Giá hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo giá nguyên liệu đầu vào và bước sang năm học mới 2022-2023, học phí giáo dục tại một số địa phương tăng trở lại, tuy nhiên giá xăng dầu trong nước liên tục được điều chỉnh giảm từ tháng 7/2022 đã làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2022 chỉ tăng nhẹ 0,005% so với tháng trước. So với tháng 12/2021, CPI tháng Tám tăng 3,6% và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,89%.

Bình quân 8 tháng năm 2022, CPI tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 1,64%.

I. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 8/2022

So với tháng trước, CPI tháng 8/2022 tăng 0,005% (khu vực thành thị giảm 0,11%; khu vực nông thôn tăng 0,13%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 9 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước; 02 nhóm hàng giảm giá.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 8/2022 so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:

  1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,05%)

Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 8/2022 tăng 1,05% so với tháng trước, tác động làm CPI chung tăng 0,35 điểm phần trăm, trong đó lương thực tăng 0,19%, tác động tăng 0,01 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 1,33%, tác động tăng 0,28 điểm phần trăm; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,73%, tác động tăng 0,06 điểm phần trăm.

1.1. Lương thực (+0,19%)

Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 8/2022 tăng 0,19% so với tháng trước, trong đó chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,06% (Gạo tẻ thường tăng 0,04%; gạo tẻ ngon tăng 0,11% và gạo nếp tăng 0,17%). Giá gạo tăng do giá vật tư phân bón, nguyên liệu đầu vào sản xuất ở mức cao.

Trong tháng, giá gạo tẻ thường dao động từ 12.500-15.000 đồng/kg; giá gạo Bắc Hương từ 18.000-21.000 đồng/kg; giá gạo tẻ ngon Nàng Thơm chợ Đào từ 19.000-21.000 đồng/kg; giá gạo nếp từ 25.000-36.000 đồng/kg.

Giá nguyên liệu đầu vào tăng tác động đến giá các mặt hàng lương thực chế biến khác như giá mỳ sợi, mỳ, phở, cháo ăn liền tăng 0,83%; bột mỳ tăng 0,48%; bột ngô tăng 0,47%; ngô tăng 0,37%; miến tăng 0,37%; bánh mỳ tăng 0,25%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,23%.

1.2. Thực phẩm (+1,33%)

Giá thực phẩm tháng 8/2022 tăng 1,33% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng sau:

– Giá thịt lợn tăng 4,95% so với tháng trước do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm. Tính đến ngày 25/8/2022, giá thịt lợn hơi cả nước dao động khoảng 62.000-71.000 đồng/kg. Theo đó, giá thịt chế biến tăng 1,92% so với tháng trước, trong đó thịt quay, giò chả tăng 1,99%; thịt hộp tăng 1,4%; thịt chế biến khác tăng 0,43%.

– Giá thức ăn chăn nuôi ở mức cao, cùng với nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp Rằm tháng Bảy làm cho giá thịt gia cầm tăng 0,72% so với tháng trước, trong đó giá thịt gà tăng 0,65%; thịt gia cầm khác tăng 0,96%; thịt gia cầm đông lạnh tăng 0,36%. Bên cạnh đó, giá trứng các loại cũng tăng 2,68% so với tháng trước do đang vào mùa sản xuất bánh Trung thu.

– Giá thủy hải sản tươi sống tăng 0,08% so với tháng trước do sản lượng khai thác giảm vì ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới nên ngư dân hạn chế ra khơi, trong đó giá cá tăng 0,09%; thủy hải sản tươi sống khác tăng 0,21%. Theo đó, giá thủy sản chế biến tháng Tám tăng 0,53% so với tháng Bảy.

– Giá dầu mỡ ăn và chất béo khác tiếp tục tăng 1,66% so với tháng trước, trong đó giá mỡ ăn tăng 5,52%. Giá nước mắm, nước chấm tăng 0,69% so với tháng trước; sữa, bơ, pho mát tăng 0,32%; đường, mật tăng 0,31%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,21%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,15% do giá nguyên vật liệu tăng.

 – Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 1,18% so với tháng trước, chủ yếu do diễn biến thời tiết thất thường ảnh hưởng đến canh tác rau. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng rau xanh, củ quả trong tháng ăn chay (Tháng 7 âm lịch) tăng lên, dẫn đến giá tăng. Trong đó, giá cà chua tăng 8,61%; su hào tăng 2,76%; khoai tây tăng 2,45%; rau gia vị tăng 2,23%; rau củ đông lạnh tăng 0,44%.

1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,73%)

Giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tháng 8/2022 tăng 0,73% so với tháng trước do giá nguyên liệu chế biến cao và nhu cầu du lịch trong tháng tiếp tục cao. Trong đó, chỉ số giá ăn ngoài gia đình tăng 0,63% so với tháng trước; uống ngoài gia đình tăng 0,39% và đồ ăn nhanh mang đi tăng 1,53%.

  1. Đồ uống và thuốc lá (+0,27%)

Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tháng 8/2022 tăng 0,27% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng cao, đồng thời giá nguyên liệu sản xuất đồ uống tăng. Cụ thể, giá nước khoáng tăng 0,3% so với tháng trước; giá nước giải khát có ga tăng 0,05%; nước uống tăng lực đóng chai tăng 0,01%; rượu bia tăng 0,21% và thuốc hút tăng 0,45%.

  1. May mặc, mũ nón, giày dép (+0,18%)

Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tháng 8/2022 tăng 0,18% so với tháng trước do giá nguyên phụ liệu sản xuất, chi phí nhân công tăng và nhu cầu mua sắm chuẩn bị bước vào năm học mới tăng. Trong đó, giá vải tăng 0,48%; quần áo may sẵn tăng 0,17%; mũ nón tăng 0,22%; giày dép tăng 0,08%; dịch vụ may mặc tăng 0,46%; dịch vụ sửa chữa giày dép tăng 0,51%.

  1. Nhà ở và vật liệu xây dựng (+0,26%)

Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tháng 8/2022 tăng 0,26% so với tháng trước do các nguyên nhân chủ yếu sau:

– Giá điện sinh hoạt tháng Tám tăng 1,44% so với tháng trước[1]; giá nước sinh hoạt tăng 0,39% do nhu cầu sử dụng tăng.

– Giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,54% do công sơn tường, lát gạch, xây tường, công lao động phổ thông tăng và nhu cầu xây dựng tăng cao.

– Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,49% do giá xi măng, gạch xây, gạch bê tông, tấm lợp, sơn tường tăng theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất.

Bên cạnh đó, một số mặt hàng trong tháng có giá giảm so với tháng trước:

– Giá gas giảm 4,22% so với tháng trước do từ ngày 01/8/2022, giá gas trong nước điều chỉnh giảm 18.500 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới giảm 60 USD/tấn (từ mức 725 USD/tấn xuống mức 665 USD/tấn).

– Giá dầu hỏa giảm 9,97% so với tháng trước do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá ngày 01/8/2022, 11/8/2022 và 22/8/2022.

  1. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,21%)

Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tháng 8/2022 tăng 0,21% so với tháng trước, tập trung chủ yếu ở các mặt hàng như: Giá bếp gas tăng 0,75%; giấy ăn tăng 0,47%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,32%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,33%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,22%… Ở chiều ngược lại, giá máy xay sinh tố, ép hoa quả giảm 0,68% so với tháng trước; tủ lạnh giảm 0,1%; máy giặt giảm 0,02%.

  1. Giao thông (-5,51%)

Chỉ số giá nhóm giao thông tháng 8/2022 giảm 5,51% so với tháng trước làm CPI chung giảm 0,53 điểm phần trăm, chủ yếu do:

– Ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước vào ngày 01/8/2022, 11/8/2022 và 22/8/2022 làm cho giá xăng giảm 14,52% so với tháng trước; giá dầu diezen giảm 12,9%.

