Một số địa phương thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT, giá dịch vụ giao thông, thực phẩm tăng do nhu cầu đi lại và mua sắm của người dân tăng trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2025 tăng 0,98% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm 2024, CPI tháng Một tăng 3,63%; lạm phát cơ bản tháng 01/2025 tăng 3,07%.

Trong mức tăng 0,98% của CPI tháng 01/2025 so với tháng trước có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

(1) Chín nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với tăng 9,47% so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,51 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 12,57% do một số địa phương triển khai áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế quy định phương pháp định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Bên cạnh đó, thời tiết chuyển sang mùa đông, nhiệt độ chênh lệch nhiều giữa ban ngày và ban đêm nên bệnh cảm cúm, đường hô hấp gia tăng, nhu cầu tiêu dùng các loại thuốc về giảm đau, hạ sốt, đường hô hấp, vitamin và khoáng chất của người dân tăng. Cụ thể, giá nhóm thuốc vitamin và khoáng chất tăng 0,34%; thuốc đường tiêu hóa tăng 0,16%; thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,12%.

Nhóm giao thông tăng tăng 0,95% (làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm), trong đó: Nhu cầu đi lại của người dân tăng vào dịp cuối năm làm cho giá vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 11,08%; vận tải hành khách đường bộ và vận tải hành khách bằng đường thủy cùng tăng 1,73%; vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 1,71%; vận tải hành khách bằng xe buýt tăng 0,24%. Chỉ số giá xăng tăng 2,02%, chỉ số giá dầu diezen tăng 4,99% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu trong nước. Giá phụ tùng ô tô tăng 0,66%; lốp, săm xe máy tăng 0,28%; phụ tùng khác của xe máy tăng 0,4%. Dịch vụ thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 0,68%; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,56%, dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,48% do chi phí nhân công và nhu cầu tăng trong dịp cuối năm; học phí lái xe tăng 0,13%. Ở chiều ngược lại, giá xe ô tô mới giảm 0,26% so với tháng trước do các hãng xe áp dụng chương trình khuyến mại để kích cầu tiêu dùng.

– Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,74% (tác động làm CPI chung tăng 0,25 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,3%[1]; thực phẩm tăng 0,97%[2] (tác động làm CPI chung tăng 0,21 điểm phần trăm); ăn uống ngoài gia đình tăng 0,33%[3].

– Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,69% do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng tăng vào dịp Tết Nguyên đán khiến giá rượu bia tăng 0,8%; thuốc hút tăng 0,7%; đồ uống không cồn tăng 0,36%.

– Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,51%, chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng: Dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 1,91%; nhóm đồ trang sức tăng 0,95%; dịch vụ về cưới hỏi tăng 0,56%; vật dụng thờ cúng tăng 0,42%; đồng hồ đeo tay tăng 0,3%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 0,11%.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,38% do chi phí nhân công, chi phí vật liệu, nhu cầu mua sắm quần áo mùa đông và chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ tăng. Trong đó, may mặc khác tăng 0,65% so với tháng trước; dịch vụ may mặc tăng 0,63%; quần áo may sẵn tăng 0,4%; dịch vụ giày dép tăng 0,37%; vải các loại tăng 0,3%; giày dép tăng 0,24%; mũ nón tăng 0,17%.

Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,35% (tác động làm tăng CPI chung 0,07 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá thuê nhà tăng 0,84% do nhu cầu thuê chung cư, nhà trọ tăng, ngoài ra giá bất động sản tăng cao thời gian qua đã khiến các hộ kinh doanh cho thuê nhà tăng giá để phù hợp với chi phí đầu tư; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,74%; giá dịch vụ khác liên quan đến nhà ở tăng 0,27% do nhu cầu tăng vào dịp cuối năm; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,17% do giá xi măng, giá thép tăng theo nhu cầu tiêu dùng. Ở chiều ngược lại, giá điện sinh hoạt giảm 0,51% so với tháng trước; giá nước sinh hoạt giảm 0,29%[4] do nhu cầu tiêu dùng giảm trong mùa đông. Giá gas giảm 1,26% do từ ngày 01/01/2025, giá gas trong nước điều chỉnh giảm 7.200 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới giảm 12,5 USD/tấn chỉ còn ở mức 620 USD/tấn.

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,31% do nhu cầu tiêu dùng tăng vào mùa cưới và dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, giá dịch vụ trong gia đình tăng 1,73%; giá máy xay sinh tố, ép hoa quả tăng 0,8%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,66%; đồ nhựa và cao su tăng 0,62%; đèn điện thắp sáng tăng 0,35%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,29%; bếp đun không dùng điện, ga và máy điều hòa nhiệt độ cùng tăng 0,24%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,17%; đồ điện tăng 0,14%.

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,27%, tập trung chủ yếu ở những mặt hàng sau: Giá nhóm hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 1,59% do nhu cầu tăng trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025; du lịch trọn gói tăng 0,64% (du lịch trong nước tăng 0,52%; du lịch ngoài nước tăng 0,99%) do nhu cầu đi du lịch của người dân và chi phí dịch vụ tăng; khách sạn, nhà khách tăng 0,43%; sách, báo, tạp chí các loại tăng 0,12%.

(2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:

Nhóm giáo dục giảm nhẹ 0,04%, trong đó dịch vụ giáo dục giảm 0,05% chủ yếu do thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về chính sách đặc thù hỗ trợ học phí cho học sinh trung học cơ sở công lập, ngoài công lập và học viên giáo dục thường xuyên trung học cơ sở năm học 2024-2025.

Nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,12%, trong đó, giá máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,74%; phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,72%; máy điện thoại di động thông thường giảm 0,35%; máy điện thoại cố định giảm 0,02%; riêng giá sửa chữa điện thoại tăng 0,27%.

Lạm phát cơ bản[5] tháng 01/2025 tăng 0,42% so với tháng trước, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 3,63%) chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt và dịch vụ y tế là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 27/01/2025, bình quân giá vàng thế giới ở mức 2.719,63 USD/ounce, tăng 2,26% so với tháng 12/2024 do các nhà đầu tư lo ngại lạm phát toàn cầu gia tăng khi một số chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump bao gồm việc áp thuế cao đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, Mexico và Canada đã làm tăng sự hấp dẫn của vàng. Trong nước nhu cầu mua sắm vàng trước Tết nguyên đán tăng làm chỉ số giá vàng tháng 01/2025 tăng 1,03% so với tháng trước; tăng 29,13% so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến ngày 27/01/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 108,57 điểm, tăng 1,49% so với tháng trước do lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ tăng. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 25.518 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 01/2025 tăng 0,21% so với tháng trước; tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước.

[1] Do nhu cầu tiêu dùng gạo và các mặt hàng lương thực khác tăng trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025 nên giá các mặt hàng này tăng theo: Chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,31% (Gạo tẻ thường tăng 0,09%; gạo tẻ ngon tăng 0,83% và gạo nếp tăng 1,79%); miến tăng 0,83%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,67%; bột mì tăng 0,48%; mì sợi, mì, phở, cháo ăn liền tăng 0,3%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,13%.

[2] Chỉ số giá thịt lợn tăng 2,45%; chỉ số giá quả tươi, chế biến tăng 1,53%; chỉ số giá thủy sản tươi sống tăng 1,38%; thủy sản chế biến tăng 1,06%; chỉ số giá bánh, mứt, kẹo tăng 0,77%; các loại đậu và hạt tăng 0,74%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,69%; đồ gia vị tăng 0,68%; đường tăng 0,46%; sữa, bơ, pho mát tăng 0,32%; trứng các loại tăng 0,3%. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,48% do đang là thời điểm thu hoạch vụ rau đông xuân, thời tiết thuận lợi khiến nguồn cung rau củ dồi dào và phong phú.

[3] Do giá nguyên liệu chế biến ở mức cao, chi phí nhân công tăng, trong đó giá ăn ngoài gia đình tăng 0,3%; uống ngoài gia đình tăng 0,47%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,42%.

[4] Chỉ số giá điện, nước sinh hoạt tháng 01/2025 phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác do được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng 12/2024.

[5] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm