Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tư tăng 0,84% so với tháng trước chủ yếu do giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới, giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào, vận chuyển tăng. CPI tháng Tư tăng 3,31% so với tháng 12/2025 và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,89%.

Trong mức tăng 0,84% của CPI tháng 4/2026 so với tháng trước có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng chỉ số giá nhóm giao thông giảm.

(1) Mười nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

– Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng[1] tăng 2,59% (tác động làm tăng CPI chung 0,59 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá gas tăng 35,3% (tác động làm tăng CPI chung 0,46 điểm phần trăm); giá dầu hỏa tăng 26,95%; giá dịch vụ vệ sinh môi trường tăng 4,28%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,11%[2]; dịch vụ về nước sinh hoạt tăng 1,24%; điện sinh hoạt tăng 1,06%; dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 0,84%; giá thuê nhà tăng 0,79%, trong đó, giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 1,93%. Ở chiều ngược lại, giá nước sinh hoạt giảm 1,11% do sản lượng tiêu thụ giảm.

Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,85% do chi phí nhập khẩu, sản xuất và phân phối tăng. Trong đó, giá nước tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 1,50% so với tháng trước; nước giải khát có ga tăng 1,29%; thuốc lá tăng 1,25%; rượu bia các loại tăng 0,64%; nước quả ép tăng 0,45%.

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,78% do chi phí nguyên vật liệu, nhân công và vận chuyển tăng. Trong đó, một số mặt hàng có mức giá tăng: Giá sửa chữa thiết bị gia đình tăng 1,40%; đèn điện thắp sáng và giường, tủ, bàn ghế cùng tăng 0,99%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,97%; quạt điện tăng 0,79%; nồi điện tăng 0,75%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,72%; tủ lạnh tăng 0,62%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ tăng 0,47%; máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,33%. Ở chiều ngược lại, giá thuê người phục vụ giảm 0,11% do nhu cầu thuê dọn dẹp, giúp việc giảm sau thời gian cao điểm Tết Nguyên đán.

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,64%, chủ yếu do chỉ số giá dịch vụ hiếu hỉ tăng 1,04%; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,77%; đồ dùng cá nhân tăng 0,72%. Ở chiều ngược lại, nhóm đồ trang sức giảm 4,11% theo giá vàng trong nước.

Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,63%, chủ yếu ở những mặt hàng sau: Giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,71% (du lịch trong nước tăng 1,78%; du lịch ngoài nước tăng 1,25%); dịch vụ liên quan đến vật nuôi tăng 1,02%; dịch vụ thể thao tăng 0,89%; khách sạn, nhà khách và đồ chơi trẻ em cùng tăng 0,69%; thiết bị thể dục thể thao tăng 0,61%.

– Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,58% (tác động làm CPI chung tăng 0,21 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,67%[3]; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,94%[4] (tác động tăng 0,18 điểm phần trăm); riêng nhóm thực phẩm[5] có chỉ số giá không đổi.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,52% do chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và nhân công tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ giày dép tăng 1,20%; dịch vụ may mặc tăng 1,19%; mũ nón tăng 0,74%; vải các loại tăng 0,62%; may mặc khác tăng 0,61%; quần áo may sẵn tăng 0,45% do chi phí đầu vào tăng.

Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,17%, trong đó, giá máy điện thoại di động thông thường tăng 1,19%; máy vi tính và phụ kiện tăng 1,14%; dịch vụ sửa chữa điện thoại tăng 0,87%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,36%; dịch vụ truyền hình và internet tăng 0,11%. Ở chiều ngược lại, giá thiết bị âm thanh màu giảm 0,40%; máy điện thoại cố định giảm 0,04%.

Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13% chủ yếu do chi phí nhập khẩu nguyên liệu dược và chi phí sản xuất, phân phối tăng. Cụ thể, giá nhóm thuốc chống dị ứng và nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt cùng tăng 0,57%; thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,46%; hoóc môn và thuốc tác động vào hệ nội tiết tăng 0,43%; thuốc tim mạch tăng 0,42%; thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,33%.

Nhóm giáo dục tăng 0,08%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,04% chủ yếu do một số trung tâm gia sư, dạy thêm điều chỉnh học phí. Bên cạnh đó, sản phẩm từ giấy tăng 0,82%; bút viết các loại tăng 0,71%; văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,66%.

(2) Riêng nhóm giao thông giảm 0,81% (tác động làm CPI chung giảm 0,08 điểm phần trăm) chủ yếu do giá xăng giảm 3,19% giảm theo giá thế giới. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng và dịch vụ giao thông tăng giá như sau: Chỉ số giá dầu diezen tăng 18,55%; chỉ số giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 12,43%; chỉ số giá nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 1,35%; chỉ số giá nhóm phụ tùng tăng 1,17%; giá dịch vụ trông giữ xe tăng 1,22%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,93%; giá xe đạp tăng 0,82%; xe ô tô mới tăng 0,42%; xe máy tăng 0,23%.

Tính chung, CPI bốn tháng đầu năm 2026 tăng 3,99% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,25%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,71%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,89%; giao thông tăng 3,48%; giáo dục tăng 3,25%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,38%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,05%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,79%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,94%; riêng thông tin và truyền thông giảm 0,09%.

Lạm phát cơ bản[6] tháng Tư tăng 0,88% so với tháng trước và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân bốn tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 3,89% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 3,99% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.

 Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 28/4/2026, bình quân giá vàng thế giới ở mức 4.761,71 USD/ounce, giảm 2,4% so với tháng 3/2026. Trong tháng 4/2026, giá vàng thế giới giảm do hoạt động chốt lời của các nhà đầu tư sau giai đoạn tăng mạnh trước đó. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Tư giảm 6,71% so với tháng trước, chủ yếu do giá vàng được các doanh nghiệp kinh doanh điều chỉnh giảm theo giá vàng thế giới. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá vàng tăng 54,24%; so với tháng 12/2025 tăng 10,83%; bình quân bốn tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 75,13%.

Giá đô la Mỹ trong nước biến động ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 27/4/2026, chỉ số USD trên thị trường quốc tế bình quân tháng 4/2026 đạt mức 98,63 điểm, giảm 0,73% so với tháng trước do chiến tranh thương mại leo , thị trường đang kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất trong nửa cuối năm 2026. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.360 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Tư tăng 0,17% so với tháng trước do nhu cầu ngoại tệ trong nước tăng; tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,31% so với tháng 12/2025; bình quân bốn tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,29%.

[1] Trong đó, chỉ số giá điện, nước sinh hoạt tháng 4/2026 phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác do được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng 3/2026.

[2] Chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển. Bên cạnh đó, nhu cầu xây dựng tăng góp phần đẩy giá các loại vật liệu như cát, đá, xi măng, thép, gạch tăng.

[3] Giá gạo trong nước tăng chủ yếu do thị trường đang ở giai đoạn cuối vụ đông xuân, lượng lúa tích trữ giảm dần nên nguồn cung thu hẹp và chi phí vận chuyển, lưu thông tăng. Bên cạnh đó, trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục xu hướng tăng. Theo đó, chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,64% (Gạo tẻ thường tăng 0,59%; gạo tẻ ngon tăng 0,78%; gạo nếp tăng 0,81%; gạo lứt tẻ tăng 0,79%). Một số mặt hàng lương thực khác tăng như: Giá bột mì tăng 1,42%; bánh mì tăng 1,39%; mì sợi, mì, phở/cháo ăn liền tăng 1,29%; ngũ cốc ăn liền tăng 1,08%; sắn tăng 1,07%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,75%; ngũ cốc khác tăng 0,68%.

[4] Do chi phí nguyên liệu đầu vào tăng, trong đó giá gas tăng mạnh. Bên cạnh đó, chi phí nhân công, thuê mặt bằng và vận hành tăng, cùng với việc một số địa phương tăng cường sắp xếp, quản lý hoạt động kinh doanh vỉa hè, lòng đường khiến các cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá bán để bù đắp chi phí. Trong đó, chỉ số giá ăn ngoài gia đình tăng 2,08% so với tháng trước; uống ngoài gia đình tăng 0,94%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 1,97%.

[5] Do tác động tăng, giảm đan xen giữa các nhóm thực phẩm, cụ thể như sau: Chỉ số giá thịt lợn giảm 0,73%; chỉ số giá thịt bò giảm 0,07%; chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,38%; chỉ số giá trứng các loại giảm 0,96%; chỉ số giá quả tươi, chế biến giảm 1,13%; chỉ số giá sữa, bơ, phô mai tăng 1,03%; nước mắm, nước chấm tăng 1,02%; đồ gia vị tăng 0,86%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,79%; đường mật tăng 0,78%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,73%.

[6] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.


Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm