- TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2014 ước tính tăng 4,96% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,37%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,69%; khu vực dịch vụ tăng 5,95%.
Trong khu vực dịch vụ, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2013 là: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,61%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,58%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,91%. Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng khá với 7,3%; ngành xây dựng tăng 3,4%. Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp tăng 1,91%; thủy sản tăng 3,58%; lâm nghiệp tăng 4,64%.
Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,88%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,32%; khu vực dịch vụ chiếm 46,8%. Xét về góc độ sử dụng GDP của quý I năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,06% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 4,92%; tích lũy tài sản tăng 3,24%.
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm 2014 theo giá so sánh 2010 ước tính tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp tăng 2,01%; lâm nghiệp tăng 4,8%; thủy sản tăng 3,71%.
- Nông nghiệp
Tính đến ngày 15 tháng Ba, cả nước đã gieo cấy được 3062,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1112,7 nghìn ha, bằng 100,1%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1949,7 nghìn ha, bằng 98,4%. Tính đến trung tuần tháng Ba, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 725,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 64,6% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt trên 702 nghìn ha, chiếm 45% diện tích xuống giống và bằng 64,4% cùng kỳ năm 2013. Ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 69,2 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ đông xuân 2013, sản lượng đạt 10,8 triệu tấn, tăng 126 nghìn tấn.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong ba tháng đầu năm chịu ảnh hưởng của thời tiết rét đậm, rét hại. Ước tính đàn trâu cả nước 3 tháng đầu năm giảm khoảng 1,5% – 2% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò giảm khoảng 1% – 1,5%; sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng giảm 1% – 1,5%. Đàn lợn ước tính tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước do dịch lợn tai xanh được khống chế và giá thịt lợn có dấu hiệu tăng trở lại. Ước tính sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 3 tháng tăng 1% – 1,2% so với cùng kỳ năm 2013. Dịch cúm gia cầm bùng phát làm ảnh hưởng đến kết quả chăn nuôi gia cầm tại nhiều địa phương. Từ đầu năm, cả nước có 32 tỉnh, thành phố xuất hiện dịch cúm gia cầm với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết là hơn 140 nghìn con, tiêu hủy trên 160 nghìn con. Ước tính tổng số gia cầm ba tháng đầu năm giảm khoảng 1% so với cùng kỳ năm 2013.
- Lâm nghiệp
Tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng ước tính đạt 11,5 nghìn ha, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 64,2 triệu cây, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2013. Sản lượng gỗ khai thác đạt 1190 nghìn m3, tăng 5,2%; sản lượng củi khai thác đạt 7,6 triệu ste, tăng 2,7%.
Tính đến trung tuần tháng Ba, diện tích rừng bị thiệt hại ước tính 600 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 508 ha, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị phá là 92 ha tăng 64,8%. Một số tỉnh có nhiều diện tích rừng bị cháy là: Lạng Sơn 67 ha; Yên Bái 64 ha; Bình Thuận 48 ha; Sơn La 44 ha.
- Thủy sản
Tổng sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1185,2 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 870,8 nghìn tấn, tăng 1,6%; tôm đạt 118,2 nghìn tấn, tăng 8,6%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 3 tháng ước tính đạt 497,9 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá đạt 346,8 nghìn tấn, giảm 4%; tôm đạt 87,5 nghìn tấn, tăng 10,1%. Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng ước tính đạt 687,3 nghìn tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 524 nghìn tấn, tăng 5,6%; tôm đạt 30,7 nghìn tấn, tăng 4,8%. Khai thác thủy sản biển 3 tháng đạt 648,9 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2013.
- Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Ba ước tính tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,2%, cao hơn mức tăng 5% của cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,3%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 9,2%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 5,7%; riêng ngành khai khoáng giảm 2,9%.
Trong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất 3 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Dệt tăng 20,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,4%; sản xuất trang phục tăng 14%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 12,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 12,3%. Một số ngành có mức tăng khá là: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 9,8%; sản xuất đồ uống tăng 9,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 8,7%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 3,9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3,4%; sản xuất thuốc lá giảm 0,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 1,7%; sản xuất kim loại giảm 2,4%; khai thác than cứng và than non giảm 8,9%.
Trong các sản phẩm công nghiệp, một số sản phẩm có chỉ số sản xuất 3 tháng tăng cao so với cùng kỳ là: Giày, dép da tăng 32,8%; sữa tắm, sữa rửa mặt tăng 28,2%; thép cán tăng 19%; vải dệt từ sợi thiên nhiên tăng 17,8%; ti vi tăng 17,6%; quần áo thường tăng 13,8%; thủy hải sản chế biến tăng 13,5%; sữa bột tăng 11,8%; phân ure tăng 10,9%; điện sản xuất tăng 9,2%… Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm là: Xi măng tăng 0,7%; gạch xây bằng đất nung tăng 0,9%; sữa tươi tăng 1,1%; vải dệt từ sợi tổng hợp giảm 3%; phân NPK giảm 5,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 6,1%; than sạch giảm 9%; điện thoại di động giảm 10,9%; sắt, thép thô giảm 22,5%…
Chỉ số sản xuất công nghiệp 3 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm 2013 của một số địa phương như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,6%; Đồng Nai tăng 7,1%; Bình Dương tăng 6,5%; Hà Nội tăng 3,6%; Hải Phòng tăng 11,3%; Bắc Ninh tăng 4,8%; Vĩnh Phúc tăng 0,2%; Cần Thơ tăng 5%; Hải Dương tăng 6,4%; Đà Nẵng tăng 10,5%; Bà Rịa -Vũng Tàu giảm 1,7%; Quảng Ninh giảm 3,5%; Quảng Nam tăng 8,9%; Quảng Ngãi giảm 1,9%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2014 giảm 0,9% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành này tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 2 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2013 là: Sản xuất thiết bị điện tăng 29,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,6%; sản xuất trang phục tăng 13,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá là: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 10,5%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,5%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 8%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thuốc lá tăng 7,6%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 7,4%; sản xuất đồ uống tăng 5,9%; dệt tăng 4,8%; sản xuất kim loại giảm 9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 14,7%.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/3/2014 tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm 2013, trong đó những ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm là: Sản xuất trang phục tăng 9,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 5,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 3,3%; sản xuất đồ uống tăng 3%; dệt tăng 2,9%; sản xuất xe có động cơ giảm 28,7%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung là: Sản xuất kim loại tăng 126,8%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 61,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 59,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 54,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 53,6%.
- Hoạt động dịch vụ
- Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Ba ước tính tăng 2% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung ba tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, loại trừ yếu tố giá tăng 5,1%. Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ba tháng, kinh doanh thương nghiệp tăng 8,1%; khách sạn nhà hàng tăng 12,1%; dịch vụ tăng 23,5%; du lịch tăng 20,3%.
- Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách ba tháng đầu năm ước tính tăng 5,3% về vận chuyển khách và tăng 5,9% về luân chuyển khách so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó mức tăng/giảm tương ứng về vận chuyển và luân chuyển của các ngành đường như sau : Vận tải hành khách đường bộ ba tháng ước tính tăng 5,5% và tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không tăng 16% và tăng 12,4%; đường sắt giảm 1,8% và giảm 5,1%; đường biển tăng 2,4% và tăng 1,9%.
Vận tải hàng hóa ba tháng đầu năm ước tính tăng 4,6% về vận chuyển hàng hóa và tăng 1,3% về luân chuyển hàng hóa so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước tăng 4,8% và tăng 3,4%; vận tải ngoài nước giảm 3% và giảm 0,2%. Vận tải hàng hoá đường bộ tăng 5,7% về vận chuyển và tăng 4,5% về luân chuyển; đường sông tăng 2,8% và tăng 2,4%; đường biển giảm 3,6% và tăng 0,1%; đường sắt giảm 6,1% và giảm 6%.
- c. Khách quốc tế đến Việt Nam
Trong ba tháng đầu năm nay, số khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 2,3 triệu lượt người, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số, khách đến với mục đích du lịch đạt 1403,8 nghìn lượt người, tăng 27,1%; đến vì công việc đạt 391,5 nghìn lượt người, tăng 28,8%, thăm thân nhân đạt 403,8 nghìn lượt người, tăng 35,6%.
Số khách quốc tế đến nước ta trong ba tháng đầu năm từ hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Trung Quốc tăng 48,9%; Hàn Quốc tăng 6,3%; Nhật Bản tăng 9,2%; Hoa Kỳ tăng 9,7%; Nga tăng 55,2%; Đài Loan tăng 13,2%; Cam-pu-chia tăng 33,8%; Ôx-trây-li-a tăng 9,2%; Ma-lai-xi-a tăng 15,2%; Thái Lan tăng 9,1%; Pháp tăng 12,9%.
- ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
- Xây dựng, đầu tư phát triển
- Hoạt động xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng quý I theo giá hiện hành ước tính đạt 155,5 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước chiếm 10,5%; khu vực ngoài Nhà nước chiếm 82,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 7,4%. Giá trị sản xuất xây dựng quý I theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 125,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Khu vực Nhà nước tăng 1,4%; khu vực ngoài Nhà nước giảm 1,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 162,5%.
- Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2014 theo giá hiện hành ước tính đạt 214,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước và bằng 28,4% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước chiếm 36,5% tổng vốn và tăng 0,4%; khu vực ngoài Nhà nước chiếm 36,1% và tăng 6,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 27,4% và tăng 4,4%.
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I ước tính đạt 34,4 nghìn tỷ đồng, bằng 19% kế hoạch năm và giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2013, gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 6701 tỷ đồng, bằng 17% kế hoạch năm và giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 27677 tỷ đồng, bằng 19,6% kế hoạch năm và giảm 2%.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2014 thu hút 252 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2046,7 triệu USD, giảm 6% về số dự án và giảm 38,6% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 82 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 1287,3 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 3334 triệu USD, giảm 49,6% so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I/2014 ước tính đạt 2850 triệu USD, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2013.
Trong quý I, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 2332 triệu USD, chiếm 69,9% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 288,3 triệu USD, chiếm 8,6%; các ngành còn lại đạt 713,7 triệu USD, chiếm 21,5%.
Cả nước có 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong quý I, trong đó thành phố Hồ Chí Minh có số vốn đăng ký lớn nhất với 687,7 triệu USD, chiếm 33,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hải Dương 248,1 triệu USD, chiếm 12,1%; Bình Dương 223,5 triệu USD, chiếm 10,9%; Đồng Nai 110,6 triệu USD, chiếm 5,4%; Bắc Giang 108,1 triệu USD, chiếm 5,3%.
Trong số 28 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 3 tháng đầu năm, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 534,2 triệu USD, chiếm 26,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) đạt 264,5 triệu USD, chiếm 12,9%; Quần đảo Virgin thuộc Anh đạt 238,7 triệu USD, chiếm 11,7%; Xin-ga-po đạt 230,7 triệu USD, chiếm 11,3%; Ca-na-đa đạt 226 triệu USD, chiếm 11%; Nhật Bản đạt 133,7 triệu USD, chiếm 6,5%…
- Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2014 ước tính đạt 157,1 nghìn tỷ đồng, bằng 20,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 109,9 nghìn tỷ đồng, bằng 20,4%; thu từ dầu thô 20,5 nghìn tỷ đồng, bằng 24,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 26,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,9%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 34,8 nghìn tỷ đồng, bằng 18,9% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 25,6 nghìn tỷ đồng, bằng 22,9%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 24,2 nghìn tỷ đồng, bằng 22,6%; thuế thu nhập cá nhân 10,4 nghìn tỷ đồng, bằng 21,8%; thuế bảo vệ môi trường 2,3 nghìn tỷ đồng, bằng 18,5%; thu phí, lệ phí 2 nghìn tỷ đồng, bằng 19,6%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2014 ước tính đạt 184,6 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 28,8 nghìn tỷ đồng, bằng 17,7% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 28 nghìn tỷ đồng, bằng 17,7%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 132,1 nghìn tỷ đồng, bằng 18,8%; chi trả nợ và viện trợ 23,7 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7%.
