I. BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
Tình hình thế giới quý I/2026 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường khi xung đột vũ trang tại Trung Đông gia tăng, đe dọa đến hòa bình, an ninh toàn cầu, gây biến động mạnh về giá năng lượng, gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng áp lực lạm phát. Đồng thời, bất ổn dai dẳng về chính sách thương mại cùng với tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu đặt ra thách thức lớn đối với tăng trưởng kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, kinh tế toàn cầu được dự báo vẫn duy trì đà tăng trưởng từ năm 2025 do triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng tăng và đầu tư vào sản xuất công nghệ mạnh mẽ trở thành xu thế mới, là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu trong năm 2026.
Các tổ chức quốc tế giữ nguyên hoặc điều chỉnh tăng trưởng toàn cầu năm 2026 cao hơn so với dự báo đưa ra trước đó khi tăng trưởng của một số nền kinh tế như Hoa Kỳ, khu vực ASEAN được dự báo tăng, bù đắp mức sụt giảm của khu vực châu Âu và phần còn lại của thế giới. Tháng 01/2026, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)[1], Liên hợp quốc (UN)[2] và Ngân hàng Thế giới (WB)[3] dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu lần lượt đạt 3,3%, 2,7% và 2,6%, cùng điều chỉnh tăng 0,2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra trước đó. Tháng 3/2026, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)[4], Fitch Ratings[5] dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu lần lượt đạt 2,9% và 2,6%, không thay đổi và tăng 0,2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra trong tháng 12/2025. Tuy nhiên, hầu hết các tổ chức quốc tế đều dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 thấp hơn năm 2025 từ 0,1 đến 0,4 điểm phần trăm.
Các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á[6] năm 2026 nhưng đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực. Theo đó, tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 6,0-7,6%[7]; Phi-li-pin từ 5,3-5,7%; In-đô-nê-xi-a từ 4,8-5,1%; Ma-lai-xi-a từ 4,0-4,3%; Xin-ga-po từ 1,8-2,1% và Thái Lan từ 1,6-2,0%.
Năm 2026 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, năm tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Đây cũng là năm đầu tiên nước ta triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng bình quân năm đạt từ mười phần trăm trở lên, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo linh hoạt, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương ngay từ những tháng đầu năm 2026 đã theo dõi chặt chẽ biến động tình hình kinh tế thế giới và trong nước, nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong các Nghị quyết phát triển kinh tế – xã hội của Quốc hội và Chính phủ nhằm đạt mục tiêu đề ra. Kinh tế – xã hội quý I/2026 của nước ta đạt được kết quả tích cực trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn, thách thức. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý I/2026 như sau:
II. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2026 ước tăng 7,83%[8] so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,07%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, đóng góp 5,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%, đóng góp 44,08%; khu vực dịch vụ tăng 8,18%, đóng góp 50,32%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định, sản lượng cây lâu năm đạt khá, chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi, sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng cao nhờ ứng dụng khoa học công nghệ. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp quý I/2026 tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 4,01% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,21%; ngành thủy sản tăng 4,51%, đóng góp 1,38%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, sản xuất công nghiệp duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, hoạt động xây dựng khởi sắc nhờ đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý I/2026 tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,63%), đóng góp 38,34% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 9,73% (quý I/2025 tăng 9,36%), đóng góp 32,52%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,54%, đóng góp 3,78%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,58%, đóng góp 0,63%; ngành khai khoáng tăng 5,42%, đóng góp 1,41%. Ngành xây dựng tăng 8,36%, đóng góp 5,74%.
Trong khu vực dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng vào dịp Tết Nguyên đán và khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế quý I năm nay như sau: Ngành bán buôn và bán lẻ tăng 9,62% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 14,52%; ngành vận tải kho bãi tăng 8,95%, đóng góp 6,95%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,70%, đóng góp 5,09%; ngành thông tin và truyền thông tăng 7,65%, đóng góp 4,21%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,49%, đóng góp 2,89%. Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ có nguồn chủ yếu từ ngân sách Nhà nước cũng có mức tăng khá như: Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị – xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc tăng 9,62% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 2,53%; giáo dục và đào tạo tăng 8,25%, đóng góp 4,05%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 6,90%, đóng góp 2,18%.
Về cơ cấu nền kinh tế quý I/2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,89%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,15%; khu vực dịch vụ chiếm 43,45%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,51%[9].
Về sử dụng GDP quý I/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,45% so với cùng kỳ năm trước, tích lũy tài sản tăng 7,18%, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,85%, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 24,27%.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2026 duy trì tăng trưởng ổn định. Các địa phương tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị sản phẩm. Sản xuất cây lâu năm đạt khá, chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi, chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 4,9%, sản lượng thịt gia cầm tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới và sản lượng gỗ khai thác tăng nhẹ. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng 5,4% nhờ đẩy mạnh nuôi siêu thâm canh, tăng cường ứng dụng công nghệ cao, khai thác biến có mức tăng thấp do ảnh hưởng từ giá dầu tăng cao khiến tàu thuyền hạn chế ra khơi.
a) Nông nghiệp
Lúa đông xuân: Tính đến ngày 20/3/2026, cả nước gieo cấy được 2.915,2 nghìn ha lúa đông xuân, giảm 37,3 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2025. Các địa phương phía Bắc đạt 1.020,1 nghìn ha, giảm 13,4 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước; các địa phương phía Nam đạt 1.895,1 nghìn ha, giảm 23,9 nghìn ha. Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.240,7 nghìn ha, giảm 24,8 nghìn ha; trong đó đã thu hoạch 466,8 nghìn ha được lúa đông xuân sớm, chiếm 37,6% diện tích xuống giống và giảm 28,4 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước; năng suất ước đạt 73,5 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha so với vụ lúa đông xuân 2025; sản lượng ước đạt 9,1 triệu tấn, giảm 99,3 nghìn tấn.