Ở chiều ngược lại:

– Giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,88% so với tháng trước, trong đó giá vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 3,78%; đường bộ tăng 0,14%; taxi tăng 0,11%; đường sắt giảm 0,81%; vé xe buýt giảm 0,44%.

– Giá xe đạp, xe máy, xe ô tô mới tiếp tục tăng lần lượt 0,33%, 0,27% và 0,11% do thiếu nguồn cung linh kiện, phụ tùng.

  1. Giáo dục (+1,46%)

Giá dịch vụ giáo dục tăng 1,51% so với tháng trước do trong tháng 8/2022 một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2022-2023[2] đối với các trường mầm non, trường trung cấp, cao đẳng và đại học. Bên cạnh đó, chuẩn bị vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm sách vở và các dụng cụ học tập tăng. Giá sách giáo khoa tăng 1,05%, bút viết các loại tăng 1,38%, giá vở, giấy viết các loại tăng 1,02% so với tháng trước.

  1. Văn hóa, giải trí và du lịch (+0,43%)

Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tháng Tám tăng 0,43% so với tháng trước, tập trung chủ yếu ở các nhóm: Giá dịch vụ du lịch trong nước tăng 0,94%; du lịch ngoài nước tăng 0,09% và khách sạn, nhà khách tăng 0,25% do nhu cầu du lịch tăng trong tháng hè. Đồng thời, giá nhạc cụ tăng 0,51% so với tháng trước; dịch vụ thể thao tăng 1,14%; thiết bị dụng cụ thể thao tăng 0,42%.

  1. Hàng hóa và dịch vụ khác (+0,2%)

Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tháng 8/2022 tăng 0,2% so với tháng trước, tập trung chủ yếu ở mặt hàng chăm sóc cơ thể như kem dưỡng da, son môi và nước hoa tăng 0,53%; dao cạo râu, bàn chải đánh răng và kính mát tăng 0,34%; dịch vụ hiếu hỉ tăng 0,28%; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,15%; dịch vụ vệ sinh môi trường tăng 0,1%.

  1. Chỉ số giá vàng (-0,9%)

Giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/8/2022, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.787,59 USD/ounce, tăng 3,2% so với tháng 7/2022 do các nhà đầu tư lo ngại lạm phát của Mỹ cao còn kéo dài và FED sẽ mạnh tay tăng thêm lãi suất trong thời gian tới nên tìm đến vàng như tài sản trú ẩn an toàn. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 8/2022 giảm 0,9% so với tháng trước; tăng 5,87% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 8 tháng năm 2022 tăng 6,5%.

  1. Chỉ số giá đô la Mỹ (+0,18%)

Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới chủ yếu giảm trong các ngày đầu tháng 8/2022 trong bối cảnh dữ liệu kinh tế Mỹ cho thấy lạm phát tăng cao. Tính đến ngày 25/8/2022, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 106,5 điểm, giảm 0,26 điểm so với tháng trước. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 23.528 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2022 tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 8 tháng năm 2022 tăng 0,37%.

Bảng 1. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 8 từ năm 2018 đến năm 2022               

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 8/2022 tăng 2,89%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 9 nhóm tăng giá và 2 nhóm giảm giá.

Các nhóm hàng tăng giá:

– Nhóm giao thông tháng 8/2022 tăng cao nhất với 8,94% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,86 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 17,83% do giá xăng A95 tăng 3.530 đồng/lít; xăng E5 tăng 3.830 đồng/lít và dầu diezen tăng 8.090 đồng/lít.

– Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,48% chủ yếu do giá nguyên liệu sản xuất đồ uống và chi phí vận chuyển tăng.

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,8% do giá tour và khách sạn, nhà hàng tăng khi nhu cầu du lịch trong nước đang mùa cao điểm.

– Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,4% do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng.

– Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,3%, chủ yếu do dịch Covid-19 được kiểm soát, dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 6,26%; giá lương thực tăng 2,31% và thực phẩm tăng 2,3%.