- Xuất, nhập khẩu hàng hóa
- Xuất khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba ước tính đạt 12 tỷ USD, tăng 25,8% so với tháng trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 33,3 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 13,2%), bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 10,9 tỷ USD, tăng 9,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 22,4 tỷ USD, tăng 16,3%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong quý I đạt mức kim ngạch tăng cao là: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 5,4 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,6 tỷ USD, tăng 24,8%; giày dép đạt 2,2 tỷ USD tăng 25,9%; thủy sản đạt 1,6 tỷ USD, tăng 35,3%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,4 tỷ USD, tăng 23,3%; túi xách, ví, va li, mũ, ô dù đạt 534 triệu USD, tăng 38,7%; hạt tiêu đạt 331 triệu USD, tăng 31,7%; hạt điều đạt 318 triệu USD, tăng 21,5%. Tuy nhiên, một số mặt hàng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ là: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 2,2 tỷ USD, giảm 5,5%; dầu thô đạt 1,7 tỷ USD, giảm 8,3%; gạo đạt 626 triệu USD, giảm 8,9%; sắn và sản phẩm sắn đạt 367 triệu USD, giảm 14,8%; cao su đạt 306 triệu USD, giảm 39,2%; than đá đạt 217 triệu USD, giảm 25,4%.
Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính chiếm 45% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, giảm so với tỷ trọng 46,2% của cùng kỳ năm 2013. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 37,5%, tăng so với tỷ trọng 36% của cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng nông, lâm sản chiếm 12,6%, giảm so với tỷ trọng 13,7%. Hàng thủy sản chiếm 4,9%, tăng so với tỷ trọng 4,1% cùng kỳ năm 2013.
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu trong quý I năm nay, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất với kim ngạch ước đạt 5,9 tỷ USD, tăng 22,9% so với cùng kỳ 2013. Tiếp theo là thị trường EU đạt 5,9 tỷ USD, tăng 7,5%; ASEAN đạt 4,7 tỷ USD, tăng 6,4%; Trung Quốc 3,8 tỷ USD, tăng 30,2%; Nhật Bản 3,6 tỷ USD, tăng 17,8%; Hàn Quốc 1,5 tỷ USD, giảm 8,9%.
- Nhập khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba ước tính đạt 12,3 tỷ USD, tăng 21,9% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 32,3 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 15,5%), bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 13,8 tỷ USD, tăng 9,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,5 tỷ USD, tăng 14,6%.
Kim ngạch nhập khẩu quý I năm nay của một số mặt hàng thuộc nhóm hàng phục vụ gia công lắp ráp hàng xuất khẩu và nhóm hàng nguyên, nhiên liệu dùng cho sản xuất như sau: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 4,9 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 4,3 tỷ USD, tăng 4%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 2,1 tỷ USD, tăng 23,9%; xăng dầu đạt 2 tỷ USD, tăng 21,6%; vải đạt 1,8 tỷ USD, tăng 13,3%; chất dẻo đạt 1,4 tỷ USD, tăng 5,6%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 946 triệu USD, tăng 26,6%; kim loại thường đạt 769 triệu USD, tăng 14,3%; sản phẩm chất dẻo đạt 690 triệu USD, tăng 27,8%; sản phẩm hóa chất đạt 688 triệu USD, tăng 16,8%; ô tô đạt 628 triệu USD, tăng 31,1%, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 180 triệu USD, tăng 32,2%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong quý I giảm so với cùng kỳ năm 2013 là: Sắt thép đạt 1,5 tỷ USD, giảm 3,6%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu 639 triệu USD, giảm 9,8%; phân bón đạt 245 triệu USD, giảm 24,6%; xe máy đạt 101 triệu USD, giảm 21,8%.
Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 93,5% tổng kim ngạch nhập khẩu (cùng kỳ năm trước chiếm 93%), trong đó máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng chiếm 38,7% so với tỷ trọng 38,2% cùng kỳ năm 2013. Nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu chiếm 54,8%, tương đương tỷ trọng cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm 6,5% kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (cùng kỳ năm 2013 chiếm 7%).
