BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
Trong chín tháng năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt hơn, căng thẳng thương mại, xung đột quân sự, bất ổn chính trị tại một số quốc gia, khu vực tiếp tục lan rộng, kéo dài; thị trường tài chính, tiền tệ biến động, ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, thiên tai, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; thách thức đối với đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực ngày càng gia tăng. Mặc dù bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng liên quan đến các chính sách thương mại nhưng các điều kiện tài chính toàn cầu đã thuận lợi hơn khi chính sách thuế quan thực tế của Hoa Kỳ thấp hơn so với công bố ban đầu, lạm phát tiếp tục xu hướng giảm. Thị trường chứng khoán toàn cầu tương đối sôi động[1] nhờ các thông tin liên quan đến thuế quan và số liệu kinh tế vĩ mô công bố “tốt hơn dự kiến”. Tăng trưởng tín dụng ngân hàng tiếp tục phục hồi nhưng vẫn ở mức thấp tại các nền kinh tế phát triển, dòng vốn vào các nền kinh tế đang phát triển đã phục hồi. Lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp phi tài chính và trái phiếu chính phủ đã đạt mức cao[2].
Hầu hết các tổ chức quốc tế điều chỉnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 tăng nhẹ so với dự báo đưa ra trước đó do sản xuất phục vụ xuất khẩu được đẩy mạnh trước khi Hoa Kỳ dự kiến tăng thuế quan và chính sách thúc đẩy tăng trưởng của một số nền kinh tế lớn. Tại thời điểm tháng 9/2025, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)[3], Liên hợp quốc (UN)[4] và Fitch Rating (FR)[5] lần lượt dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 sẽ đạt 3,2%, 2,5% và 2,4%, điều chỉnh tăng tương ứng 0,3 điểm phần trăm, 0,1 điểm phần trăm và 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 6/2025. Tại thời điểm tháng 7/2025, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)[6] dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới đạt 3,0%, điều chỉnh tăng 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 4/2025.
Trong khu vực, tại thời điểm tháng 9/2025, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)[7] dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2025 của Phi-li-pin đạt 5,6%, thấp hơn 0,4 điểm phần trăm so với dự báo tại thời điểm tháng 4/2025; In-đô-nê-xi-a đạt 4,9%, thấp hơn 0,1 điểm phần trăm; Ma-lai-xi-a đạt 4,3%, thấp hơn 0,6 điểm phần trăm; Xin-ga-po đạt 2,5%, thấp hơn 0,1 điểm phần trăm; Thái Lan đạt 2,0%, thấp hơn 0,8 điểm phần trăm; riêng Việt Nam đạt 6,7%, cao hơn 0,1 điểm phần trăm. Ngân hàng Thế giới (WB)[8] dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2025 của Việt Nam đạt 6,6%, thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với năm 2024; Phi-li-pin đạt 5,3%, thấp hơn 0,4 điểm phần trăm; Thái Lan đạt 1,8%, thấp hơn 0,7 điểm phần trăm. IMF dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2025 của Việt Nam đạt 6,5%, thấp hơn 0,6 điểm phần trăm so với năm 2024; Phi-li-pin đạt 5,5%, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm; In-đô-nê-xi-a đạt 4,8%, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm; Ma-lai-xi-a đạt 4,5%, thấp hơn 0,6 điểm phần trăm; Thái Lan đạt 2,0%, thấp hơn 0,5 điểm phần trăm.
Trong nước, với quyết tâm cao nhất để huy động và khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội, trong một thời gian ngắn, cả hệ thống chính trị đã tập trung hoàn thành khối lượng công việc rất lớn để triển khai thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy Chính phủ, sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ các quy định pháp luật liên quan, quy định phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền gắn với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; triển khai các Nghị quyết lớn của Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, hội nhập quốc tế, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân. Nhiều hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm như Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/9 đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc, tạo động lực lớn cho nhân dân cả nước tiếp tục phấn đấu, vươn lên thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội… Các bộ, ngành, địa phương đã theo dõi chặt chẽ những biến động của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm đạt mục tiêu đề ra. Kinh tế – xã hội quý III và chín tháng năm 2025 của nước ta đạt được kết quả rất tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau tốt hơn quý trước trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực còn nhiều bất ổn. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý III và chín tháng năm 2025 như sau:
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2025 ước tính tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn mức tăng 14,38% của cùng kỳ năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025[9]. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,74%, đóng góp 5,04% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,46%, đóng góp 46,41%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là điểm sáng của nền kinh tế với tốc độ tăng 9,98%; khu vực dịch vụ tăng 8,56%, đóng góp 48,55%. Về sử dụng GDP quý III/2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,79% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 59,76% vào tốc độ tăng chung của nền kinh tế; tích lũy tài sản tăng 8,97%, đóng góp 44,67%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 18,30%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 18,53%.
GDP chín tháng năm 2025 ước tăng 7,85% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 9,44% của cùng kỳ năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,83%, đóng góp 5,36% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,69%, đóng góp 43,05%; khu vực dịch vụ tăng 8,49%, đóng góp 51,59%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù chịu tác động bất lợi từ bão, mưa lũ, nhưng nhờ triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì ở mức ổn định. Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chín tháng năm 2025 tăng 3,83%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của cùng kỳ các năm 2011, 2018 và 2021 trong giai đoạn 2011-2025[10]. Trong đó, giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,52% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 6,46%, đóng góp 0,42%; ngành thủy sản tăng 4,48%, đóng góp 1,41%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, sản xuất của nhiều ngành công nghiệp trọng điểm tăng cao, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp chín tháng năm 2025 tăng 8,55% so với cùng kỳ năm trước[11], đóng góp 35,06% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng với tốc độ tăng 9,92%[12], đóng góp 31,73%. Ngành xây dựng tăng 9,33%, đóng góp 7,99%.
Trong khu vực dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch trong nước tăng mạnh, đặc biệt trong thời gian diễn ra các ngày lễ lớn của dân tộc đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ chín tháng năm 2025 tăng 8,49% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn mức tăng 11,37% của cùng kỳ năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025[13]. Đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 10,72%; ngành vận tải, kho bãi tăng 10,68%, đóng góp 8,92%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,06%, đóng góp 5,16%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,15%, đóng góp 3,50%.
Về cơ cấu nền kinh tế chín tháng năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,58%; khu vực dịch vụ chiếm 42,92%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,20% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2024 là 11,57%; 37,59%; 42,49%; 8,35%).
Về sử dụng GDP chín tháng năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,07% so với cùng kỳ năm 2024, đóng góp 73,83% vào tốc độ tăng chung của nền kinh tế; tích lũy tài sản tăng 8,52%, đóng góp 41,43%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 15,51%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,75%.
2. Sản xuất nông nghiệp quý III/2025 chịu tác động bất lợi từ bão, mưa lũ, nhiều diện tích cây trồng bị ngập úng, nhất là tại các tỉnh Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ; chăn nuôi lợn gặp khó khăn do bệnh dịch tả lợn châu Phi bùng phát trên diện rộng. Tuy vậy, nhờ các ngành chức năng và địa phương triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, hỗ trợ nhân dân ổn định sản xuất nên tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III và chín tháng năm 2025 của cả nước vẫn duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và phục vụ chế biến, xuất khẩu. Sản lượng cây lâu năm đạt khá so với cùng kỳ năm trước, chăn nuôi gia cầm phát triển tốt. Trồng rừng và khai thác gỗ theo kế hoạch đề ra. Khai thác thủy sản tuy bị ảnh hưởng bởi mưa bão tại một số tỉnh phía Bắc trong quý III nhưng nhờ nuôi trồng thủy sản tăng cường ứng dụng công nghệ cao, giá bán đảm bảo lợi nhuận nên tính chung chín tháng hoạt động thủy sản vẫn duy trì mức tăng trưởng khá.
a) Nông nghiệp
Diện tích gieo trồng lúa hè thu của cả nước năm nay ước đạt 1.898,3 nghìn ha, giảm 10,9 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2024[14]. Trong đó các địa phương phía Bắc đạt 172,7 nghìn ha, giảm 1,1 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1.725,6 nghìn ha, giảm 9,8 nghìn ha. Năng suất gieo trồng lúa hè thu cả nước ước đạt 57,8 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha; sản lượng lúa hè thu ước đạt gần 11 triệu tấn, giảm 180,2 nghìn tấn so với vụ hè thu năm trước.
Tính đến ngày 20/9/2025, cả nước đã gieo cấy được 1.461,1 nghìn ha lúa mùa, giảm 7,2 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó miền Bắc đạt 979,8 nghìn ha, giảm 16,4 nghìn ha (vùng Đồng bằng sông Hồng cơ bản kết thúc gieo cấy với diện tích 471,1 nghìn ha, giảm 10,7 nghìn ha); miền Nam đạt 481,3 nghìn ha, tăng 9,2 nghìn ha.
Lúa thu đông, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long xuống giống được 604,4 nghìn ha lúa thu đông, giảm 2,5 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước.
Cũng đến thời điểm trên, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 803,2 nghìn ha ngô, bằng 99,7% cùng kỳ năm trước; 73,2 nghìn ha khoai lang, bằng 96,6%; 28,1 nghìn ha đậu tương, bằng 100,7%; 132,1 nghìn ha lạc, bằng 97,6%; 936,4 nghìn ha rau các loại, bằng 101,1%; 99,4 nghìn ha đậu các loại, bằng 100,9%.
Tính chung chín tháng năm 2025, sản lượng thu hoạch một số cây công nghiệp chủ yếu như sau: Chè búp đạt 962,8 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; cao su đạt 916,9 nghìn tấn, tăng 2,0%; điều đạt 297,9 nghìn tấn, tăng 2,0%; hồ tiêu đạt 260,1 nghìn tấn, tăng 5,1%; dừa đạt 1.617,1 nghìn tấn, tăng 0,7%. Sản lượng thu hoạch một số cây ăn quả đều tăng khá: Vải đạt 193,8 nghìn tấn tăng 59,4%; sầu riêng đạt 636,3 nghìn tấn, tăng 19,3%; nhãn đạt 332,7 nghìn tấn, tăng 13,9%; xoài đạt 247,6 nghìn tấn, tăng 7,3%; cam đạt 585,8 nghìn tấn, tăng 2,3%..
Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao. Chăn nuôi lợn từ đầu quý III/2025 đến nay gặp nhiều khó khăn do dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp. Dịch bệnh bùng phát mạnh và gây thiệt hại chủ yếu tại hộ chăn nuôi nhỏ, trong khi các doanh nghiệp và cơ sở chăn nuôi theo chuỗi liên kết sản xuất tiếp tục ổn định nhờ đảm bảo được các điều kiện chăn nuôi an toàn sinh học. Số lợn bị chết và tiêu hủy tại các địa phương[15] biểu hiện qua tổng số lợn giảm trong kỳ. Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, nhu cầu tiêu thụ tăng do chăn nuôi lợn chịu ảnh hưởng dịch bệnh đã thúc đẩy người nuôi gia cầm chủ động tăng đàn và đẩy mạnh sản xuất, cung ứng kịp thời cho thị trường.
b) Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung chín tháng năm 2025 ước đạt 221,8 nghìn ha, tăng 11,0% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 70,1 triệu cây, tăng 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 17.963,6 nghìn m3, tăng 8,7%.
Diện tích rừng bị thiệt hại[16] chín tháng năm 2025 là 998,3 ha, giảm 31,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: diện tích rừng bị chặt, phá là 683,6 ha, giảm 3,1%; diện tích rừng bị cháy là 314,7 ha, giảm 57,5%.
c) Thủy sản
Tổng sản lượng thủy sản chín tháng năm 2025 ước đạt 7.261,8 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước (quý III/2025 ước đạt 2.710,9 nghìn tấn, tăng 3,3%), bao gồm: Cá đạt 5.111,9 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 1104,3 nghìn tấn, tăng 5,7%; thủy sản khác đạt 1045,6 nghìn tấn, tăng 2,4%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng chín tháng năm 2025 ước đạt 4.284,3 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước (quý III/2025 ước đạt 1.705,1 nghìn tấn, tăng 5,5%), bao gồm: Cá đạt 2.791,0 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 998,8 nghìn tấn, tăng 6,3%; thủy sản khác đạt 494,5 nghìn tấn, tăng 4,6%.
Sản lượng thủy sản khai thác chín tháng năm 2025 ước đạt 2.977,5 nghìn tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước (quý III/2025 ước đạt 1.005,8 nghìn tấn, giảm 0,3%)[17], bao gồm: Cá đạt 2.321,0 nghìn tấn, tăng 0,5%; tôm đạt 105,5 nghìn tấn, tăng 0,2%; thủy sản khác đạt 551,0 nghìn tấn, tăng 0,6%.
3. Sản xuất công nghiệp trong quý III/2025 tăng trưởng tích cực là do các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất phục vụ xuất khẩu hàng hóa trước khi Hoa Kỳ áp dụng mức thuế quan cao hơn, hoạt động khai khoáng, sản xuất điện tích cực hơn trong những tháng gần đây. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III/2025 ước tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước; tính chung chín tháng năm 2025 ước tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,4%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2020 đến nay[18].
Tính chung chín tháng năm 2025, IIP ước tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,4%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4% (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,6%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,1% (cùng kỳ năm 2024 tăng 10,8%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,8% (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,1% (cùng kỳ năm 2024 giảm 6,9%), đóng góp 0,01 điểm phần trăm.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chín tháng năm 2025 tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2024 (cùng kỳ năm 2024 tăng 12,5%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/9/2025 ước tăng 4,9% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 8,5%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân chín tháng năm 2025 là 82,3% (bình quân cùng kỳ năm 2024 là 76,8%).
4. Số lượng đăng ký doanh nghiệp trong chín tháng đầu năm 2025 tăng cao nhờ “động lực” của Nghị quyết 68–NQ/TW nhằm phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Trong tháng Chín, cả nước có 16,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 165,7 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký 97,0 nghìn lao động. So với tháng Tám, giảm 17,9% về số doanh nghiệp, giảm 49,2% về vốn đăng ký và giảm 9,3% về số lao động. So với cùng kỳ năm trước, tăng 49,8% về số doanh nghiệp, tăng 78,6% về số vốn đăng ký và tăng 53,9% về số lao động.
Tính chung chín tháng năm 2025, cả nước có 145,0 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.420,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 874,0 nghìn lao động, tăng 18,9% về số doanh nghiệp, tăng 22,6% về vốn đăng ký và tăng 18,9% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong chín tháng năm 2025 đạt 9,8 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2024. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong chín tháng năm 2025 là 4.720,5 nghìn tỷ đồng, tăng 104,3% so với cùng kỳ năm 2024[19]. Bên cạnh đó, cả nước có 86,4 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2024), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong chín tháng năm 2025 lên hơn 231,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm 2024. Bình quân một tháng có 25,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Trong chín tháng năm 2025, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 99,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; 53,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 13,5%; 22,3 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 45,0%. Bình quân một tháng có 19,4 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2025 cho thấy: Có 33,6% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý II/2025; 44,2% số doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 22,2% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn[20]. Dự kiến quý IV/2025, có 40,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý III/2025; 41,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 17,5% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.
5. Hoạt động thương mại, vận tải, du lịch chín tháng đầu năm nay duy trì tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch trong nước tăng, đặc biệt trong các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của khách quốc tế đến Việt Nam đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại dịch vụ trong chín tháng năm nay.
Quý III/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách tăng 25,1% về vận chuyển và tăng 18,0% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 19,8% về vận chuyển và tăng 16,3% về luân chuyển; doanh thu hoạt động viễn thông tăng 6,5%; khách quốc tế đến Việt Nam tăng 23,2%.
Tính chung chín tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.176,0 nghìn tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,8%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,2% (cùng kỳ năm 2024 tăng 5,8%).
Vận tải hành khách chín tháng năm 2025 ước đạt 4.518,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 235,2 tỷ lượt khách.km, tăng 15,2%; trong đó, quý III/2025 ước đạt 1.655,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 83,0 tỷ lượt khách.km, tăng 18,0%.
Vận tải hàng hóa chín tháng năm 2025 ước đạt 2.236,0 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 453,4 tỷ tấn.km, tăng 14,6%; trong đó, quý III/2025 ước đạt 804,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 161,3 tỷ tấn.km, tăng 16,3%.