– Bên cạnh đó, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tháng Tám tăng 2,05% so với cùng kỳ năm trước; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,47%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,47%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,86%.

Ở chiều ngược lại, có 2 nhóm hàng giảm giá:

– Nhóm giáo dục tháng 8/2022 giảm 0,57% so với cùng kỳ năm trước do từ học kỳ I năm học 2021-2022, một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn, giảm học phí trong đại dịch.

– Nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,16% do giá phụ kiện điện thoại thông minh giảm.

So với tháng 12/2021, CPI tháng Tám tăng 3,6%, trong đó có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,08%.

Trong các nhóm tăng giá:

– Nhóm giao thông tháng 8/2022 tăng 5,03% so với tháng 12/2021, trong đó giá xăng dầu tăng 7,53% do từ đầu năm đến nay, giá xăng dầu trong nước đã điều chỉnh 22 đợt làm cho giá xăng A95 tăng 1.370 đồng/lít; xăng E5 tăng 1.170 đồng/lít và dầu diezen tăng 6.180 đồng/lít.

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,61% do nhu cầu du lịch tăng cao sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát.

– Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,71% chủ yếu do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng.

II. DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG 8 THÁNG NĂM 2022

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2022 tăng 2,58% so với cùng kỳ năm 2021.

  1. Một số nguyên nhân làm tăng CPI trong 8 tháng năm 2022

– Trong 8 tháng năm nay, giá xăng dầu được điều chỉnh 22 đợt, trong đó có 8 đợt giảm giá, làm cho giá xăng A95 tăng 1.370 đồng/lít; xăng E5 tăng 1.170 đồng/lít và dầu diezen tăng 6.180 đồng/lít. Bình quân 8 tháng, giá xăng dầu trong nước tăng 45,33% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 1,63 điểm phần trăm.

– Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá gas 8 tháng năm nay tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm CPI chung tăng 0,31 điểm phần trăm.

– Dịch Covid-19 được kiểm soát, nhu cầu ăn ngoài nhà hàng tăng nên giá ăn uống ngoài gia đình bình quân 8 tháng tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,35 điểm phần trăm.

– Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở 8 tháng tăng 7,86% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tác động làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm.

– Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu làm cho giá gạo 8 tháng đầu năm 2022 tăng 1,15% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm.

– Giá các mặt hàng thực phẩm 8 tháng năm 2022 tăng 0,23% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI tăng 0,05 điểm phần trăm.

  1. Một số nguyên nhân làm giảm CPI trong 8 tháng năm 2022

– Giá dịch vụ giáo dục giảm 3,14% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn giảm học phí từ học kỳ I năm học 2021-2022 do ảnh hưởng của dịch Covid-19, làm CPI chung giảm 0,17 điểm phần trăm.

– Giá bưu chính viễn thông giảm 0,46% so với cùng kỳ năm trước do giá điện thoại di động giảm.

– Để chủ động ứng phó với những thách thức trước áp lực lạm phát gia tăng, trong thời gian qua Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn giá, hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội.

III. LẠM PHÁT CƠ BẢN

Lạm phát cơ bản[3] tháng 8/2022 tăng 0,4% so với tháng trước, tăng 3,06% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 1,64% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 2,58%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực và giá xăng dầu.

Bảng 2. Lạm phát cơ bản tháng 8 và 8 tháng năm 2018 – 2022

 


TỔNG CỤC THỐNG KÊ

[1] Chỉ số giá điện sinh hoạt tháng 8/2022 được tính dựa trên doanh thu và sản lượng điện tiêu dùng từ ngày
01-31/7/2022, do đó phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác.

[2] Tốc độ tăng chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tháng Tám so với tháng trước của một số địa phương: Long An tăng 69,71%; Hậu Giang tăng 36,88%; Vĩnh Long tăng 30,6%; Quảng Ninh tăng 13,42%; Hải Phòng tăng 6,78%.

[3] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

TIN KHÁC

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm