BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
Kinh tế – xã hội thế giới trải qua một năm đầy biến động với nhiều bất ổn, bất định khi xung đột vũ trang, giao tranh tại nhiều điểm nóng chưa chấm dứt do cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc và chủ nghĩa dân tộc đe dọa an ninh, hòa bình của khu vực và thế giới. Cùng với đó, cuộc chiến thuế quan bùng nổ, thiên tai, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng, thách thức đối với đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, chính sách thuế quan thực tế của Hoa Kỳ thấp hơn so với công bố ban đầu; lạm phát tiếp tục xu hướng giảm ở nhiều quốc gia; các chính sách vĩ mô thúc đẩy tăng trưởng; điều kiện tài chính cải thiện nhờ lạc quan về tác động tiềm năng của công nghệ mới, đầu tư trí tuệ nhân tạo (AI) mạnh mẽ trở thành xu thế mới và động lực quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh, năng suất lao động của các quốc gia.
Hầu hết các tổ chức quốc tế điều chỉnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 khả quan hơn so với dự báo đưa ra trước đó do nhiều nền kinh tế lớn thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ và tăng chi tiêu công để hỗ trợ tăng trưởng. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)[1] và Liên minh châu Âu (EU)[2] dự báo tăng trưởng của kinh tế toàn cầu năm 2025 lần lượt đạt 3,2% và 3,1%, cùng điều chỉnh tăng 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trước đó; Fitch Rating (FR)[3] dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt 2,5%, điều chỉnh tăng 0,1 điểm phần trăm. Riêng Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)[4] giữ nguyên mức dự báo 3,2% đã đưa ra trong tháng 9/2025. Tuy nhiên, dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 của các tổ chức quốc tế đều thấp hơn mức tăng trưởng của năm 2024.
Các tổ chức quốc tế đánh giá khác nhau về mức tăng trưởng kinh tế năm 2025 của các quốc gia Đông Nam Á nhưng đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực. Theo đó, tăng trưởng năm 2025 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 6,2-7,4%[5]; Phi-li-pin từ 4,7-5,4%; In-đô-nê-xi-a từ 4,8-5,0%; Ma-lai-xi-a từ 4,1-5,0%; Xin-ga-po từ 2,2-4,1% và Thái Lan đạt khoảng 2,0%.
Trong nước, năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025, năm thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy Chính phủ, sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; công tác lập pháp ghi dấu ấn với 89 Luật và 91 Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại 3 kỳ họp, một số Nghị quyết nhanh chóng đưa vào cuộc sống như Nghị quyết về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tư nhân… Nhiều hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm như Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/9; lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc, tạo động lực lớn cho Nhân dân cả nước phấn đấu, vươn lên thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Năm 2025 cũng là năm kinh tế nước ta đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: mưa, bão gây ngập lụt nghiêm trọng, lũ quét và sạt lở đất tại các địa phương đã ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của Nhân dân. Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo linh hoạt, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã theo dõi chặt chẽ những biến động của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiệm vụ, giải pháp, nền kinh tế nước ta đạt được kết quả toàn diện trên nhiều ngành, lĩnh vực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý IV và năm 2025 như sau:
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2025 ước tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất của quý IV các năm trong giai đoạn 2011-2025[6], duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 7,05%, quý II tăng 8,16%, quý III tăng 8,25%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,70%, đóng góp 5,13% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,73%, đóng góp 45,80%; khu vực dịch vụ tăng 8,82%, đóng góp 49,07%. Về sử dụng GDP quý IV/2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,15% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 8,92%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,34%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,40%.
GDP năm 2025 tăng trưởng khá với mức tăng ước đạt 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025[7]. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù chịu tác động bất lợi từ bão, mưa lũ, nhưng nhờ triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì ở mức ổn định. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp năm 2025 ước tăng 3,48% so với năm trước, đóng góp 3,59% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 5,70% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,38%; ngành thủy sản tăng 4,41%, đóng góp 1,33%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay[8]. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2025 ước tăng 8,80% so với năm trước, đóng góp 35,15% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2019-2025[9], tiếp tục là động lực trong tăng trưởng kinh tế, đóng góp 31,49%. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,82%, đóng góp 0,60%. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,39%, đóng góp 2,94%. Ngành khai khoáng tăng 0,42%, đóng góp 0,13%. Ngành xây dựng tăng 9,62%, đóng góp 8,47%.
Các hoạt động thương mại, du lịch tăng cao, khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 cao nhất từ trước đến nay, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2025 ước tăng 8,62%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 10,66% của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025[10]. Một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,52% so với năm trước, đóng góp 10,62%; ngành vận tải, kho bãi tăng 10,99% so với năm trước, đóng góp 8,69%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,82%, đóng góp 5,72%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,02%, đóng góp 3,34%.
Về cơ cấu nền kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,64%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; khu vực dịch vụ chiếm 42,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,96% (Cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 12,03%; 37,52%; 42,35%; 8,10%).
Về sử dụng GDP năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,95% so với năm 2024; tích lũy tài sản tăng 8,68%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 17,12%.
Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD[11], tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD). GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD).
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 245,0 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83%; trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 ước đạt 29,2%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024), tăng trưởng kinh tế đạt khá, quy mô nền kinh tế được mở rộng.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2025 mặc dù bị ảnh hưởng bởi bão, mưa lũ chủ yếu tại các tỉnh Bắc Trung Bộ và miền Trung và dịch tả lợn châu Phi bùng phát trong quý III/2025, nhưng với sự chủ động phòng chống, ứng phó và hỗ trợ kịp thời của các cấp, các ngành, các địa phương, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2025 vẫn ghi nhận kết quả tích cực. Sản lượng lúa đạt 43,54 triệu tấn, cao nhất trong vòng 4 năm qua. Giá trị sản phẩm cây lâu năm tăng 5,54% so với năm 2024 do sản lượng cây ăn quả đạt khá, cây công nghiệp lâu năm phục hồi tích cực. Chăn nuôi gia cầm tăng 5,9% nhờ các mô hình chăn nuôi liên kết theo chuỗi được mở rộng. Hoạt động trồng rừng và khai thác gỗ thực hiện theo kế hoạch, đảm bảo nhu cầu xuất khẩu gỗ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2025 tăng 5,1% đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Riêng hoạt động khai thác thủy sản biển giảm 0,1% so với năm 2024 do thời tiết bất lợi.
a) Nông nghiệp
Diện tích lúa cả năm 2025 ước đạt 7,13 triệu ha, giảm 1,1 nghìn ha so với năm 2024[12]. Năng suất lúa cả năm ước đạt 61,1 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với năm 2024; sản lượng lúa ước đạt 43,5 triệu tấn, tăng 88,6 nghìn tấn. Sản lượng lương thực có hạt năm 2025 đạt 47,9 triệu tấn, tăng 96,4 nghìn tấn so với năm 2024, trong đó sản lượng ngô đạt 4,4 triệu tấn, tăng 7,8 nghìn tấn.
Lúa đông xuân 2025 cả nước gieo trồng được gần 3,0 triệu ha, tăng 15,7 nghìn ha so với năm 2024 do mở rộng diện tích ở một số địa phương có điều kiện thuận lợi về nguồn nước và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long[13]; năng suất lúa đạt 68,6 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 20,4 triệu tấn, tăng 32,1 nghìn tấn.
Lúa hè thu: Vụ lúa hè thu năm nay chịu ảnh hưởng nặng nề của nhiều đợt mưa lớn, bão lũ, nhất là tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Diện tích gieo trồng lúa hè thu cả nước đạt gần 1,9 triệu ha, giảm 10,8 nghìn ha so với năm 2024; năng suất lúa ước đạt 57,4 tạ/ha, giảm 1,0 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 10,9 triệu tấn, giảm 269,1 nghìn tấn.
Lúa thu đông: Các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Tây Ninh gieo trồng 716,6 nghìn ha lúa thu đông, giảm 1,3 nghìn ha so với vụ thu đông năm trước. Tuy nhiên, nhờ điều kiện sản xuất tương đối ổn định và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, năng suất lúa thu đông ước đạt 58,7 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với năm trước; sản lượng ước đạt 4,21 triệu tấn, tăng 12,5 nghìn tấn.
Lúa mùa: Vụ mùa năm 2025, cả nước gieo trồng được 1,5 triệu ha lúa mùa, giảm 4,6 nghìn ha so với năm 2024; năng suất ước đạt 52,4 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha; sản lượng ước đạt 8,07 triệu tấn, tăng 314,8 nghìn tấn.
Cây hằng năm: Diện tích ngô cả năm đạt 865,6 nghìn ha, giảm 5,9 nghìn ha so với năm trước, sản lượng ước đạt 4,4 triệu tấn, tăng 7,8 nghìn tấn; diện tích lạc đạt 144,3 nghìn ha, giảm 4,2 nghìn ha, sản lượng ước đạt 388,1 nghìn tấn, giảm 9,1 nghìn tấn; diện tích đậu tương đạt 26,3 nghìn ha, giảm 2,2 nghìn ha, sản lượng ước đạt 43,3 nghìn tấn, giảm 2,8 nghìn tấn; diện tích khoai lang đạt 77,0 nghìn ha, giảm 4,0 nghìn ha, sản lượng ước đạt 929,0 nghìn tấn, giảm 43,9 nghìn tấn. Riêng sản lượng rau các loại đạt kết quả tích cực nhờ tăng cường sản xuất, trồng xen trong vườn cây ăn trái, chú trọng các giống mới, đáp ứng nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, cho năng suất cao. Diện tích rau các loại năm 2025 ước đạt 1.002,9 nghìn ha, tăng 3,1 nghìn ha so với năm trước; sản lượng thu hoạch đạt 19,6 triệu tấn, tăng 519,5 nghìn tấn.
Tính chung cả năm 2025, sản lượng thu hoạch một số cây công nghiệp chủ yếu như sau: Cà phê đạt 2.116,1 nghìn tấn, tăng 5,0% so với năm trước; cao su đạt 1.346,1 nghìn tấn, tăng 1,4%; chè búp đạt 1.161,4 nghìn tấn, tăng 0,6%; hồ tiêu đạt 274,8 nghìn tấn, tăng 4,8%; dừa đạt 2.373,8 nghìn tấn, tăng 4,1%; điều đạt 293,0 nghìn tấn, giảm 4,3%.
Sản lượng thu hoạch một số cây ăn quả đều tăng khá: Vải đạt 408,8 nghìn tấn, tăng 60,3%; sầu riêng đạt 1.820,9 nghìn tấn, tăng 18,8%; mít đạt 1.402,2 nghìn tấn, tăng 13,7%; nhãn đạt 666,3 nghìn tấn, tăng 12,7%; xoài đạt 1.188,0 nghìn tấn, tăng 8,6%; chuối đạt 3.192,8 nghìn tấn, tăng 5,3%; thanh long đạt 1.203,7 nghìn tấn, tăng 1,4%.
Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm, chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp, hiệu quả kinh tế không cao, chi phí đầu vào tăng nhanh hơn giá bán sản phẩm. Chăn nuôi lợn tương đối thuận lợi trong 6 tháng đầu năm nhờ dịch bệnh được kiểm soát tốt, giá bán sản phẩm có lợi[14], bảo đảm lợi nhuận cho người chăn nuôi, tạo động lực duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, sang quý III/2025, dịch tả lợn châu Phi bùng phát và lan rộng trên phạm vi cả nước khiến chăn nuôi lợn chịu nhiều thiệt hại, tổng đàn lợn giảm sâu, trong đó một số tỉnh bị ảnh hưởng nghiêm trọng như: Cao Bằng giảm 20,5% so với năm trước; Lai Châu giảm 16,5%; Quảng Trị giảm 9,7%. Chăn nuôi lợn tại các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn tiếp tục duy trì sản xuất ổn định và mở rộng đầu tư nhờ áp dụng các biện pháp an toàn sinh học. Một số địa phương có tổng đàn lợn tăng cao như: Tây Ninh tăng 19,9% so với năm trước; Gia Lai tăng 13,8%; Lâm Đồng tăng 7,5%… góp phần bù đắp thiệt hại do dịch bệnh. Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, các địa phương đẩy mạnh phát triển mô hình chăn nuôi liên kết tạo thành chuỗi khép kín từ trang trại đến bàn ăn. Trong năm 2025, một số địa phương có tổng đàn gia cầm tăng trưởng tốt: Cần Thơ tăng 12,7% so với năm 2024; Gia Lai tăng 7,8%; Thanh Hóa tăng 6,9%; Nghệ An tăng 6,8%; Quảng Ngãi tăng 5,9%.
b) Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung của cả nước trong quý IV/2025 ước đạt 103,5 nghìn ha, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước[15]; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 15,7 triệu cây, giảm 5,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 7.752,3 nghìn m3, tăng 4,2%. Tính chung năm 2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 323,3 nghìn ha, tăng 6,4% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 85,3 triệu cây, giảm 0,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 25.616,0 nghìn m3, tăng 6,9%.
Diện tích rừng bị thiệt hại[16] quý IV/2025 là 129,3 ha, giảm 28,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá 117,7 ha, giảm 34,7%; diện tích rừng bị cháy là 11,6 ha, gấp 7,4 lần. Tính chung năm 2025, cả nước có 1.127,6 ha rừng bị thiệt hại, giảm 30,7% so với năm trước, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 801,2 ha, giảm 9,5%; diện tích rừng bị cháy là 326,4 ha, giảm 56,0%.
c) Thủy sản
Tổng sản lượng thủy sản năm 2025 ước đạt 9.947,5 nghìn tấn, tăng 3,0% so với năm trước (quý IV/2025 ước đạt 2.689,1 nghìn tấn, tăng 2,7%), bao gồm: Cá đạt 6.962,4 nghìn tấn, tăng 2,7%; tôm đạt 1.522,2 nghìn tấn, tăng 5,5%; thủy sản khác đạt 1.462,9 nghìn tấn, tăng 1,9%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2025 ước đạt 6.116,8 nghìn tấn, tăng 5,1% so với năm trước (quý IV/2025 ước đạt 1.826,7 nghìn tấn, tăng 4,9%), bao gồm: Cá đạt 4.035,0 nghìn tấn, tăng 4,9%; tôm đạt 1.381,7 nghìn tấn, tăng 6,1%; thủy sản khác đạt 700,1 nghìn tấn, tăng 4,4%.