Lúa mùa: Kết thúc vụ lúa mùa năm 2025-2026, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo trồng được 182,3 nghìn ha, giảm 9,4 nghìn ha so với vụ lúa mùa năm trước; năng suất ước đạt 53,5 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với vụ mùa trước; sản lượng ước đạt 975,3 nghìn tấn, giảm 34,5 nghìn tấn.
Cây hằng năm: Tính đến ngày 20/3/2026, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 312,8 nghìn ha ngô, bằng 97,1% cùng kỳ năm trước; 89,6 nghìn ha lạc, bằng 98,7%; 9,5 nghìn ha đậu tương, bằng 105,6%; 43,0 nghìn ha khoai lang, tương đương cùng kỳ năm trước; 527,9 nghìn ha rau, bằng 100,4%.
Cây lâu năm: Trong quý I năm nay, giá các loại nông sản chủ lực duy trì ở mức cao đã khuyến khích người dân mở rộng quy mô trồng và đầu tư chăm sóc. Bên cạnh đó công tác quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu được quan tâm, sản lượng một số cây ăn quả chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ, như: Sầu riêng đạt 212,9 nghìn tấn, tăng 15,0%; mít đạt 199,9 nghìn tấn, tăng 12,8%; bưởi đạt 175,5 nghìn tấn, tăng 5,8%; chuối đạt 835,7 nghìn tấn, tăng 5,3%; thanh long đạt 341,3 nghìn tấn, tăng 3,1%; xoài đạt 207,6 nghìn tấn, tăng 1,8%; cam đạt 333,2 nghìn tấn, tăng 1,2%.
Sản lượng thu hoạch một số cây công nghiệp lâu năm quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Dừa đạt 593,8 nghìn tấn, tăng 6,0%; điều đạt 208,7 nghìn tấn, tăng 5,4%; hồ tiêu đạt 154,8 nghìn tấn, tăng 5,3%; chè búp đạt 187,7 nghìn tấn, tăng 4,2%; cao su đạt 135,5 nghìn tấn, tăng 0,4%.
Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò quý I/2026 tiếp tục gặp khó khăn do diện tích đất dành cho chăn nuôi đang dần thu hẹp, hiệu quả không cao, nhiều địa phương giảm quy mô đàn. Chăn nuôi lợn tiếp tục xu hướng phục hồi, phát triển ổn định nhờ giá thịt lợn ở mức cao. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt nhờ áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và liên kết chuỗi với các doanh nghiệp lớn.
b) Lâm nghiệp
Trong quý I/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 45,6 nghìn ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 19,0 triệu cây, giảm 1,5%[10]; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.337,8 nghìn m3, tăng 2,6%. Diện tích rừng bị thiệt hại[11] 57,8 ha rừng bị thiệt hại, giảm 73,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích rừng bị chặt, phá là 56,9 ha, giảm 66,0%; diện tích rừng bị cháy là 0,9 ha, giảm 98,1%.
c) Thủy sản
Trong quý I/2026, sản lượng thủy sản ước đạt 2.184,0 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.621,9 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 229,8 nghìn tấn, tăng 6,2%; thủy sản khác đạt 332,3 nghìn tấn, tăng 2,9%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I/2026 ước đạt 1.296,8 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 946,7 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 196,3 nghìn tấn, tăng 7,3%; thủy sản khác đạt 153,8 nghìn tấn, tăng 6,7%.
Sản lượng thủy sản khai thác quý I/2026 ước đạt 887,2 nghìn tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 675,2 nghìn tấn, tăng 0,2%; tôm đạt 33,5 nghìn tấn, tăng 0,3%; thủy sản khác đạt 178,5 nghìn tấn, giảm 0,2%. Riêng sản lượng thủy sản khai thác biển quý I/2026 ước đạt 839,3 nghìn tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước (tháng 3/2026 ước đạt 271,3 nghìn tấn, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước).