Về thị trường nhập khẩu trong quý I, Trung Quốc tiếp tục đứng đầu với kim ngạch đạt 8,3 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2013. Tiếp đến là Hàn Quốc đạt 5,7 tỷ USD, tăng 21,5%; ASEAN đạt 5,1 tỷ USD, tăng 2,1%; Nhật Bản đạt 2,9 tỷ USD, tăng 12,1%; EU đạt 2,1 tỷ USD, tăng 0,8%; Hoa Kỳ đạt 1,5 tỷ USD, tăng 17,8%.
Hai tháng đầu năm xuất siêu 1,3 tỷ USD, tháng Ba nhập siêu 300 triệu USD nên tính chung 3 tháng đầu năm xuất siêu 1 tỷ USD, bằng 3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Trong tổng xuất siêu 3 tháng, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 3,9 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,9 tỷ USD.
- Chỉ số giá
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2014 giảm 0,44% so với tháng trước. Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm mạnh nhất với 0,96% (Lương thực giảm 0,13%; thực phẩm giảm 1,54%); nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,74%; nhóm giao thông và nhóm bưu chính viễn thông cùng giảm 0,03%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại tăng nhẹ, trong đó nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,05%; giáo dục tăng 0,03%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2014 tăng 0,8% so với tháng 12/2013. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 4,83% so với bình quân cùng kỳ năm 2013.
- Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2014 tăng 2,42% so với quý trước và tăng 5,14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 2,66% và tăng 3,96%; hàng lâm nghiệp tăng 1,32% và tăng 9,8%; hàng thủy sản tăng 1,77% và tăng 8,57%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý I năm 2014 tăng 0,76% so với quý trước và tăng 5,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 1,67% và tăng 16,72%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,24% và tăng 0,89%; điện và phân phối điện tăng 2,71% và tăng 13,77%; nước sạch, nước thải tăng 0,17% và tăng 4,28%.
Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất quý I năm nay tăng 0,94% so với quý trước và tăng 2,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá một số ngành là: Khai khoáng tăng 2,8% và tăng 6,87%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,91% và tăng 10,12%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 1,67% và tăng 4,92%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,13% và tăng 3,02%.
Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý I tăng 1,36% so với quý trước và tăng 2,56% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách tăng 1,97% và tăng 3,11%; giá cước vận tải hàng hóa tăng 0,74% và tăng 1,87%; giá cước dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 1,99% và tăng 3,72%. Chỉ số giá cước vận tải các ngành đường như sau: Giá cước ngành đường sắt quý I năm 2014 tăng 3,8% so với quý trước và tăng 5,24% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải đường bộ và xe buýt tăng 1,98% và tăng 3,75%; đường thủy tăng 1,03% và tăng 1,74%; đường hàng không không đổi; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 1,99% và tăng 3,72%.
- Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I năm nay tăng 0,54% so với quý trước và tăng 0,78% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I giảm 0,15% so với quý trước và giảm 2,68% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính theo tiền đồng Việt Nam, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý I năm nay tăng 0,54% so với quý trước và tăng 1,79% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa giảm 0,15% so với quý trước và giảm 1,71% so với cùng kỳ năm trước.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
- Lao động, việc làm
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý I/2014 ước tính 53,8 triệu người, tăng 0,8 triệu người so với cùng kỳ năm 2013 và tăng 0,5 triệu người so với năm 2013. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý I năm nay ước tính đạt 47,52 triệu người, tăng 0,25 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế quý I/2014 ước tính là 52,8 triệu người, tăng 0,6 triệu người so với năm 2013 và tăng 0,9 triệu người so với quý I/2013. Về cơ cấu, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 47,1%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với năm 2013; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,8%, giảm 0,4 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 32,1%, tăng 0,1 điểm phần trăm.
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo quý I/2014 ước tính đạt 18,3%, cao hơn mức 17,9% của năm 2013. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I năm nay là 2,18%, trong đó khu vực thành thị là 3,75%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi khu vực nông thôn quý I là 3,44%, tương đương mức cùng kỳ năm trước.
- Tình hình thiếu đói
Trong tháng 3/2014, cả nước có 41,7 nghìn hộ thiếu đói, giảm 9% so với tháng 3/2013, tương ứng với 182 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 6,2%. Tính chung ba tháng đầu năm, cả nước có 166,6 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 694 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 5,7%.
- Giáo dục
Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, tại thời điểm đầu năm học 2013-2014, cả nước có 13867 trường mẫu giáo, tăng 319 trường so với năm học trước; 15372 trường tiểu học, tăng 11 trường; 10460 trường trung học cơ sở, tăng 170 trường và 2403 trường trung học phổ thông, tăng 42 trường. Trong năm học này, cả nước có 198,2 nghìn giáo viên mẫu giáo, tăng 5,3% so với năm học 2012-2013. Số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 857,8 nghìn người, tăng 1,2% so với năm học trước, bao gồm: 382,2 nghìn giáo viên tiểu học, tăng 0,2%; 323 nghìn giáo viên trung học cơ sở, tăng 2,5% và 152,6 nghìn giáo viên trung học phổ thông, tăng 1,1%. Cũng trong năm học này, cả nước có 3,6 triệu trẻ em đi học mẫu giáo, xấp xỉ số học sinh năm học trước; 14,9 triệu học sinh phổ thông, tăng 1%, bao gồm: 7,4 triệu học sinh tiểu học, tăng 2,7%; 5 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 2,7% và 2,5 triệu học sinh trung học phổ thông, giảm 6,5%.
- Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Trong ba tháng đầu năm, cả nước có 5,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 80 trường hợp mắc bệnh viêm não virút; 35 trường hợp mắc thương hàn; 6 trường hợp mắc viêm màng não do não mô cầu (1 trường hợp tử vong); 9,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng và 2 trường hợp mắc, tử vong do cúm A(H5N1).
Trong tháng đã phát hiện thêm 385 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống của cả nước tính đến giữa tháng Ba năm 2014 là 216,9 nghìn người, trong đó 67,5 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS cả nước tính đến thời điểm trên là 69,8 nghìn trường hợp. Số vụ ngộ độc ba tháng đầu năm xảy ra trên địa bàn cả nước là 17 vụ, làm 288 người bị ngộ độc, trong đó 5 trường hợp tử vong.
- Tai nạn giao thông
Tính chung ba tháng đầu năm nay, cả nước đã xảy ra 2739 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên, làm 2427 người chết và 1762 người bị thương. Số vụ va chạm giao thông trong ba tháng là 3843 vụ, làm 4700 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm 2013, số vụ tai nạn giao thông giảm 2,9%, số vụ va chạm giao thông giảm 20%, số người chết giảm 5,9%, số người bị thương giảm 2,7% và số người bị thương nhẹ giảm 21,9%. Bình quân 01 ngày trong ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông và 43 vụ va chạm giao thông, làm 27 người chết, 20 người bị thương và 52 người bị thương nhẹ.
- Thiệt hại do thiên tai
Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai xảy ra trong ba tháng đầu năm làm 4 người mất tích; gần 840 ha hoa màu bị mất trắng; khoảng 180 ha hoa màu và hơn 1,6 nghìn ha cây công nghiệp bị hư hỏng; khoảng 2 nghìn gia súc các loại bị chết do rét. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong 3 tháng ước tính khoảng 73 tỷ đồng, trong đó Lào Cai thiệt hại 36 tỷ đồng; Sơn La 35 tỷ đồng.
- Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ
Trong 3 tháng đầu năm, cơ quan chức năng đã phát hiện 1346 vụ vi phạm quy định về vệ sinh môi trường tại 39 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương, trong đó 709 vụ đã bị xử lý với tổng số tiền phạt trên 19 tỷ đồng. Riêng tháng Ba đã phát hiện 770 vụ vi phạm, trong đó 320 vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt là 15 tỷ đồng. Tình hình cháy, nổ tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong tháng Ba, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 229 vụ cháy, nổ, làm 7 người chết; 10 người bị thương, ước tính thiệt hại trên 54 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước đã xảy ra 768 vụ cháy, nổ, làm 37 người chết; 77 người bị thương, ước tính thiệt hại trên 197 tỷ đồng.