%, đóng góp 2,22 điểm phần trăm (Bán buôn và bán lẻ tăng 8,35%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 2,90%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,85%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 2,72%.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 16,73%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,45%; khu vực dịch vụ chiếm 39,61%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,21%.

Xét về góc độ sử dụng GDP 6 tháng đầu năm, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,70% so với cùng kỳ năm 2014, đóng góp 7,74 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 6,85%, đóng góp 2,25 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 3,71 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

– Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay ước tính đạt 3112,2 nghìn ha, giảm 4,3 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân cả nước năm nay ước tính đạt 66,5 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2014; sản lượng đạt 20,7 triệu tấn, giảm 153,3 nghìn tấn.

– Trong 6 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 85 nghìn ha, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước; khai thác gỗ đạt 3470 nghìn m3, tăng 11,7%.

– Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 3071,5 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 1574,8 nghìn tấn, tăng 3,3%; sản lượng khai thác đạt 1496,7 nghìn tấn, tăng 4,4%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 9,3%; quý II tăng 10,2%), trong đó:

– Ngành khai khoáng tăng 8,2%, đóng góp 1,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung;

–  Ngành chế biến, chế tạo tăng 10%, đóng góp 7 điểm phần trăm;

– Ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm;

– Ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm[2].

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 5 tháng tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2014, cao hơn mức tăng 9% của cùng kỳ năm 2014. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/6/2015 tăng 11,8% so với cùng thời điểm năm trước, thấp hơn mức tăng 12,8% của cùng kỳ năm trước.

  1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

– So với tháng trước, số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Sáu tăng 19,6%; số vốn đăng ký tăng 10,9%; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp giảm 7,2%. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng tăng 53,6%; số vốn đăng ký tăng 10%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 1,4%; số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động tăng 19,9%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động tăng 29,8%.

– So với 6 tháng năm 2014, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 6 tháng đầu năm nay tăng 21,7% về số doanh nghiệp và tăng 22,3% về số vốn đăng ký; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới tăng 0,5%; số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới tăng 20,4%.

– So với 6 tháng năm 2014, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 6 tháng đầu năm nay giảm 0,9%; số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động giảm 5,8%; số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng 2,2%.

  1. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh từ 3389 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho kết quả như sau:

  • Có 40,5% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II khả quan hơn quý I; 20,1% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn và 39,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý III so với quý II, có 49,4% số doanh nghiệp cho rằng xu hướng sẽ tốt lên; 13,2% số doanh nghiệp dự báo kém đi và 37,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

– Về khối lượng sản xuất, có 44,3% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý II năm nay tăng so với quý trước; 19,1% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 36,6% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Xu hướng quý III so với quý II, có 52% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 11,1% số doanh nghiệp dự báo giảm và 36,9% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

– Về đơn đặt hàng quý II năm nay so với quý I, có 37% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng cao hơn; 19,2% doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 43,8% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quí III so với quí II khả quan hơn với 45,8% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 10,8% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 43,4% số doanh nghiệp có đơn hàng ổn định.

– Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý II so với quý trước, có 29,3% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 19,5% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 51,2% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quí III so với quý II, có 40,7% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 12,8% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 46,5% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

– Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 21,1% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý II tăng so với quý trước; 32,7% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 46,2% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý III so với quý II, có 16% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 33,4% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 50,6% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.

  1. Các hoạt động dịch vụ

– Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm nay tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2014, loại trừ yếu tố giá tăng 8,3%.

– Vận tải hành khách 6 tháng tăng 7,4% về vận chuyển và tăng 7% về luân chuyển so với cùng kỳ năm 2014. Vận tải hàng hóa 6 tháng tăng 5,7% về vận chuyển và tăng 1,7% về luân chuyển.

– Tính chung 6 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3804,6 nghìn lượt người, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng theo giá hiện hành ước tính tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31,1% GDP, trong đó vốn khu vực Nhà nước tăng 7,2% (Vốn từ ngân sách Nhà nước tăng 1,7%); vốn khu vực ngoài Nhà nước tăng 11,4%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 9,9%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2015 thu hút 757 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 3839,2 triệu USD, tăng 15,4% về số dự án và giảm 21% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 5493,4 triệu USD, giảm 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 6,3 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2014.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2015 ước tính đạt 406,2 nghìn tỷ đồng, bằng 44,6% dự toán năm, trong đó thu nội địa 298,8 nghìn tỷ đồng, bằng 46,8%; thu từ dầu thô 32,6 nghìn tỷ đồng, bằng 35%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 73,4 nghìn tỷ đồng, bằng 41,9%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 91,2 nghìn tỷ đồng, bằng 41,3% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 61,8 nghìn tỷ đồng, bằng 43,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 58 nghìn tỷ đồng, bằng 48,5%; thuế thu nhập cá nhân 27,6 nghìn tỷ đồng, bằng 53,8%; thuế bảo vệ môi trường 6,6 nghìn tỷ đồng, bằng 51%; thu tiền sử dụng đất 24,4 nghìn tỷ đồng, bằng 62,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2015 ước tính đạt 501,2 nghìn tỷ đồng, bằng 43,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển là 80,8 nghìn tỷ đồng, bằng 41,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 78,4 nghìn tỷ đồng, bằng 41,2%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể là 345,3 nghìn tỷ đồng, bằng 45%; chi trả nợ và viện trợ 71 nghìn tỷ đồng, bằng 47,4%.

  1. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Năm đạt 13,7 tỷ USD cao hơn 199 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Sáu ước tính đạt 14,3 tỷ USD, tăng 4,4% so với tháng trước, trong đó khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10,1 tỷ USD, tăng 4,2%; khu vực kinh tế trong nước đạt 4,2 tỷ USD, tăng 4,8%.

Tính chung 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 77,7 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng ước tính đạt 80,7 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ. Trong tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng, khu vực kinh tế trong nước đạt 22,8 tỷ USD, giảm 2,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 54,9 tỷ USD, tăng 15,3%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay, Hoa Kỳ tiếp tục dẫn đầu với 15,7 tỷ USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2014; tiếp đến là EU đạt 14,8 tỷ USD, tăng 11,6%; ASEAN đạt 9,3 tỷ USD, giảm 0,8%; Trung Quốc đạt 7,7 tỷ USD, tăng 3,6%; Nhật Bản đạt 6,7 tỷ USD, giảm 6,7%; Hàn Quốc đạt 3,7 tỷ USD, tăng 22,3%.

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 6 tháng đầu năm, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính chiếm 45,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, tăng 2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2014. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tỷ trọng tăng từ 40,2% trong 6 tháng đầu năm 2014 lên 40,5% trong 6 tháng đầu năm nay. Nhóm hàng nông sản, lâm sản tỷ trọng giảm từ 11,2% xuống 9,9%. Nhóm hàng thủy sản tỷ trọng giảm từ 5% xuống 3,9%.

  1. Nhập khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng Năm đạt 14,9 tỷ USD, cao hơn 538 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Sáu ước tính đạt 15 tỷ USD, tăng 0,4% so với tháng trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước tính đạt 8,8 tỷ USD, tăng 0,2%; khu vực kinh tế trong nước đạt 6,2 tỷ USD, tăng 0,7%. Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 81,5 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 32,7 tỷ USD, tăng 7,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 48,8 tỷ USD, tăng 25,5%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước tính đạt 84,6 tỷ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm, nhập khẩu từ Trung Quốc duy trì ở mức cao nhất với 24,4 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm 2014; Hàn Quốc đạt 13,8 tỷ USD, tăng 31,2%; ASEAN đạt 12 tỷ USD, tăng 6%; Nhật Bản đạt 7,3 tỷ USD, tăng 27,7%; EU đạt 4,5 tỷ USD, tăng 5,8%; Hoa Kỳ đạt 3,8 tỷ USD, tăng 19,8%.

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 6 tháng đầu năm, nhóm hàng máy móc thiết bị và phụ tùng chiếm 41,1%, giảm 3,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2014. Nhóm nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 49,9%, tăng 4,3 điểm phần trăm. Nhóm hàng tiêu dùng chiếm 9%, giảm 0,4 điểm phần trăm.

Nhập siêu hàng hóa tháng Năm ở mức 1,2 tỷ USD, cao hơn 300 triệu USD so với số ước tính. Nhập siêu 6 tháng đầu năm ước tính 3,7 tỷ USD, bằng 4,8% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Nhập siêu của khu vực đầu tư trong nước lên đến 9,8 tỷ USD, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục xuất siêu với 6,1 tỷ USD.

  1. Chỉ số giá

– Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2015 tăng 0,35% so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông tăng cao nhất với mức 3,54%. Các yếu tố tác động đến CPI tháng 6: Ảnh hưởng từ giá xăng được điều chỉnh tăng tác động đến CPI chung tăng khoảng 0,3%; nhu cầu sử dụng điện tăng cao tác động đến CPI chung khoảng 0,04%; giá dịch vụ y tế tại thành phố Hồ Chí Minh được điều chỉnh tăng tác động đến CPI chung khoảng 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2015 tăng 0,55% so với tháng 12/2014 và tăng 1% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mỗi tháng trong 6 tháng đầu năm nay, CPI tăng 0,1%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 0,86% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

– Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý II năm nay giảm 1,09% so với quý trước và giảm 3,61% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý II giảm 2,09% so với quý trước và giảm 4,66%  so với cùng kỳ năm trước.

  1. Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/7/2015 ước tính là 53,86 triệu người, tăng 147 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm trên là 47,79 triệu người, không biến động nhiều so với cùng thời điểm năm trước. Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong 6 tháng đầu năm nay ước tính 52,55 triệu người. Lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 45,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 21,8%; khu vực dịch vụ chiếm 33,1%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm nay ước tính là 2,44%, trong đó khu vực thành thị là 3,35%; khu vực nông thôn là 2,00%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15 – 24 tuổi) 6 tháng đầu năm ước tính là 6,71%, trong đó khu vực thành thị là 11,04%; khu vực nông thôn là 5,15%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên trong 6 tháng đầu năm là 1,38%, trong đó khu vực thành thị là 1,89%; khu vực nông thôn là 1,13%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm 2015 ước tính là 2,52%, trong đó khu vực thành thị là 1,29%; khu vực nông thôn là 3,11%.

[1] Mức tăng 6 tháng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số năm: Năm 2012: 8,96%; năm 2013: 5,61%; năm 2014: 6,61%.

[2] Cùng kỳ năm trước ngành khai khoáng giảm 1,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng tăng 7,9%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,4%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,1%.