3. Sản xuất công nghiệp trong quý I/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của quý I kể từ năm 2020 đến nay[12], trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,7%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng Ba ước tăng 18,8% so với tháng trước[13] và tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện tăng 4,6%; ngành khai khoáng tăng 2,6%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 ước tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 8,3%), trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 4,7%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Chỉ số sản xuất quý I/2026 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 22,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 19,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 18,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,7%; sản xuất đồ uống tăng 14,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,0%; dệt tăng 8,6%; sản xuất trang phục tăng 8,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học cùng tăng 8,3%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 7,3%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 3,1%; khai thác than cứng và than non giảm 4,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 0,9%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: xe máy tăng 31,6%; thủy hải sản chế biến tăng 23,4%; thép thanh, thép góc tăng 21,1%; thép cán tăng 20,3%; sơn hóa học tăng 19,2%; ô tô tăng 18,5%; sữa bột tăng 14,5%; sắt, thép thô tăng 14,3%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân Ure giảm 9,6%; điện thoại di động giảm 6,6%; phân hỗn hợp NPK giảm 5,4%; than (than sạch) giảm 4,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 3,5%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2026 tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 5,4%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2026 tăng 8,5% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 12,9% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân quý I/2026 là 84,8% (cùng kỳ năm 2025 là 90,0%).
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2026 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước.
5. Tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường quý I/2026 đạt 96,0 nghìn doanh nghiệp, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2025; 91,8 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 16,5%.
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Quý I/2026, cả nước có hơn 57,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 538,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký hơn 265,9 nghìn lao động, tăng 57,8% về số doanh nghiệp, tăng 51,0% về số vốn đăng ký và tăng 16,5% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong quý I/2026 đạt 9,4 tỷ đồng, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong quý I/2026 là hơn 1,3 triệu tỷ đồng, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm 2025.[14]
Bên cạnh đó, cả nước có hơn 38,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong quý I/2026 lên 96,0 nghìn doanh nghiệp, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 32,0 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Cũng trong quý I năm nay, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 63,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; hơn 16,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 44,9%; hơn 11,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 98,8%. Bình quân một tháng có 30,6 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2026 cho thấy: Có 23,8% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý IV/2025; 46,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 30,1% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn[15]. Dự kiến quý II/2026, có 40,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý I/2026; 37,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 21,7% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp FDI lạc quan nhất với 80,0% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2026 tốt hơn và giữ ổn định so với quý I/2026; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước lần lượt là 79,6% và 77,3%.
Về khối lượng sản xuất, có 23,8% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý I/2026 tăng so với quý IV/2025; 45,3% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 30,9% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm[16]. Xu hướng quý II/2026 so với quý I/2026, có 40,0% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 41,8% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 18,2% số doanh nghiệp dự báo giảm.
Về đơn đặt hàng, có 21,9% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới quý I/2026 cao hơn quý IV/2025; 49,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng mới ổn định và 28,5% số doanh nghiệp có đơn hàng giảm[17]. Xu hướng quý II/2026 so với quý I/2026, có 37,7% số doanh nghiệp dự kiến số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 44,2% số doanh nghiệp dự kiến số lượng ổn định và 18,1% số doanh nghiệp dự kiến giảm.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý I/2026 so với quý IV/2025, có 17,7% số doanh nghiệp khẳng định số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cao hơn; 55,0% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng xuất khẩu mới ổn định và 27,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm. Xu hướng quý II/2026 so với quý I/2026, có 30,3% số doanh nghiệp dự kiến tăng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới; 51,0% số doanh nghiệp dự kiến ổn định và 18,7% số doanh nghiệp dự kiến giảm.
5. Nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng trong các dịp lễ, Tết cùng với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng là những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng ngành thương mại, dịch vụ trong quý I/2026. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 18,3% và luân chuyển hành khách tăng 11,3%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,5% và luân chuyển hàng hóa tăng 12,0%. Khách quốc tế đến Việt Nam đạt 6,76 triệu lượt người, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất của quý I các năm từ trước đến nay.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 3/2026 ước đạt 638,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.902,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,0%.

Vận tải hành khách tháng 3/2026 ước đạt 539,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 26,8 tỷ lượt khách.km, tăng 11,9%. Tính chung quý I/2026, vận tải hành khách ước đạt 1.649,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 84,5 tỷ lượt khách.km, tăng 11,3%.
Vận tải hàng hóa tháng 3/2026 ước đạt 272,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 54,8 tỷ tấn.km, tăng 14,9%. Tính chung quý I/2026, vận tải hàng hóa ước đạt 810,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 157,6 tỷ tấn.km, tăng 12,0%.
Doanh thu viễn thông quý I/2026 theo giá hiện hành ước đạt 102,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,6%). Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối tháng 3/2026 ước đạt 122,4 triệu thuê bao, tăng 0,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó số thuê bao di động là 120,0 triệu thuê bao, tăng 1,3%. Số thuê bao truy cập internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối tháng Ba ước đạt hơn 25,3 triệu thuê bao, tăng 4,0% so với cùng thời điểm năm trước.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong quý I/2026 đạt 6,76 triệu lượt người, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 5,56 triệu lượt người, chiếm 82,3% lượng khách quốc tế đến và tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 1,05 triệu lượt người, chiếm 15,5% và tăng 53,1%; bằng đường biển đạt 148,2 nghìn lượt người, chiếm 2,2% và tăng 11,4%. Phân theo vùng lãnh thổ, khách đến từ châu Á trong quý I/2026 đạt 4,92 triệu lượt người, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; từ châu Âu đạt 1,23 triệu lượt người, tăng 55,6%; từ châu Mỹ đạt 403,2 nghìn lượt người, tăng 18,1%; từ châu Úc đạt 189,7 nghìn lượt người, tăng 18,5%; từ châu Phi đạt 15,8 nghìn lượt người, tăng 28,4%.
Số lượt người Việt Nam xuất cảnh trong quý I/2026 ước đạt 1,2 triệu lượt người, giảm 55% so với cùng kỳ năm trước.
6. Chính sách tiền tệ trong quý I/2026 được điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ, hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác hỗ trợ tăng trưởng, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và hệ thống ngân hàng; hoạt động kinh doanh bảo hiểm ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực; quy mô giao dịch trên thị trường chứng khoán tăng khá, góp phần huy động vốn cho doanh nghiệp.
Tổng phương tiện thanh toán tính đến thời điểm 24/3/2026 tăng 1,04% so với cuối năm 2025 (cùng thời điểm năm 2025 tăng 1,89%), huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 0,44% (cùng thời điểm năm 2025 tăng 1,23%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,15% (cùng thời điểm năm 2025 tăng 2,28%).
Về thị trường bảo hiểm, trong quý I/2026, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 57.058 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: doanh thu phí lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 33.073 tỷ đồng, giảm 2,5%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 23.985 tỷ đồng, tăng 10,2%.
Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 31/3/2026, chỉ số VNIndex đạt 1.674,49 điểm, giảm 6,2% so với so với cuối năm 2025; mức vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến 30/3/2026 ước đạt 9.613,6 nghìn tỷ đồng, giảm 3,6%; giá trị giao dịch bình quân đạt 35.043 tỷ đồng/phiên, tăng 19,8% so với bình quân năm 2025. Tính đến cuối tháng 02/2026, thị trường cổ phiếu có 728 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết; 844 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt 2.768 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5% so với cuối năm 2025.
Trên thị trường trái phiếu, giá trị giao dịch bình quân quý I/2026 đạt 21.452 tỷ đồng/phiên, tăng 2,6% so với bình quân năm 2025. Đến cuối tháng 02/2026, thị trường trái phiếu có 471 mã niêm yết với giá trị niêm yết đạt 2.719 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với cuối năm 2025.
Trên thị trường chứng khoán phái sinh, quý I/2026 khối lượng giao dịch bình quân đạt gần 276,9 nghìn hợp đồng/phiên, tăng 14,2% so với bình quân năm 2025. Số lượng tài khoản của nhà đầu tư tính đến cuối tháng 02/2026 đạt 12,3 triệu tài khoản, tăng 3,7% so với cuối năm 2025.
7. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong quý I/2026 theo giá hiện hành tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 9,4% cùng kỳ quý I/2025, phản ánh xu hướng phục hồi rõ nét ở nhiều ngành, lĩnh vực, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện kết cấu hạ tầng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam quý I/2026 ước đạt 5,41 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất quý I của các năm từ 2022 đến nay.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2026 theo giá hiện hành ước đạt 744,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước ước đạt 207,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,8% tổng vốn đầu tư và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 402,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 54,1%, tăng 9,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 135,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1% và tăng 11,8%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[18] tính đến ngày đến ngày 31/3/2026[19] đạt 15,20 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn đăng ký cấp mới có 904 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 10,23 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,4 lần về số vốn đăng ký. Vốn đăng ký điều chỉnh có 251 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 2,30 tỷ USD, giảm 55,1% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 703 lượt với tổng giá trị góp vốn 2,66 tỷ USD, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ba tháng đầu năm 2026 ước đạt 5,41 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong ba tháng đầu năm 2026 có 48 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 597,2 triệu USD, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước; có 4 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 22,8 triệu USD, gấp 4,3 lần. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 619,9 triệu USD, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước.
8. Thu ngân sách Nhà nước quý I/2026[20] ước tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2025, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Tổng thu ngân sách Nhà nước quý I/2026 đạt 829,4 nghìn tỷ đồng, bằng 32,8% dự toán năm và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước[21]. Trong đó: thu nội địa ước đạt 740,7 nghìn tỷ đồng, bằng 33,7% dự toán năm và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; thu từ dầu thô ước đạt 11,2 nghìn tỷ đồng, bằng 26,1% dự toán năm và giảm 15,8% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, giá dầu thế giới tăng cao[22]; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 77,4 nghìn tỷ đồng, bằng 27,8% dự toán năm và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nước quý I/2025 ước đạt 530,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,8% dự toán năm và tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên đạt 376,0 nghìn tỷ đồng, bằng 20,8% dự toán năm và tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước; chi đầu tư phát triển đạt 116,1 nghìn tỷ đồng, bằng 10,4% và tăng 44,6%; chi trả nợ lãi 37,2 nghìn tỷ đồng, bằng 30,7% và tăng 11,9%.
9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[23]
Quý I/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,50 tỷ USD, tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,1%; nhập khẩu tăng 27,0%[24]. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,64 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2026 đạt 46,44 tỷ USD, tăng 40,3% so với tháng trước. Tính chung quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3%, chiếm 80,1%. Có 20 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 62,4%).
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2026 đạt 47,11 tỷ USD, tăng 38,2% so với tháng trước. Tính chung quý I/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 126,57 tỷ USD, tăng 27,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 35,2 tỷ USD, giảm 4,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,37 tỷ USD, tăng 45,3%. Có 22 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 82,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 49,8%).
b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ quý I/2026, ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4,9 tỷ USD (chiếm 53,8% tổng kim ngạch), tăng 16,7%; dịch vụ vận tải đạt 2,65 tỷ USD (chiếm 29,1%), tăng 29,3%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ quý I/2026 ước đạt 10,78 tỷ USD (trong đó đã tính trong phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 4,0 tỷ USD), tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,75 tỷ USD (chiếm 44,1% tổng kim ngạch), tăng 27,2%; dịch vụ du lịch đạt 3,8 tỷ USD (chiếm 35,3%), tăng 11,8%.
Nhập siêu dịch vụ quý I/2026 là 1,68 tỷ USD.
10. Trong quý I/2026, thị trường hàng hóa thế giới biến động phức tạp, khó lường, xung đột leo thang tại Trung Đông ảnh hưởng đến các tuyến vận tải huyết mạch, làm gia tăng rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu; xu hướng bảo hộ thương mại, kiểm soát xuất khẩu, nhập khẩu và tích trữ hàng hóa chiến lược tại nhiều quốc gia ngày càng gia tăng. Các yếu tố này tác động đến giá năng lượng, chi phí logistics, giá nguyên, nhiên vật liệu sản xuất. Trong nước, hoạt động sản xuất duy trì tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dịp Tết. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý I/2026 tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, chỉ số giá xuất khẩu và chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý I/2026 giảm so với cùng kỳ năm 2025.
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2026 tăng 1,23% so với tháng trước do giá xăng dầu trong nước tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và vận chuyển gia tăng. So với tháng 12/2025, CPI tháng Ba tăng 2,44% và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng CPI cao nhất của tháng Ba so với cùng kỳ năm trước trong vòng 5 năm qua[25]. Tính chung quý I/2026, CPI tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước.
Lạm phát cơ bản[26] tháng 3/2026 tăng 0,47% so với tháng trước và tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2026, lạm phát cơ bản tăng 3,63% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 3,51% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá lương thực là yếu tố tác động giảm CPI chung nhưng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Giá vàng trong nước biến động ngược chiều với giá vàng thế giới. Trong tháng 3/2026, giá vàng thế giới giảm mạnh sau giai đoạn tăng cao trước đó do tác động kết hợp của các yếu tố kinh tế và tâm lý thị trường trong bối cảnh địa chính trị phức tạp. Hoạt động chốt lời và rút vốn của nhà đầu tư gia tăng sau đợt tăng giá cuối tháng 02/2026 làm tăng áp lực bán trên thị trường vàng. Cùng với đó, đồng đô la Mỹ tăng giá và kỳ vọng lãi suất duy trì ở mức cao làm giảm sức hấp dẫn của vàng. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,54% so với tháng trước; tăng 82,77% so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá vàng; so với tháng 12/2025 tăng 18,81%; bình quân quý I/2026, chỉ số giá vàng tăng 82,70%.
Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới, bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.315 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,72% so với tháng trước; tăng 2,25% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,47% so với tháng 12/2025; bình quân quý I/2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,58%.
c) Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2026 tăng 5,39% so với quý trước và tăng 4,50% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 6,20% và tăng 4,49%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 2,41% và tăng 3,73%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 2,69% và tăng 4,28%.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2026 tăng 0,68% so với quý trước và tăng 2,95% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 0,05% và giảm 3,59%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,69% và tăng 3,13%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,97% và tăng 5,23%; nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,01% và tăng 2,73%.
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý I/2026 tăng 2,08% so với quý trước và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 5,75% và tăng 8,77%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 2,20% và tăng 5,29%; thông tin và truyền thông tăng 0,05% và giảm 0,06%; giáo dục và đào tạo tăng 0,15% và tăng 3,42%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 0,38% và tăng 0,63%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 0,36% và tăng 1,52%.
Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2026 tăng 1,44% so với quý trước và tăng 4,76% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,87% và tăng 3,84%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,42% và tăng 4,64%; dùng cho xây dựng tăng 1,59% và tăng 6,32%.
d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý I/2026 tăng 0,31% so với quý trước và giảm 0,18% so với cùng kỳ năm 2025. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý I/2026 tăng 0,63% so với quý trước và giảm 1,42% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT)[27] quý I/2026 giảm 0,32% so với quý trước và tăng 1,26% so với cùng kỳ năm 2025.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Tình hình lao động, việc làm quý I/2026, thị trường lao động tiếp tục duy trì ổn định. Quy mô lực lượng lao động và số người có việc làm giảm so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước, phù hợp với quy luật của quý đầu năm. Thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với cả quý trước và cùng kỳ năm trước, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm được kiểm soát; tỷ lệ lao động phi chính thức giảm so với cùng kỳ năm trước.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý I/2026 ước tính là 53,6 triệu người, giảm 232,9 nghìn người so với quý trước và tăng 687,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I/2026 là 68,3%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý I/2026 là 29,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Lao động có việc làm quý I/2026 ước tính là 52,5 triệu người, giảm 233,4 nghìn người, tương ứng giảm 0,4% so với quý trước và tăng 656,8 nghìn người, tương ứng tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động có việc làm khu vực thành thị là 20,6 triệu người, chiếm 39,2%, giảm 122,2 nghìn người so với quý trước và tăng 587,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, chiếm 60,8%, giảm 111,2 nghìn người và tăng 69,3 nghìn người.
Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[28] quý I/2026 là 786,7 nghìn người, tăng 2,7 nghìn người so với quý trước và giảm 10,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,68%, gần như không thay đổi so với quý trước và giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị là 1,27%; khu vực nông thôn là 1,95%.
Thu nhập bình quân của lao động quý I/2026 tiếp tục được cải thiện, đạt 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 329 nghìn đồng (tương ứng 3,8%) so với quý trước và tăng 706 nghìn đồng (tương ứng 8,5%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 10,1 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 7,7 triệu đồng/tháng; lao động khu vực thành thị là 10,7 triệu đồng/tháng; lao động khu vực nông thôn là 7,9 triệu đồng/tháng.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[29] quý I/2026 là 2,21%, hầu như không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực thành thị là 2,46%, tiếp tục duy trì dưới 3,0%[30].
Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[31] quý I/2026 là 4,2%. Trong đó, khu vực thành thị là 3,9%; khu vực nông thôn là 4,3%.
Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý I/2026 là hơn 3,8 triệu người, tương đương so với cùng kỳ năm trước.
2. Theo kết quả báo cáo điều tra lao động và việc làm hằng tháng thu nhập và đời sống của hộ dân cư được cải thiện. Công tác an sinh xã hội tiếp tục được các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện kịp thời, thiết thực.
Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong các tháng trong quý I/2026 tăng lên so với cùng kỳ năm 2025 là 31,8%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không thay đổi là 64,0%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 4,2%. So với quý IV/2025, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên tăng 3,3 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không đổi giảm 3,6 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết tăng 0,3 điểm phần trăm. So với quý I/2025, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên giảm 2,7 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không đổi tăng 2,1 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết tăng 0,6 điểm phần trăm.
Tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội[32] cho các nhóm (tính đến ngày 25/3/2026) là đạt gần 25,0 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 7,0 nghìn tỷ đồng (tăng gần 39,0%) so với quý I/2025. Chi tiết cho từng nhóm đối tượng cụ thể như sau: Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng gần 12,7 nghìn tỷ đồng, tăng 38,7% so với quý I/2025; hỗ trợ cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP gần 10,4 nghìn tỷ đồng, tăng 53,5%; hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội là gần 1,6 nghìn tỷ đồng, giảm 15,3%; hỗ trợ bất thường khác phát sinh tại địa phương là gần 366,2 tỷ đồng, tăng 66,5%. Có hơn 32,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng, tăng 22,2% so với quý I/2025.
Về hỗ trợ gạo, tính từ đầu năm đến ngày 27/3/2026, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 15,3 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 5,6 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 372,9 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 604 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 40,3 nghìn nhân khẩu.
Về “Chiến dịch Quang Trung”, sau 1,5 tháng triển khai, Chiến dịch đã vượt tiến độ 2 tuần, 34.759 nhà bị hư hỏng được hoàn thành sửa chữa để người dân trở về ở trước ngày 31/12/2025, toàn bộ 1.597 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi được xây dựng lại và hoàn thành trước ngày 15/01/2026 để người dân có mái nhà kiên cố, chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và chuẩn bị đón xuân mới[33].
Thực hiện Thông báo Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới, ngày 19/3/2026, tại 121 xã biên giới trên đất liền thuộc 17 tỉnh, thành phố trên cả nước đã đồng loạt khởi công xây dựng trường nội trú liên cấp. Cùng với 108 trường khởi công năm 2025, nâng tổng số lên 229 trường phổ thông nội trú liên cấp, tạo điều kiện phát triển giáo dục toàn diện cho các em học sinh ở 229 xã biên giới đất liền[34].
3. Tình hình dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm quý I/2026 tuy được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người dân.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, quý I/2026, cả nước có 38,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (04 trường hợp tử vong[35]); 22,6 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (04 trường hợp tử vong[36]); 2.430 trường hợp sốt phát ban nghi sởi; 81 trường hợp viêm não vi rút; 54 người mắc COVID-19; 21 trường hợp viêm màng não do não mô cầu; 10 người tử vong do bệnh dại.
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/3/2026 là 255,6 nghìn người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 118,1 nghìn người.
Về vệ sinh an toàn thực phẩm, theo phản ánh của một số cơ quan truyền thông, thời gian qua, cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý vụ việc thu gom, vận chuyển, giết mổ và tiêu thụ sản phẩm lợn bệnh với quy mô lớn tại một số địa phương, làm sai lệch kết quả kiểm soát giết mổ, tạo điều kiện để động vật, sản phẩm không bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, mất an toàn vệ sinh thực phẩm được đưa ra thị trường. Trước tình hình này, ngày 30/3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Công điện số 26/CĐ-TTg chấn chỉnh công tác kiểm soát giết mổ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ[37].
Về ngộ độc thực phẩm, quý I/2026 (từ ngày 19/12/2025 đến 17/3/2026), cả nước xảy ra 20 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 500 người bị ngộ độc (03 người tử vong).
4. Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được các địa phương quan tâm và thực hiện. Thể thao thành tích cao đạt được một số kết quả nổi bật.
Trong quý, nhiều hoạt động văn hóa diễn ra sôi nổi, đa dạng, gồm lễ hội truyền thống, bảo tồn di sản, các sự kiện nghệ thuật và sáng tạo. Một số lễ hội truyền thống đã được tổ chức: Lễ hội Gò Đống Đa, Hội Gióng Sóc Sơn; Hội chùa Hương; Lễ hội Yên Tử; Hội chợ Viềng; Lễ hội đền Bà Chúa Kho và Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc. Bên cạnh đó, trong quý còn diễn ra nhiều sự kiện văn hóa nổi bật khác như: Các sự kiện chào năm mới và hoạt động tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam với các chương trình tái hiện lễ hội dân gian, chợ phiên vùng cao và giao lưu văn hóa giữa các dân tộc; Festival Phở 2026 từ ngày 20-22/3 tại Ninh Bình; Tuần lễ Áo dài 2026 từ ngày 01-08/3 chào mừng 116 năm ngày Quốc tế Phụ nữ…; Lễ khai mạc Năm Du lịch quốc gia – Gia Lai 2026 với chủ đề “Gia Lai – Đại ngàn chạm biển xanh” tổ chức ngày 28/3 tại Gia Lai nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam, góp phần thúc đẩy du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Về phong trào thể dục thể thao quần chúng, quý I/2026, thể thao phong trào diễn ra sôi nổi, rộng khắp và có sự tham gia tích cực của đông đảo quần chúng Nhân dân, gắn với các hoạt động kỷ niệm Ngày Thể thao Việt Nam (27/3) và định hướng phát triển thể dục thể thao trong giai đoạn mới. Nhiều địa phương đồng loạt triển khai “Tháng hoạt động thể dục, thể thao cho mọi người” và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân, thu hút hàng nghìn đến hàng triệu người hưởng ứng.
Về thể thao thành tích cao, quý I/2026, thể thao thành tích cao Việt Nam ghi nhận nhiều hoạt động sôi nổi và có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục Thể thao (27/3/1946-27/3/2026) và chuẩn bị cho Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X, một số hoạt động nổi bật như: Giải Vô địch quốc gia Marathon và cự ly dài báo Tiền Phong lần thứ 67 tổ chức tại Khánh Hòa từ ngày 27-29/3; giải cầu lông quốc tế Ciputra Hà Nội diễn ra tại Hà Nội từ ngày 22-29/3; giải bóng rổ 3×3 mở rộng tại Hà Nội từ ngày 13-15/3 và các giải bóng rổ 3×3 U16 Quốc gia; giải xe đạp nữ quốc tế diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 09-14/3; vật bãi biển tại Bắc Ninh từ 8-15/3 và golf chuyên nghiệp Vietnam Masters 2026 diễn ra tại Long An từ ngày 15-19/3.
Về thành tích thi đấu quốc tế, đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam có những kết quả đan xen tại Asian Cup 2026 diễn ra tại Ô-xtrây-li-a từ ngày 01-21/3. Song song với thi đấu, nhiều hoạt động vinh danh như Gala “Vinh quang Thể thao Việt Nam” và Ngày chạy Olympic toàn quốc đã được tổ chức, góp phần tôn vinh các vận động viên xuất sắc và lan tỏa tinh thần thể thao.
5. Tai nạn giao thông[38]
Trong quý I năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 3.926 vụ tai nạn giao thông, làm 2.407 người chết và 2.352 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 15,7%; số người chết giảm 6,7% và số người bị thương giảm 24,1%. Bình quân 1 ngày trong quý I/2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông, làm 27 người chết và 26 người bị thương.
6. Thiệt hại do thiên tai[39] ô nhiễm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương
Quý I/2026, thiên tai làm 01 người chết, 10 người bị thương; hơn 2,4 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hại; 446 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hại. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong quý I/2026 ước tính 159,7 tỷ đồng, tăng 76,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Cũng trong quý I/2026 đã phát hiện 5.591 vụ vi phạm môi trường[40], trong đó xử lý 4.832 vụ với tổng số tiền phạt là 87,6 tỷ đồng, tăng 24,0% so với cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn cả nướcxảy ra 729 vụ cháy, nổ[41], làm 26 người chết và 34 người bị thương, thiệt hại ước tính 237,6 tỷ đồng, gấp 4,6 lần cùng kỳ năm trước.
[1] IMF (Tháng 01/2026), “Triển vọng kinh tế thế giới cập nhật: Kinh tế toàn cầu: Ổn định giữa những lực lượng đối lập”, https://www.imf.org/en/publications/weo/issues/2026/01/19/world-economic-outlook-update-january-2026, truy cập ngày 26/3/2026.
[2] UN (Tháng 01/2026), “Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới tháng 01/2026”, https://www.un.org/development/desa/dpad/publication/world-economic-situation-and-prospects-2025/, truy cập ngày 26/3/2026.
[3] WB, tháng 01/2026, “Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 01/2026”, https://www.worldbank.org/en/publication/global-economic-prospects, truy cập ngày 26/3/2026.