Sản lượng thủy sản khai thác năm 2025 ước đạt 3.830,7 nghìn tấn, giảm 0,2% so với năm trước (quý IV/2025 ước đạt 862,4 nghìn tấn, giảm 1,6%), bao gồm: Cá đạt 2.927,4 nghìn tấn, giảm 0,2%; tôm đạt 140,5 nghìn tấn, giảm 0,4%, thủy sản khác đạt 762,8 nghìn tấn, giảm 0,3%. Riêng sản lượng thủy sản khai thác biển năm 2025 đạt 3.638,6 nghìn tấn, giảm 0,1% so với năm trước[17], trong đó: Cá ước đạt 2.798,2 nghìn tấn, giảm 0,1%.
3. Sản xuất công nghiệp quý IV/2025 duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước do các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất chuẩn bị hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu cuối năm. Tính chung năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp ước tăng 9,2% so với năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay[18].
Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,2%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,7% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8% (năm 2024 tăng 10,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,5% (năm 2024 giảm 6,3%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tính chung năm 2025 tăng 9,9% so với năm 2024 (năm trước tăng 11,4%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/12/2025 tăng 6,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 10,4%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2025 là 81,1% (năm 2024 là 77,1%).
4. Số lượng đăng ký doanh nghiệp trong năm 2025 tăng cao nhờ Nghị quyết 68–NQ/TW được triển khai và phát huy hiệu quả. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Trong tháng Mười Hai, cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 166,0 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký 100,6 nghìn lao động. So với tháng Mười Một, tăng 13,9% về số doanh nghiệp, tăng 3,4% về vốn đăng ký và tăng 20,8% về số lao động. So với cùng kỳ năm trước, tăng 71,6% về số doanh nghiệp, tăng 72,2% về số vốn đăng ký và tăng 5,1% về số lao động.
Tính chung năm 2025, cả nước có 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.919,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.151,4 nghìn lao động, tăng 24,1% về số doanh nghiệp, tăng 24,1% về vốn đăng ký và tăng 15,0% về số lao động so với năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2025 đạt 9,8 tỷ đồng, tương đương năm 2024. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2025 là gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024[19]. Bên cạnh đó, cả nước có 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 34,3% so với năm 2024), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 2025 lên 297,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm 2024. Bình quân một tháng có 24,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Năm 2025, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 114,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 14,3% so với năm trước; 76,9 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 0,9%; 35,9 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 66,1%. Bình quân một tháng có 18,9 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Đánh giá về hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp[20] quý IV/2025 so với quý III/2025, có 75,8% số doanh nghiệp nhận định hoạt động SXKD trong quý này tốt hơn và giữ ổn định so với quý trước (25,4% tốt hơn và 50,4% giữ ổn định); 24,2% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn[21]. So với quý III/2025 tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá thuận lợi hơn quý trước tăng 1,1%; giữ ổn định giảm 0,2% và khó khăn hơn giảm 0,9%.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo lạc quan nhất với 79,1% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý IV/2025 so với quý III/2025 tốt hơn và giữ ổn định (35,2% tốt hơn và 43,9% giữ ổn định); 20,9% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn[22].
Ngành thương mại, dịch vụ có 76,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD quý IV/2025 so với quý III/2025 tốt hơn và giữ ổn định (21,3% tốt hơn và 54,9% giữ ổn định); 23,8% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn[23].
Ngành xây dựng có 71,9% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý IV/2025 tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2025 (28,9% tốt hơn và 43,0% giữ ổn định); 28,1% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn[24].
5. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
Ước tính trong năm 2025, các hoạt động khoa học công nghệ (KHCN)[25] đóng góp trực tiếp trong GDP khoảng 1,68%; bên cạnh đó hoạt động KHCN còn tác động lan tỏa đến các hoạt động kinh tế khác với đóng góp gián tiếp khoảng 0,81%. Do đó, tổng tác động trực tiếp và gián tiếp của hoạt động khoa học công nghệ chiếm khoảng 2,5% trong GDP (tương đương 320,4 nghìn tỷ đồng), tăng 16,3% so với năm 2024 và tăng khoảng 51% so với năm 2020).
Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong năm 2025, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đặc biệt là các đột phá lớn về AI và chuyển đổi số góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững. Một số thành tựu nổi bật như sau:
Về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), theo Báo cáo GII 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế, giữ nguyên thứ hạng như năm 2024. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam vượt Thái Lan, đứng thứ 3, sau Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a.
Về lĩnh vực đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm 2025 tiếp tục phát triển với sự ra mắt của Sàn Giao dịch khoa học và công nghệ quốc gia. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam xếp hạng thứ 55/100 toàn cầu. Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong năm tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt 34,6%, giảm 4,2 điểm phần trăm so với năm 2024.
Về sở hữu trí tuệ, năm 2025[26], Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận 183.700 đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) tăng 20,4% so với năm 2024; đã xử lý 249.854 đơn đăng ký quyền SHCN, tăng 74,4% so với năm 2024; đã cấp 83.000 văn bằng bảo hộ SHCN, tăng 54,6% so với năm 2024.
Về dịch vụ công trực tuyến trên cổng dịch vụ công quốc gia, tính đến ngày 30/12/2025, số hồ sơ trực tuyến thực hiện qua cổng dịch vụ công quốc gia là hơn 94.334 nghìn hồ sơ; gần 636.949,8 nghìn hồ sơ đồng bộ trạng thái lên cổng dịch vụ công quốc gia. Để phục vụ doanh nghiệp, có 1.955 thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến, trong đó 1.075 thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, 880 thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến một phần. Để phục vụ công dân, có 1.329 thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến, trong đó số thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến trực tuyến toàn trình là 672, số thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến một phần là 657.
Về năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ hạt nhân, năm 2025 đã cấp 1.333 giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giảm 9,3% so với năm 2024; cấp 38 giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ năng lượng nguyên tử, tăng 65,2%; cấp 1.000 Chứng chỉ nhân viên bức xạ, chứng chỉ hành nghề, giảm 2,0%; ký 25 quyết định phê duyệt kế hoạch ứng phó sự cố, tăng 4,2%.
6. Hoạt động thương mại, vận tải, du lịch năm 2025 duy trì tăng trưởng khá so với năm trước. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch trong nước tăng, đặc biệt trong các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với sự bứt phá về thu hút khách quốc tế đến Việt Nam đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ trong năm 2025.
Quý IV/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách tăng 21,5% về vận chuyển và tăng 11,5% về luân chuyển; vận tải hàng hoá tăng 10,8% về vận chuyển và tăng 9,9% về luân chuyển, doanh thu hoạt động viễn thông tăng 6,7%; khách quốc tế đến Việt Nam tăng 17,5%.
Năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024).
Vận tải hành khách năm 2025 ước đạt 6.183,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 22,2% so với năm trước và luân chuyển đạt 312,0 tỷ lượt khách.km, tăng 13,6%; trong đó, quý IV/2025 ước đạt 1.669,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 78,7 tỷ lượt khách.km, tăng 11,5%.
Vận tải hàng hóa năm 2025 ước đạt 3.027,7 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,1% so với năm trước và luân chuyển 612,3 tỷ tấn.km, tăng 13,1%; trong đó, quý IV/2025 ước đạt 799,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 160,2 tỷ tấn.km, tăng 9,9%.
Doanh thu hoạt động viễn thông năm 2025 ước đạt 380,0 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0% so với năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,8%). Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối năm 2025 ước đạt 123,6 triệu thuê bao, tăng 2,5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó số thuê bao di động là 121,3 triệu thuê bao, tăng 2,2%. Số thuê bao truy nhập internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối năm ước đạt 25,1 triệu thuê bao, tăng 4,7% so với cùng thời điểm năm trước.
Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 đạt gần 21,2 triệu lượt người, tăng 20,4% so với năm trước. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt hơn 17,8 triệu lượt người, chiếm 84,3% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và tăng 20,2% so với năm trước; bằng đường bộ đạt gần 3,1 triệu lượt người, chiếm 14,4% và tăng 22,6%; bằng đường biển đạt 273,9 nghìn lượt người, chiếm 1,3% và tăng 10,4%.
Số lượt người Việt Nam xuất cảnh năm 2025 là 6,7 triệu lượt người, tăng 26,4% so với năm 2024.
7. Năm 2025, Ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNN) điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế. Thị trường bảo hiểm và thị trường chứng khoán tăng trưởng ổn định, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu tăng 39,1% so với cuối năm 2024.
Tính đến thời điểm 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,65% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%).
Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý IV/2025 ước tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 1,1%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 11,1%. Tính chung năm 2025, doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm ước đạt 237,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,0% so với năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ ước đạt 148,8 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 88,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%.
Về thị trường chứng khoán, tính đến ngày 31/12/2025, chỉ số VNIndex đạt 1.784,49 điểm, tăng 40,9% so với cuối năm 2024; mức vốn hóa thị trường cổ phiếu ước đạt 9.975,4 nghìn tỷ đồng, tăng 39,1%; giá trị giao dịch bình quân đạt 29.328,2 tỷ đồng/phiên, tăng 39,8% so với bình quân năm 2024.
8. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2024, cao hơn nhiều mức tăng 7,8% của năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0% so với năm trước, cao nhất trong 5 năm qua.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% (quý IV/2025 ước đạt 1.445,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8%) so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 1.233,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,7% tổng vốn và tăng 19,7%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 2.237,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,9% và tăng 8,4%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,4% và tăng 11,7%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[27] tính đến ngày 31/12/2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Trong đó: 4.054 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 17,32 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm trước về số dự án và giảm 12,2% về số vốn đăng ký; có 1.404 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 14,07 tỷ USD, tăng 0,8% so với năm trước; Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 3.587 lượt với tổng giá trị góp vốn 7,03 tỷ USD, tăng 54,8% so với năm trước. Trong đó, có 1.305 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,55 tỷ USD và 2.282 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,48 tỷ USD.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua[28].
9. Thu ngân sách Nhà nước[29] năm 2025 ước tăng 29,7% so với năm trước; chi ngân sách Nhà nước ước tăng 31,2%, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Mười Hai ước đạt 244,2 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2025 ước đạt 2.650,1 nghìn tỷ đồng, bằng 134,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với năm trước[30]. Trong đó, thu nội địa ước đạt 2.279,9 nghìn tỷ đồng, bằng 136,7% dự toán năm và tăng 33,2% so với năm trước[31]; Thu từ dầu thô ước đạt gần 48,0 nghìn tỷ đồng, bằng 90,1% dự toán năm và giảm 18,2% so với năm trước; Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 319,8 nghìn tỷ đồng, bằng 136,1% dự toán năm và tăng 18,2% so với năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Mười Hai ước đạt 350,1 nghìn tỷ đồng; lũy kế năm 2025 ước đạt 2.401,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93,2% dự toán năm và tăng 31,2% so với năm trước[32].
10. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ [33] năm 2025 tăng cao so với năm trước, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng khá.
a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa [34]
Trong tháng Mười Hai, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 88,72 tỷ USD, tăng 15,1% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,0%; nhập khẩu tăng 19,4%[35]. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười Hai đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước. Quý IV/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 126,3 tỷ USD, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,7% so với quý III/2025. Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười Hai đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% so với tháng trước. Quý IV/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 123,1 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,9% so với quý III/2025. Tính chung cả năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước.
b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Quý IV/2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,26 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 9,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 10,55 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,1% so với quý trước.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 24,4%; dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29,0%), tăng 23,6%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 40,54 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,43 tỷ USD), tăng 14,0% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 17,1 tỷ USD (chiếm 42,1% tổng kim ngạch), tăng 19,9%; dịch vụ du lịch đạt 14,7 tỷ USD (chiếm 36,4%), tăng 15,6%.
Cán cân thương mại dịch vụ năm 2025 nhập siêu 10,23 tỷ USD.
11. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười Hai tăng 0,19% so với tháng trước do giá lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng và tăng 3,48% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý IV/2025 tăng 3,44% so với quý IV/2024. Tính chung cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra; lạm phát cơ bản[36]tăng 3,21%.
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Trong mức tăng 0,19% của CPI tháng 12/2025 so với tháng trước, có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm. CPI bình quân quý IV/2025 tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước.
CPI bình quân năm 2025 tăng 3,31% so với năm 2024.
Lạm phát cơ bản tháng 12/2025 tăng 0,23% so với tháng trước và tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,21% so với năm trước, thấp hơn mức tăng 3,31% của CPI bình quân chung[37].
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng Mười Hai tăng 2,18% so với tháng trước, tăng 70,37% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025 chỉ số giá vàng tăng 47,67% so với năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng tháng Mười Hai tăng 0,17% so với tháng trước, tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,92% so với năm trước.
c) Chỉ số giá sản xuất
Năm 2025, thị trường hàng hóa thế giới diễn biến phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi bất ổn địa chính trị và xu hướng điều chỉnh chính sách kinh tế, thương mại giữa các nền kinh tế lớn. Biến động của giá nguyên nhiên vật liệu, chi phí vận tải, cùng với tác động của thiên tai và thời tiết cực đoan đã ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu và giá hàng hóa trên thị trường thế giới. Trong nước, hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ duy trì tăng trưởng và chịu áp lực từ biến động giá nguyên nhiên vật liệu; tỷ giá; cạnh tranh trên thị trường thương mại quốc tế; ảnh hưởng bão, lụt và rủi ro dịch bệnh tại một số địa phương đã gây gián đoạn nguồn cung cục bộ và phát sinh chi phí sản xuất. Chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất; chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa quý IV và năm 2025 đều tăng so với cùng kỳ năm 2024.
Trong quý IV/2025, chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,55% so với quý III/2025 và tăng 1,35% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 0,51% và tăng 3,50%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 0,57% và tăng 5,10%; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 1,27% và tăng 5,16%.
Tính chung năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,01% so với năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 2,55%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 5,09%; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng tăng 4,36%.
II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI
1. Dân số trung bình của Việt Nam năm 2025 là 102,3 triệu người. Chất lượng dân số tiếp tục được cải thiện, mức sinh duy trì mức sinh thay thế, tỷ lệ tử vong ở mức thấp và tuổi thọ trung bình tăng nhờ các thành tựu phát triển của y học và công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân được cải thiện. Tình hình lao động, việc làm quý IV/2025 có nhiều dấu hiệu khởi sắc, lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động đều tăng so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; lao động có việc làm là 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%.
Dân số trung bình năm 2025 ước tính là 102,3 triệu người, tăng 1.001,6 nghìn người, tương đương tăng 0,99% so với năm 2024. Trong đó, dân số thành thị là 39,4 triệu người, chiếm 38,6%; dân số nông thôn là 62,9 triệu người, chiếm 61,4%; dân số nam là 51,0 triệu người, chiếm 49,9%; dân số nữ là 51,3 triệu người, chiếm 50,1%. Tỷ số giới tính của dân số năm 2025 là 99,5 nam/100 nữ.
Theo Kết quả Điều tra Biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình 1/4/2025, tổng tỷ suất sinh năm 2025 đạt 1,93 con/phụ nữ. Tỷ số giới tính khi sinh là 109 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 13,7‰; tỷ suất chết thô là 6,1‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 11,2‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 16,7‰. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2025 là 74,7 tuổi, tương đương với năm 2024 (trong đó tuổi thọ trung bình của nam là 72,3 tuổi và nữ là 77,3 tuổi).
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV/2025 ước tính là 53,8 triệu người, tăng 488,7 nghìn người so với quý trước và tăng 690,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý IV/2025 là 29,5%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,6%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với năm trước; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,2%, tăng 0,8 điểm phần trăm.
Lao động có việc làm quý IV/2025 ước tính là 52,7 triệu người, tăng 477,5 nghìn người so với quý trước và tăng 656,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, lao động có việc làm là 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người (tương ứng tăng 1,1%) so với năm trước.
Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[38] quý IV/2025 là 1,67%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,02 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 1,27%; khu vực nông thôn là 1,94%. Tính chung năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, giảm 0,20 điểm phần trăm so với năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,25%, giảm 0,05 điểm phần trăm; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,93%, giảm 0,29 điểm phần trăm.
Thu nhập bình quân của người lao động quý IV/2025 là 8,7 triệu đồng/tháng, tăng 323 nghìn đồng so với quý III/2025 và tăng 508 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung năm 2025, thu nhập bình quân của lao động là 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9%, tương ứng tăng 685 nghìn đồng so với năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[39] quý IV/2025 là 2,22%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với quý trước và không đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025 là 2,22%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,51%; khu vực nông thôn là 2,02%.
Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[40] IV/2025 là 4,0%, đều tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,9%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 3,7% và khu vực nông thôn là 4,0%.
Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý IV/2025 là 3,8 triệu người, tăng 34,1 nghìn người so với quý trước và tăng 177,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, lao động làm công việc tự sản tự tiêu là 3,8 triệu người, tăng 122,5 nghìn người so với năm 2024. Lao động tự sản tự tiêu là nữ giới chiếm 63,4%.
2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Năm 2025, tình hình thu nhập và đời sống của hộ dân cư được cải thiện. Công tác an sinh xã hội tiếp tục được các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện.
Theo kết quả sơ bộ Khảo sát mức sống dân cư năm 2025, thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2025 đạt khoảng 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,3% so với năm 2024. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2025 khoảng 1,3%, giảm 1,0 điểm phần trăm so với năm 2024.
Theo kết quả điều tra lao động và việc làm quý IV/2025, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên và không thay đổi so với cùng kỳ năm 2024 là 96,1% (giảm 0,2 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo quý III/2025 và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).
Công tác an sinh xã hội được các cấp từ trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện kịp thời, thiết thực. Năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/12/2025)[41], tổng hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng là gần 50,3 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 là hơn 34,2 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không thuộc Nghị định số 20/2021/NĐ-CP là gần 4,7 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ bất thường phát sinh tại địa phương là hơn 3,2 nghìn tỷ đồng. Có gần 29,3 triệu thẻ bảo hiểm y tế/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng.
Trong năm 2025, Chính phủ hỗ trợ cho người dân gần 42,1 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ 6,0 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 402,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 4,3 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 284,5 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 31,8 nghìn tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho khoảng hơn 2,1 triệu nhân khẩu.
Theo số liệu báo cáo từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo, chương trình “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” đã cơ bản hoàn thành mục tiêu vào thời điểm cuối tháng Tám, về đích sớm hơn 5 năm 4 tháng so với mục tiêu tại Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Chương trình đã hỗ trợ xây mới, sửa chữa 334.234 căn (trong đó, xây mới 255.310 căn, sửa chữa 78.924 căn). Ngay sau đợt mưa lũ dồn dập, khốc liệt, dị thường vượt kỳ lục vừa qua tập trung tại các tỉnh Nam Trung bộ tháng Mười Một, Chính phủ đã phát động “Chiến dịch Quang Trung” thần tốc thực hiện xây mới, sửa chữa gần 35 nghìn ngôi nhà cho Nhân dân, đến ngày 30/12/2025 đã cơ bản hoàn thành việc sửa chữa. Cùng với đó đã khởi công xây mới 1.597 ngôi nhà, trong đó đã hoàn thành 671 nhà, đạt 42,0% kế hoạch và sẽ hoàn thành kế hoạch trước 15/01/2026[42].
