Chỉ số giá tiêu dùng tháng 01/2021 tăng 0,06% so với tháng 12/2020 và giảm 0,97% so với tháng 01/2020. Nguyên nhân chính do tháng 01/2021 là tháng giáp Tết Nguyên đán Tân Sửu nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao. Giá lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình tăng và giá xăng dầu, giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới. Tuy nhiên, đây là mức tăng thấp nhất của tháng Một các năm trong giai đoạn 2017-2021[1].
Trong tháng Một, nhóm giao thông có mức tăng cao nhất, tăng 2,29% so với tháng trước (tác động làm CPI chung tăng 0,22%) chủ yếu do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 11/01/2021 và thời điểm 26/01/2021 làm chỉ số giá xăng, dầu tăng 6,07%. Bên cạnh đó, giá xe ô tô mới tăng 0,1%; xe máy tăng 0,15%; giá phụ tùng tăng 0,06%; giá dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,07% do nhu cầu mua sắm, sửa chữa cuối năm tăng.
Để chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên đán sắp tới nên chỉ số giá của một số nhóm hàng tăng so với tháng trước. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,64% chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng. Nhóm lương thực tăng 0,83% do giá gạo tăng 1,04% (tác động làm CPI chung tăng 0,03%). Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu do nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước Trung Quốc, ASEAN, châu Phi… tăng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Cùng với đó, nhu cầu tiêu dùng các loại gạo tẻ ngon và gạo nếp tăng khiến giá gạo tăng, trong đó: Gạo nếp tăng 0,69%; gạo tẻ ngon tăng 0,81%; gạo tẻ thường tăng 1,11%. Các mặt hàng lương thực chế biến khác cũng tăng nhẹ: Giá miến tăng 0,44%; giá bún khô, mỳ ăn liền, phở ăn liền tăng 0,11%-0,93%. Nhóm thực phẩm tăng 0,81%, chủ yếu do giá thịt lợn tăng 4,74%, trong đó khu vực thành thị tăng 4,08%; khu vực nông thôn tăng 5,19%. Mặc dù chăn nuôi lợn tiếp tục đà hồi phục khi tổng số lợn của cả nước tháng 01/2021 tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước nhưng do nhu cầu thịt lợn tăng để sản xuất giò chả, bánh chưng và các thực phẩm chế biến khác chuẩn bị đón Tết Nguyên đán nên giá thịt lợn hơi cả nước dao động trong khoảng 80.000 đồng/kg – 86.000 đồng/kg, tăng 3.000 đồng/kg – 6.000 đồng/kg so với tháng trước. Theo đó, giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn tăng: Giá thịt quay, giò chả tăng 1,91%; nội tạng động vật tăng 2,96%; mỡ ăn tăng 5,36% so với tháng trước. Ngoài ra, chỉ số giá của một số mặt hàng thực phẩm khác cũng tăng so với tháng trước, trong đó: Giá thịt gia cầm tươi sống tăng 0,97% do nhu cầu của người dân liên hoan, tất niên trong dịp cuối năm cùng với chuẩn bị Tết Nguyên đán; giá thủy, hải sản tươi sống tăng 0,94%. Giá một số loại trái cây tăng như chuối tăng 0,95%; táo tăng 1,17%; xoài tăng 4,28% do lượng cung ra thị trường giảm khi các hộ nông dân và trang trại chờ đến gần Tết Nguyên đán mới thu hoạch; giá bánh mứt, kẹo tăng 0,37%. Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,15%.
Bên cạnh đó, chỉ số giá của một số nhóm hàng tăng so với tháng trước như: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,44% do thời tiết tiếp tục rét đậm, rét hại tại các tỉnh phía Bắc và nhu cầu mua sắm dịp Tết tăng nên giá quần áo, giày dép tăng. Nhóm giáo dục tăng 0,33% do thành phố Đà Nẵng thu lại học phí giáo dục từ tháng 01/2021 sau khi thực hiện Nghị quyết số 309/NQ-HĐND ngày 8/7/2020 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc hỗ trợ học phí, trong đó chỉ số giá dịch vụ giáo dục tăng 0,38% (làm CPI chung tăng 0,02%). Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,32% do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết và làm quà biếu tặng, chúc Tết tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch cùng mức tăng 0,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%.
[1] Tốc độ tăng CPI tháng Một so với tháng 12 năm trước của các năm giai đoạn 2017-2021 lần lượt là: tăng 0,46%; tăng 0,51%; tăng 0,1%; tăng 1,23%; tăng 0,05%. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng Một so với cùng kỳ năm trước của các năm giai đoạn 2017-2021 lần lượt là: tăng 5,22%; tăng 2,65%; tăng 2,56%; tăng 6,43%; giảm 0,98%.