[4] OECD (Tháng 3/2026), “Triển vọng kinh tế sơ bộ OECD tháng 3/2026: “Kiểm tra khả năng phục hồi”, https://www.oecd.org/en/publications/oecd-economic-outlook-interim-report-march-2026_d4623013-en.html, truy cập ngày 27/3/2026.
[5] FR (Tháng 3/2026), “Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 3/2026: Tăng trưởng tiếp tục bất chấp những biến động chính trị”, https://www.fitchratings.com/research/sovereigns/global-economic-outlook-march-2026-11-03-2026, truy cập ngày 26/3/2026.
[6] AMRO (Tháng 01/2026), “Bản cập nhật hàng quý Triển vọng kinh tế khu vực ASEAN+3”, https://amro- asia.org/asean3-regional-economic-outlook-areo/, truy cập ngày 26/3/2026.
[7] WB, UN và AMRO dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2026 lần lượt đạt 6,3%; 6,0% và 7,6%.
[8] Bắt đầu từ quý I/2026, tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh được tính theo năm gốc 2020.
[9] Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,50%; 36,50%; 43,40%; 8,60%.
[10] Cây phân tán giảm do các địa phương điều chỉnh kế hoạch lâm nghiệp, ưu tiên phục hồi diện tích rừng bị ảnh hưởng sau bão cuối năm 2025.
[11] Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến ngày 15/3/2026.
[12] Tốc độ tăng, giảm Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I các năm giai đoạn 2020-2026 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 5,6%; 5,7%; 6,8%; -2,6%; 5,9%; 8,3%; 9,0%.
[13] Số ngày làm việc tháng Ba nhiều hơn tháng trước là 07 ngày.
[14] Trong đó, số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động trong quý I/2026 đạt hơn 777,4 nghìn tỷ đồng (giảm 24,5% so với cùng kỳ năm 2025).
[15] Chỉ số tương ứng của quý IV/2025: Có 35,2% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn so với quý III/2025; 43,9% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 20,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.
[16] Chỉ số tương ứng của quý IV/2025: Có 36,8% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý IV/2025 tăng so với quý III/2025; 41,9% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 21,3% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm.
[17] Chỉ số tương ứng của quý IV/2025: Có 33,8% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý IV/2025 cao hơn quý III/2025; 45,5% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 20,7% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm.
[18] Gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.
[19] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, nhận ngày 02/4/2026.
[20] Số liệu nhận từ Vụ Ngân sách nhà nước – Bộ Tài chính, cập nhật đến ngày 31/3/2026.
[21] Trong quý I/2026, công tác quản lý đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế được tăng cường; đẩy mạnh công tác quản lý thu, chống thất thu đối với lĩnh vực kinh doanh thương mại điện tử; đôn đốc thu nộp kịp thời các khoản thu phát sinh vào ngân sách Nhà nước. Đồng thời, tiếp tục triển khai các chính sách miễn, giảm thuế, phí, lệ phí để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội.
[22] Giá dầu Brent hiện đang dao động khoảng 107 USD/thùng, dầu WTI khoảng 101 USD/thùng.
[23] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).
[24] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa quý I/2025 đạt 202,89 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 103,23 tỷ USD, tăng 11,0%; nhập khẩu đạt 99,66 tỷ USD, tăng 17,0%.
[25] Tốc độ tăng CPI tháng Ba so với cùng kỳ năm trước: năm 2022 là 2,41%; năm 2023 là 3,35%; năm 2024 là 3,97%; năm 2025 là 3,13% và năm 2026 là 4,65%.
[26] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.
[27] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.
[28] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.
[29] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.
[30] Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khu vực thành thị quý I các năm giai đoạn 2022-2026 lần lượt là: 2,88%; 2,66%; 2,64%, 2,38% và 2,46%.
[31] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.
[32] Theo báo cáo tổng hợp từ các địa phương, từ đầu năm đến nay
[33] Theo Thông báo số 36/TB-VPCP ngày 20/01/2026 của Văn phòng Chính phủ.
[34] https://laodong.vn/thoi-su/229-truong-pho-thong-noi-tru-lien-cap-cac-xa-bien-gioi-da-duoc-khoi-cong-1671354.ldo
[35] Bổ sung 02 ca tử vong vào tháng 02/2026.
[36] Bổ sung 01 ca tử vong vào tháng 02/2026.
[37] https://baochinhphu.vn/cong-dien-cua-thu-tuong-chinh-phu-ve-chan-chinh-cong-tac-kiem-soat-giet-mo-gia-suc-tang-cuong-ky-luat-ky-cuong-trong-thuc-thi-cong-vu-102260331011609845.htm
[38] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng) ngày 29/3/2026.
[39] Tổng hợp Báo cáo từ Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kỳ báo cáo từ ngày 26/02-25/3/2026.
[40] Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được các
Thống kê tỉnh tổng hợp.
[41] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/3/2026.

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)
80 năm ngành Thống kê: Từ căn nhà mái lá vùng Sơn Dương đến cơ quan thống kê quốc gia
Khởi đầu từ căn nhà lá vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) với vài cán bộ chuyên trách, đến nay Cục Thống kê đã trở thành cơ quan thống kê quốc gia chuyên nghiệp, cung cấp số liệu tin cậy và xây dựng kịch bản kinh tế đất nước. (17/04/2026)
