Những năm gần đây, chăn nuôi lợn liên tục gặp rủi ro, khó khăn vì giá cả và dịch bệnh. Từ cuối năm 2020 đến nay, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng trong khi giá lợn hơi xuất bán giảm khiến các hộ chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, nguy cơ thua lỗ cao.
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2021 tăng 2,29% so với quý trước và tăng 7,25% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, chỉ số giá thức ăn chăn nuôi quý II/2021 tăng 3,1% so với quý trước và tăng 5,95% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,83% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, sản phẩm chăn nuôi 6 tháng tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước, riêng giá sản phẩm chăn nuôi lợn tăng 9,56%. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng bởi nguồn cung thức ăn chăn nuôi trên thế giới giảm, chi phí vận chuyển nguyên liệu nhập khẩu tăng cao từ việc thiếu tàu biển và con-ten-nơ ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, biến đổi khí hậu làm mất mùa, bất lợi ở một số nước xuất khẩu lớn; một số nước chuyển hướng đầu tư nông sản và Trung Quốc tăng thu mua nguyên liệu thức ăn chăn nuôi làm cho giá thức ăn chăn nuôi trên thế giới tăng; ở Việt Nam nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chủ yếu từ nhập khẩu (chiếm khoảng 80%-85%), giá nhập khẩu thức ăn chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2021 tăng 8,71% so với cùng kỳ năm 2020 nên ảnh hưởng đến giá thức ăn chăn nuôi trong nước.
Bên cạnh những khó khăn về giá thức ăn chăn nuôi, giá lợn giống vẫn còn ở mức cao do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi cuối năm 2019. Các cơ sở chăn nuôi chú trọng đầu tư tăng cường các biện pháp an toàn sinh học, đảm bảo an toàn dịch bệnh. Những yếu tố này đã làm tăng chi phí đầu vào trong chăn nuôi, nhất là các cơ sở chăn nuôi lợn sử dụng 100% thức ăn công nghiệp và cơ sở không tự cung ứng được con giống, phải nhập mua từ nơi khác.
Có thể thấy rằng, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ là đối tượng chịu thiệt hại nhiều nhất bởi phải mua cám qua các đại lý cấp 2, cấp 3; cao hơn so với đại lý cấp 1. Trong khi đó, hầu hết các trang trại lớn đều ký hợp đồng với các công ty sản xuất thức ăn nên ngoài việc hưởng mức giá sỉ ngang bằng với đại lý cấp 1, còn được thưởng phần trăm vào cuối năm, do đó ít bị ảnh hưởng. Tương tự, những trang trại chăn nuôi lớn tự cung cấp được con giống thì còn có lãi chút ít, những hộ chăn nuôi không tự chủ động được con giống phải mua thì gần như hòa vốn, nếu rủi ro hao hụt trong quá trình nuôi thì thua lỗ.
Trái với xu hướng tăng giá của nguyên liệu đầu vào, giá lợn hơi giảm trong “bão giá” thức ăn chăn nuôi. Trong 6 tháng đầu năm, dịch tả lợn châu Phi cơ bản được kiểm soát, chỉ còn phát sinh những ổ dịch nhỏ lẻ, các địa phương thực hiện tái đàn, nguồn cung lợn hơi đang dần hồi phục làm giá lợn hơi vẫn tiếp tục giảm. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Sáu năm 2021 tăng khoảng 11,6% so với cùng thời điểm năm 2020; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng ước đạt 2002,2 nghìn tấn, tăng 8,1% (quý II ước đạt 1003,7 nghìn tấn, tăng 8,6%) so với cùng kỳ năm 2020, đồng thời việc cạnh tranh với nguồn thịt lợn nhập khẩu cũng làm giảm giá lợn hơi trong nước. Giá lợn hơi tháng 6/2021 tại các tỉnh miền Bắc dao động từ 68.000-76.000 đồng/kg; miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000-75.000 đồng/kg; miền Nam từ 70.000-75.000 đồng/kg, giá lợn hơi của các vùng giảm khoảng 15.000-17.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; bình quân tháng 6/2021 chỉ số giá lợn hơi giảm 18,73% so với cùng kỳ năm trước.
Giá thịt lợn tiêu dùng trong tháng 6/2021 giảm 2% so với tháng trước (làm CPI chung giảm 0,07 điểm phần trăm). Giá thịt lợn giảm do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, nhiều nhà hàng, quán ăn, trường học phải đóng cửa, du lịch đình trệ làm cho mức tiêu thụ mặt hàng thịt lợn giảm trong khi nguồn cung thịt lợn tăng. Theo đó, giá thịt quay, giò, chả tháng Sáu giảm 0,48% so với tháng trước; thịt chế biến khác giảm 0,01%; mỡ động vật giảm 3,62%. Bình quân 6 tháng năm nay, giá thịt lợn giảm 4,15%.
Để khắc phục những khó khăn hiện tại, các doanh nghiệp cần chủ động tăng cường dự trữ nguyên liệu cho sản xuất, tránh tình trạng thiếu hụt khi giá tăng cao. Kết hợp với việc dự trữ, các doanh nghiệp và hộ sản xuất cần chủ động tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước thay thế cho nguồn nhập khẩu như khô hạt điều, cám điều, bã sắn, cám gạo. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý cần nghiên cứu linh hoạt về chính sách thuế cũng như giảm chi phí vận chuyển, lưu kho bãi để giảm giá thành, đảm bảo nguồn cung, ổn định sản xuất trong nước. Đồng thời, cần tập trung làm tốt việc phòng chống dịch bệnh; áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học; trong đó nguồn con giống nhập về nuôi phải bảo đảm nguồn gốc, xuất xứ, sạch bệnh; tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin và vệ sinh, khử trùng tiêu độc chuồng trại thường xuyên nhằm hạn chế tối đa rủi ro hao hụt trong quá trình chăn nuôi. Ngoài ra, về trung hạn cần nghiên cứu chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ theo hướng tập trung; xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm để nâng cao chất lượng, hiệu quả, an toàn, giúp giảm chi phí trung gian và phát triển bền vững.