Doanh thu hoạt động viễn thông chín tháng năm 2025 ước đạt 284,0 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,7%). Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối tháng Chín ước đạt 124,1 triệu thuê bao, tăng 2,7% so với cùng thời điểm năm trước (số thuê bao di động là 121,9 triệu thuê bao, tăng 2,8%). Số thuê bao truy nhập internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối tháng Chín ước đạt 24,9 triệu thuê bao, tăng 5,1% so với cùng thời điểm năm trước.
Khách quốc tế đến Việt Nam chín tháng năm 2025 đạt hơn 15,4 triệu lượt người, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 13,1 triệu lượt người, chiếm 85,2% lượng khách quốc tế đến và tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 2,1 triệu lượt người, chiếm 13,6% và tăng 19,4%; bằng đường biển đạt 190,6 nghìn lượt người, chiếm 1,2% và tăng 15,1%.
Số lượt người Việt Nam xuất cảnh[21] chín tháng năm 2025 đạt 5,44 triệu lượt người, tăng 33,1% so với cùng kỳ năm trước.
6. Mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay ổn định, tỷ giá được điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; thị trường bảo hiểm tăng trưởng ổn định, thị trường chứng khoán hoạt động sôi động, thanh khoản thị trường cải thiện rõ rệt.
Tính đến thời điểm 25/9/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 10,61% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 4,55%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,74% (cùng thời điểm năm trước tăng 4,17%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 13,0% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,09%).
Tổng doanh thu phí bảo hiểm chín tháng năm 2025, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 171,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7%, trong đó: Doanh thu phí lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 64,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1%; lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 107,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,3%.
Về thị trường chứng khoán, ghi nhận những tín hiệu hoạt động sôi nổi, thanh khoản thị trường cải thiện rõ rệt, thu hút dòng vốn mới. Ngày 30/9/2025, chỉ số VN-Index đạt 1.661,7 điểm, tăng 31,2% so với cuối năm 2024; mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 9.034,4 nghìn tỷ đồng, tăng 25,9%.
7. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong chín tháng năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 2.701,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7,0% cùng kỳ năm trước, cho thấy nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư rất quyết liệt, tích cực trong triển khai thực hiện đầu tư trong nhiều ngành, lĩnh vực. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam chín tháng năm 2025 ước đạt 18,80 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức cao nhất chín tháng của các năm từ 2021 đến nay.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành chín tháng năm 2025, ước đạt 2.701,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% (quý III/2025 ước đạt 1.100,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3%) so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 798,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,6% tổng vốn và tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.441,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,3% và tăng 7,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 462,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,1% và tăng 11,2%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[22] tính đến ngày 30/9/2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 28,54 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: 2.926 dự án được cấp phép cấp mới với số vốn đăng ký đạt 12,39 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và giảm 8,6% về số vốn đăng ký; có 1.092 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 11,32 tỷ USD, tăng 48,0% so với cùng kỳ năm trước; Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 2.527 lượt với tổng giá trị góp vốn 4,84 tỷ USD, tăng 35,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 995 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 1,77 tỷ USD và 1.532 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 3,07 tỷ USD.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam chín tháng năm 2025 ước đạt 18,80 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.
8. Thu ngân sách Nhà nước[23] chín tháng năm 2025 tăng 30,5% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước tăng 31,4%, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 181,1 nghìn tỷ đồng, lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước chín tháng năm 2025 đạt gần 1.926,0 nghìn tỷ đồng, bằng 97,9% dự toán năm và tăng 30,5% so với cùng kỳ năm trước[24]. Trong đó: thu nội địa đạt 1.653,2 nghìn tỷ đồng, bằng 99,1% dự toán năm và tăng 35,1% so với cùng kỳ năm trước[25];
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 201,5 nghìn tỷ đồng, lũy kế chín tháng năm 2025 đạt 1.634,8 nghìn tỷ đồng, bằng 63,4% dự toán năm và tăng 31,4% so với cùng kỳ năm trước.
9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chín tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng khá.
a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[26]
Trong tháng Chín, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 82,49 tỷ USD, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 24,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 680,66 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 16,0%; nhập khẩu tăng 18,8%[27]. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 16,82 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Chín đạt 42,67 tỷ USD, giảm 1,7% so với tháng trước. Quý III/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 128,57 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 9,6% so với quý II/2025. Tính chung chín tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 348,74 tỷ USD, tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Chín đạt 39,82 tỷ USD, tăng 0,4% so với tháng trước. Quý III/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 119,66 tỷ USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,3% so với quý II/2025. Tính chung chín tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 331,92 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Chín xuất siêu 2,85 tỷ USD. Tính chung chín tháng năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 16,82 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 21,15 tỷ USD).
b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Quý III/2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 7,52 tỷ USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước và tăng 10,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 10,97 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,4% so với quý trước.
Tính chung chín tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 21,99 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 11,12 tỷ USD (chiếm 50,6% tổng kim ngạch), tăng 26,5%; dịch vụ vận tải đạt 6,3 tỷ USD (chiếm 28,7%), tăng 20,9%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ chín tháng năm 2025 ước đạt 30,29 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 10,48 tỷ USD), tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 12,41 tỷ USD (chiếm 41,0% tổng kim ngạch), tăng 18,5%; dịch vụ du lịch đạt 11,44 tỷ USD (chiếm 37,8%), tăng 23,7%.
Cán cân thương mại dịch vụ chín tháng năm 2025 nhập siêu 8,3 tỷ USD.
10. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín tăng 0,42% so với tháng trước do dịch vụ giáo dục các trường ngoài công lập, giá thực phẩm và vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. CPI tháng Chín tăng 2,61% so với tháng 12/2024; tăng 3,38% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý III/2025 tăng 3,27% so với quý III/2024. Bình quân chín tháng năm 2025, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,19%.
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Trong mức tăng 0,42% của CPI tháng Chín so với tháng trước, có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, riêng chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm. CPI bình quân quý III/2025 tăng 3,27% so với quý III/2024.
Bình quân chín tháng năm 2025, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước.
Lạm phát cơ bản[28] tháng Chín tăng 0,20% so với tháng trước và tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân chín tháng năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 3,27% của CPI bình quân chung[29].
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng Chín tăng 6,53% so với tháng trước; tăng 55,4% so với cùng kỳ năm 2024; tăng 45,42% so với tháng 12/2024; bình quân quý III/2025 tăng 51,21% so với cùng kỳ năm trước; bình quân chín tháng năm 2025 tăng 41,86% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Chín tăng 0,30% so với tháng trước do nhu cầu ngoại tệ tăng phục vụ nhu cầu nhập khẩu hàng hóa và yếu tố tâm lý giữ đồng tiền này của người dân trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nới lỏng chính sách tiền tệ; tăng 6,64% so với cùng kỳ năm 2024; tăng 3,98% so với tháng 12/2024; bình quân quý III/2025 tăng 4,81%; bình quân chín tháng năm 2025 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.
c) Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất; chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa quý III và chín tháng năm 2025 đều tăng so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý III/2025, chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản ước giảm 1,25% so với quý trước và tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,06% và tăng 2,73%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 0,86% và tăng 5,30%; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 1,29% và tăng 4,60%.
Tính chung chín tháng năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,91% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 2,23%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 5,05%; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,09%.
II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI
1. Lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động trong quý III/2025 đều tăng so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm giảm so với quý trước và giảm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,1 triệu người, tăng 556,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; lao động có việc làm là 52,0 triệu người, tăng 552,3 nghìn người; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%.
Trong quý III/2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính là 53,3 triệu người, tăng 254,5 nghìn người so với quý trước và tăng 583,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,5%, tăng 0,4 điểm phần trăm và tăng 1,0 điểm phần trăm. Tính chung chín tháng năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,1 triệu người, tăng 556,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,1%, tăng 1,0 điểm phần trăm.
Lao động có việc làm quý III/2025 là 52,3 triệu người, tăng 261,3 nghìn người so với quý trước và tăng 580,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, lao động có việc làm là 52,0 triệu người, tăng 552,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[30] quý III/2025 là 1,50%, giảm 0,23 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,37 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, giảm 0,34 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Thu nhập bình quân của người lao động quý III/2025 là 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 124 nghìn đồng so với quý II/2025 và tăng 748 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung chín tháng năm 2025, thu nhập bình quân của người lao động là 8,3 triệu đồng/tháng, tăng 10,0%, tương ứng tăng 756 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[31] quý III/2025 là 2,22%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,53%; khu vực nông thôn là 2,00%.
Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[32] quý III/2025 là 3,4% (tương ứng khoảng 1,83 triệu người). Tính chung chín tháng năm 2025, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,7%, giảm 0,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 3,6% giảm 0,2 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 3,8%, giảm 0,8 điểm phần trăm.
Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý III/2025 là 3,8 triệu người, giảm 72,5 nghìn người so với quý trước và giảm 76,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, lao động làm công việc tự sản tự tiêu là 3,8 triệu người, giảm 83,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Đời sống của hộ dân cư trong chín tháng đầu năm 2025 được cải thiện hơn so với cùng kỳ năm trước. Theo kết quả điều tra lao động và việc làm quý III/2025, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên và không thay đổi so với cùng kỳ năm 2024 là 96,3% (giảm 0,3 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo quý trước và tăng 0,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).
Tính đến ngày 25/9/2025[33], tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng là gần 56,8 nghìn tỷ đồng, trong đó: Lãnh đạo trung ương và địa phương, các ban, ngành, đoàn thể, các nhà hảo tâm cũng đã tổ chức thăm hỏi, động viên và tặng quà cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 với số tiền hơn 23,3 nghìn tỷ đồng; hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội là 3,5 nghìn tỷ đồng; người có công, thân nhân người có công với cách mạng là 29,5 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất, bất thường phát sinh tại địa phương là 371,9 tỷ đồng. Ngoài ra, bảo hiểm xã hội đã cấp phát hơn 27,3 triệu thẻ BHYT/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng.
Trong chín tháng năm nay, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân gần 11,3 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ hơn 6 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ cho 402,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ gần 4,3 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt năm 2025 cho 284,5 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 990 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho khoảng 66 nghìn nhân khẩu.
3. Giáo dục và đào tạo
Về kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT), năm 2025 là năm đầu tiên Kỳ thi tốt nghiệp THPT tổ chức theo phương án 2+2, với 2 môn bắt buộc là Ngữ văn và Toán và 02/9 môn học sinh tự chọn phù hợp với định hướng nghề ở giai đoạn THPT; kỳ thi đồng thời thực hiện theo 02 quy chế, 02 bộ đề thi 02 chương trình giáo dục phổ thông 2006 và 2018. Kỳ thi rút ngắn thời gian tổ chức thi từ 04 buổi thi xuống còn 03 buổi thi. Năm 2025, toàn quốc có trên 1,1 triệu thí sinh đăng ký dự thi Kỳ thi tốt nghiệp THPT, tăng gần 100 nghìn thí sinh so với năm 2024.
Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 đã ghi dấu bước chuyển quan trọng khi phổ điểm được công bố trước khi thí sinh biết điểm, thể hiện tính minh bạch trong công tác tổ chức thi. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2025 là 99,25% (năm 2024 tỷ lệ này là 99,40%)[34].
Về tình hình khai giảng năm học mới 2025-2026, sáng ngày 05/9/2025, hàng triệu giáo viên và học sinh trên khắp cả nước tham dự lễ khai giảng năm học 2025-2026. Lễ khai giảng đặc biệt gắn với Lễ kỷ niệm 80 năm thành lập Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo), được kết nối trực tuyến đến tất cả các cơ sở giáo dục, đào tạo trên toàn quốc với sự tham dự của khoảng 1,6 triệu thầy cô giáo và gần 26 triệu học sinh, sinh viên trên cả nước[35]. Lần đầu tiên ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức khai giảng cùng một thời điểm, tất cả các cơ sở giáo dục trên toàn quốc cùng chào cờ, hát Quốc ca cùng một thời điểm trong lễ khai giảng năm học mới.
Năm học 2025-2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định chủ đề “Kỷ cương – Sáng tạo – Đột phá – Phát triển”, thể hiện rõ định hướng, vừa duy trì kỷ luật, nền nếp, vừa thúc đẩy đổi mới phương pháp quản lý và giảng dạy, khuyến khích sáng tạo, hướng tới những đột phá quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm[36]
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (18/8-17/9/2025), cả nước có 21.152 người mắc bệnh sốt xuất huyết; 6.320 người mắc bệnh tay chân miệng; 1.074 người sốt phát ban nghi sởi. Tính chung chín tháng năm 2025, cả nước có 112,8 nghìn người sốt phát ban nghi sởi (11 ca tử vong); 86,3 nghìn người mắc sốt xuất huyết (17 ca tử vong); gần 45,9 nghìn người mắc bệnh tay chân miệng; 257 người mắc bệnh viêm não vi rút (01 ca tử vong); 82 người mắc viêm màng não do não mô cầu và 58 người tử vong do bệnh dại.
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/9/2025 là gần 252 nghìn người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 117,1 nghìn người.
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Chín xảy ra 04 vụ làm 140 người bị ngộ độc (02 người tử vong). Tính chung chín tháng năm nay, cả nước xảy ra 51 vụ ngộ độc thực phẩm làm 725 người bị ngộ độc (16 người tử vong).
5. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa luôn được quan tâm; thể thao phong trào được duy trì, thể thao thành tích cao có những thành tích đáng ghi nhận.
Về hoạt động văn hóa, trong tháng Chín và quý III năm 2025 diễn ra các hoạt động văn hóa kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, đặc biệt là các chương trình văn hóa kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 02/9 (A80) với các chủ đề diễn ra rộng khắp cả nước như: Lễ diễu binh, diễu hành trọng thể tại quảng trường Ba Đình với khoảng 30.000 người tham gia diễu binh, diễu hành; và nhiều hoạt động văn hóa khác cũng được tổ chức rộng khắp trên cả nước[37]. Bên cạnh đó, âm nhạc Việt Nam đã ghi dấu tại đấu trường âm nhạc quốc tế với thành tích ấn tượng của Ca sĩ Đức Phúc – đại diện Việt Nam xuất sắc giành ngôi vị Quán quân tại Cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision 2025 tại Liên bang Nga…
Về thể thao, diễn ra một số hoạt động một nổi bật như: Vòng loại Giải bóng đá U23 châu Á 2026 diễn ra với các trận đấu gặp U23 Băng-la-đét ngày 03/9, trận đấu với U23 Xin-ga-po (ngày 06/9) và U23 Y-ê-men (ngày 09/9). Từ 28/8-01/9 ở In-đô-nê-xi-a, đội tuyển Kurash Việt Nam thi đấu Giải Kurash vô địch Đông Nam Á và Giải Kurash vô địch bãi biển Đông Nam Á 2025, với thành tích đạt 40 Huy chương vàng, 22 Huy chương bạc và 07 Huy chương đồng, khẳng định vị thế số 1 khu vực của Việt Nam.
6. Số vụ tai nạn giao thông[38] chín tháng năm nay giảm cả về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước, cụ thể là: giảm 23,0% số vụ tai nạn, giảm 6,5% số người chết và giảm 30,8% số người bị thương.
Trong tháng Chín (từ 26/8-25/9/2025), trên địa bàn cả nước xảy ra 1.521 vụ tai nạn giao thông, làm 796 người chết và 1.050 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 16,1%; số người chết giảm 18,1%; số người bị thương giảm 15,7%.
Tính chung chín tháng năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 13.716 vụ tai nạn giao thông, làm 7.672 người chết và 9.186 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 23,0%; số người chết giảm 6,5% và số người bị thương giảm 30,8%. Bình quân 1 ngày trong chín tháng năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông, làm 28 người chết và 33 người bị thương.
7. Thiên tai, ô nhiễm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương.
Thiệt hại do thiên tai[39]: trong chín tháng năm nay, thiên tai làm 187 người chết và mất tích, 210 người bị thương; 246,4 nghìn ha lúa và hơn 40,0 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; hơn 762,0 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; 38,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong chín tháng năm nay ước tính 16.135,2 tỷ đồng, giảm 80,8% so với cùng kỳ năm 2024.
Riêng thiệt hại do cơn bão số 10[40] làm 56 người chết, 11 người mất tích và 172 người bị thương; 389 nhà sập, đổ; 179.881 nhà hư hỏng, tốc mái; 12.287 căn nhà bị ngập; 100.672 ha lúa, hoa màu và cây trồng khác bị ngập, hư hỏng; 19.095 ha thủy sản, 3.477 con gia súc và 590.772 con gia cầm bị thiệt hại; 6.819 điểm giao thông bị ngập lụt, sạt lở, ách tắc; 29.681 m kè, bờ sông, bờ biển bị sạt lở; 9.898 cột điện và 84.841 cây xanh bị gãy đổ; 1.409 điểm trường bị ảnh hưởng, thiệt hại. Thiệt hại kinh tế sơ bộ khoảng 18.803 tỷ đồng.
Bảo vệ môi trường[41]: trong chín tháng năm nay các cơ quan chức năng đã phát hiện 11.611 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 10.306 vụ với tổng số tiền phạt là gần 165,0 tỷ đồng, giảm 26,6% so với cùng kỳ năm trước.
Cháy nổ[42]: trong tháng (từ 15/8-14/9/2025), cả nước xảy ra 259 vụ cháy, nổ, làm 07 người chết và 08 người bị thương, thiệt hại ước tính 26,9 tỷ đồng, giảm 17,3% so với tháng trước và giảm 60,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong chín tháng năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.470 vụ cháy, nổ, làm 83 người chết và 97 người bị thương, thiệt hại ước tính gần 239,0 tỷ đồng, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước./.
[1] Chỉ số S&P 500 đạt mức cao nhất mọi thời đại vào tháng 7/2025, theo Reuters (2025), S&P 500, Nasdaq close at records; Deckers soars on Ugg demand, https://www.reuters.com/business/sp-500-nasdaq-close-records-deckers-soars-ugg-demand-2025-07-25, truy cập ngày 4/10/2025.
[2] WB (tháng 7/2025), Báo cáo “Toàn cầu hàng tháng, tháng 7/2025”, https://thedocs.worldbank.org/en/doc/de57f32fdf177170d1fe413327b553dd-0050012025/related/Global-Monthly-July2025.pdf, truy cập ngày 26/9/2025
[3] OECD (Tháng 9/2025), “Báo cáo sơ bộ Triển vọng kinh tế OECD: Tìm kiếm sự cân bằng trong thời điểm bất ổn”, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2025/09/oecd-economic-outlook-interim-report-september-2025_ae3d418b/67b10c01-en.pdf, truy cập ngày 26/9/2025.
[4] UN (Tháng 9/2025), “Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới, cập nhật tháng 9/2025”, https://desapublications.un.org/publications/world-economic-situation-and-prospects-2025-september-update, truy cập ngày 26/9/2025.
[5] FR (Tháng 9/2025), “Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 9/2025”, https://www.fitchratings.com/research/sovereigns/global-economic-outlook-september-2025-09-09-2025, truy cập ngày 26/9/2025.
[6] IMF (Tháng 7/2025), “Triển vọng kinh tế thế giới cập nhật – Nền kinh tế toàn cầu: Khả năng phục hồi mong manh giữa tình trạng bất ổn dai dẳng”, https://www.imf.org/en/Publications/WEO/Issues/2025/07/29/world-economic-outlook-update-july-2025, truy cập ngày 26/9/2025.
[7] ADB (Tháng 9/2025), “Triển vọng phát triển châu Á tháng 9/2025: Tăng trưởng chậm lại khi môi trường thương mại toàn cầu mới đang hình thành”, https://www.adb.org/publications/asian-development-outlook-september-2025, truy cập ngày 30/9/2025.
[8] Báo cáo phát hành tháng 6/2025; Số liệu của Việt Nam cập nhật theo Báo cáo điểm lại tháng 9/2025 của WB và “Kết luận đợt tham vấn Điều IV năm 2025 với Việt Nam” tháng 9/2025 của IMF.
[9] Tốc độ tăng GDP quý III các năm trong giai đoạn 2011-2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 6,37%; 5,50%; 5,71%; 6,59%; 7,16%; 6,92%; 7,54%; 7,20%; 7,62%; 3,0%; -6,03%; 14,38%; 5,38%; 7,43%; 8,23%.
[10] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm chín tháng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản so với cùng kỳ năm trước các năm trong giai đoạn 2011-2025 lần lượt là: 3,97%; 2,75%; 2,32%; 2,80%; 2,23%; 0,90%; 3,14%; 4,01%; 2,50%; 1,90%; 3,84%; 3,52%; 3,64%; 3,39% và 3,83%.
[11] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chín tháng các năm trong giai đoạn 2011-2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 8,79%; 7,92%; 4,62%; 5,51%; 8,93%; 7,07%; 6,92%; 8,90%; 8,64%; 2,30%; 3,06%; 9,99%; 1,45%; 8,31% và 8,55%.
[12] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chín tháng các năm trong giai đoạn 2011-2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 12,06%; 8,10%; 5,91%; 6,21%; 8,78%; 10,49%; 10,76%; 11,51%; 9,91%; 3,20%; 4,36%; 11,05%; 1,74%; 9,77% và 9,92%.
[13] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ chín tháng các năm trong giai đoạn 2011-2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 7,42%; 6,80%; 6,59%; 7,21%; 6,97%; 7,30%; 6,97%; 7,25%; 7,52%; 1,87%; 0,27%; 11,37%, 6,87%; 7,06% và 8,49%.
[14] Nguyên nhân do do một số địa phương chuyển một phần diện tích lúa sang cây trồng khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn
[15] Theo thông tin từ Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Tổng số lợn chết và tiêu hủy trong quý III là hơn 946 nghìn con, chiếm gần 95% tổng số lợn chết và tiêu hủy trong chín tháng năm 2025.
[16] Số liệu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính đến ngày 15/9/2025.
[17] Do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới trên Bắc Biển Đông, nhiều chuyến ra khơi bị hoãn, thời gian bám biển giảm, khiến sản lượng khai thác thấp hơn cùng kỳ năm trước.
[18] Chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo chính tháng các năm 2020-2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng là: 3,9%; 5,3%; 10,0%; 0,1%; 9,6%; 10,4%.
[19] Trong đó, số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động trong chín tháng năm 2025 đạt 3.300,3 nghìn tỷ đồng (tăng 186,5% so với cùng kỳ năm 2024).
[20] Chỉ số tương ứng của quý II/2025: Có 35,7% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn so với quý I/2025; 43,0% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 21,3% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.
[21] Là công dân Việt Nam ra khỏi lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam.
[22] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, nhận ngày 01/10/2025.
[23] Số liệu nhận từ Vụ Ngân sách nhà nước – Bộ Tài chính ngày 30/9/2025.
[24] Nhờ chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả, tạo động lực tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Thêm vào đó, công tác quản lý thu, mở rộng cơ sở thuế, rà soát đối tượng, nguồn thu trên địa bàn, công tác chuyển đổi số được tăng cường.
[25] Nhờ một số khoản thu nội địa đạt khá như: Các khoản thu từ nhà, đất do thị trường bất động sản hồi phục tích cực, kinh tế tăng trưởng khá, đầu tư công được đẩy mạnh, các địa phương thực hiện tốt Luật Đất đai năm 2024 và Công điện số 124/CĐ-TTg; thu thuế thu nhập doanh nghiệp đạt khá do các doanh nghiệp đã nộp ngân sách Nhà nước 4/5 kỳ và phát sinh tăng từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản.
[26] Số liệu sơ bộ xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Chín do Cục Hải quan cung cấp ngày 03/10/2025. .
[27] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa chín tháng năm 2024 đạt 580,15 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 300,65 tỷ USD, tăng 15,8%; nhập khẩu đạt 179,5 tỷ USD, tăng 17,6%.
[28] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.
[29] Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
[30] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.
[31] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.
[32] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.
[33] Theo báo cáo từ địa phương.
[34]https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=11154
[35]https://baochinhphu.vn/cap-nhat-ky-niem-80-nam-truyen-thong-nganh-giao-duc-va-le-khai-giang-dac-biet-102250904100325441.htm
[36] Theo báo cáo của Bộ Y tế.
[37] Chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “80 năm – Hành trình Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” diễn ra tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình vào ngày 01/9; hành trình âm nhạc “Tự hào Việt Nam” diễn ra tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngày 02/9; Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Ánh sao độc lập” diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02/9; Chương trình “Lời tri ân – Dòng sông hoa lửa” và Lễ công bố, đón nhận Bằng xếp hạng di tích Bến phà II Long Đại – nơi hy sinh của 16 thanh niên xung phong vào tháng 9/1972 diễn ra tại Quảng Trị vào ngày 18/9; Đại nhạc hội V Fest-Vietnam Today tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia vào ngày 20/9 với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ đã khép lại chuỗi hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh Việt Nam.
[38] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng) ngày 29/9/2025.
[39] Tổng hợp Báo cáo từ Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kỳ báo cáo từ ngày 26/8-25/9/2025.
[40] Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Cập nhật đến 7h00 ngày 05/10/2025).
[41] Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được các
Thống kê tỉnh, thành phố tổng hợp.
[42] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/9/2025.

Kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều điểm sáng nổi bật
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt, nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế nước ta đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều chỉ tiêu trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đạt và vượt mục tiêu đề ra. (20/01/2026)
Báo cáo phân tích Hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam năm 2025 và dự báo trong tương lai tới
Như chúng ta đều biết, sau khi EVN công bố số liệu về tổng sản lượng điện thương phẩm năm 2025 chỉ tăng 4,9% so với năm 2024, trong khi tăng trưởng GDP của nền kinh tế đạt 8,02%. Sự chênh lệch này khiến không ít ý kiến băn khoăn, thậm chí đặt câu hỏi liệu có sự “bất thường” giữa tăng tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tiêu thụ điện, vốn lâu nay vẫn được xem là hai chỉ tiêu có quan hệ song hành. (07/01/2026)
Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, tạo bước đột phá trong quản lý thuế
Năm 2025 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của ngành Thuế trong lộ trình chuyển đổi số quốc gia. Với việc tổ chức triển khai đồng bộ các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), Cục Thuế đã không ngừng hiện đại hóa công tác quản lý, nâng cao hiệu quả phục vụ người nộp thuế (NNT), góp phần tăng thu ngân sách nhà nước (NSNN), đảm bảo minh bạch, công bằng và hiệu lực quản lý thuế. (26/12/2025)
Đồng hành và chia sẻ khó khăn trong công tác chuyển đổi số
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai chương trình công tác năm 2026 do Cục CNTT tổ chức (ngày 19/12/2025), các đại biểu đã chia sẻ những khó khăn trong công tác chuyển đổi số. (22/12/2025)
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia
Phát biểu kết luận Hội nghị sơ kết 1 năm triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, 5 năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước, 4 năm triển khai Đề án 06, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 nhấn mạnh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đòi hỏi khách quan, sự lựa chọn mang tính chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong đầu tư, là động lực phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia. (20/12/2025)
Kinh tế tuần hoàn là động lực chuyển đổi xanh
Trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn được xác định là một động lực then chốt của chuyển đổi xanh trong mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam. Đây cũng là thông điệp xuyên suốt tại phiên chuyên đề "Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững", diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026. (19/12/2025)