3. Giáo dục và đào tạo
Về kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT), Năm 2025 là năm đầu tiên Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông tổ chức theo phương án 2+2, với 2 môn bắt buộc là Ngữ văn và Toán và 2/9 môn học sinh tự chọn phù hợp với định hướng nghề ở giai đoạn trung học phổ thông; kỳ thi đồng thời thực hiện theo 2 quy chế, 2 bộ đề thi 2 chương trình giáo dục phổ thông 2006 và 2018. Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 cũng ghi dấu bước chuyển quan trọng khi phổ điểm được công bố trước khi thí sinh biết điểm, thể hiện tính minh bạch trong công tác tổ chức thi. Năm 2025, toàn quốc có trên 1,1 triệu thí sinh đăng ký dự Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tăng gần 100 nghìn thí sinh so với năm 2024. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 là 99,25% (năm 2024 tỷ lệ này là 99,40%).
Về tình hình khai giảng năm học mới 2025-2026, cả nước có khoảng 26 triệu học sinh, sinh viên và khoảng 1,6 triệu giáo viên cùng dự buổi lễ khai giảng lịch sử. Lễ khai giảng được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức gắn với Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành Giáo dục tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), kết nối trực tuyến tới khoảng 52.000 cơ sở giáo dục – đào tạo trên cả nước.
Bước vào năm học mới, nền giáo dục Việt Nam được định hướng bởi một hệ thống chính sách đồng bộ và đột phá, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho sự phát triển: việc triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 217/2025/QH15 về miễn, hỗ trợ học phí cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông và Nghị quyết số 218/2025/QH15 hướng tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi.
Năm học 2025-2026 tập trung vào các hành động thực tiễn nhằm thu hẹp khoảng cách vùng miền và nâng cao chất lượng dạy học như ưu tiên xây dựng hệ thống trường học kiên cố tại các xã biên giới đất liền, theo đó ngày 18/7/2025, Ban Chấp hành Trung ương đã có Thông báo số 81-TB/TW 2025 Kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới, trong đó thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiều học và trung học cơ sở tại 248 xã biên giới đất liền, trước mắt, thí điểm đầu tư hoàn thành xây mới hoặc cải tạo 100 trường trong năm 2025. Cùng với đó, các giải pháp như tổ chức bữa ăn bán trú và triển khai dạy học 2 buổi/ngày đang được đẩy mạnh trên cả nước, tạo môi trường tối ưu cho sự phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ của học sinh.
4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm[43]
Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2025 cả nước có 181,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (36 trường hợp tử vong); 96,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (02 trường hợp tử vong); 374 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 117,6 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi (11 trường hợp tử vong); 104 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (01 trường hợp tử vong); 73 người tử vong do bệnh dại.
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/12/2025 là gần 254 nghìn người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 117,7 nghìn người.
Về ngộ độc thực phẩm, năm 2025 (từ ngày 19/12/2024 đến ngày 18/12/2025), cả nước xảy ra 70 vụ với 1.558 người bị ngộ độc (17 trường hợp tử vong).
5. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa luôn được quan tâm; thể thao phong trào được duy trì, thể thao thành tích cao có những thành tích đáng ghi nhận.
Về hoạt động văn hóa, năm 2025 là một năm đặc biệt quan trọng với nhiều cột mốc lịch sử và văn hóa lớn của Việt Nam. Đây là thời điểm diễn ra hàng loạt hoạt động kỷ niệm cấp quốc gia, cùng sự bùng nổ của các lễ hội, chương trình ca nhạc và concert quy mô lớn gắn với các sự kiện chính trị – văn hóa trọng đại của đất nước như: Kỷ niệm 50 năm ngày thống nhất đất nước, 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Các chương trình nghệ thuật với quy mô đầu tư lớn, tổ chức đa dạng về hình thức, từ concert quốc gia, lễ hội âm nhạc hiện đại, đại nhạc hội phục vụ du lịch đến các hoạt động biểu diễn trong lễ hội văn hóa truyền thống, với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ, ca sĩ trong nước và quốc tế[44].
Triển lãm Thành tựu đất nước tại Trung tâm Triển lãm Quốc gia (thuộc xã Đông Anh, Hà Nội), từ ngày 28/8 đến 15/9/2025 với chủ đề “80 năm Hành trình Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”; 04 di sản tiêu biểu ở các loại hình lần đầu tiên được UNESCO vinh danh: Ghi danh Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn – Kiếp Bạc, điều chỉnh mở rộng Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng, ghi danh Bộ sưu tập của nhạc sĩ Hoàng Vân vào danh mục Ký ức thế giới và đưa nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
Về thể thao thành tích cao, năm 2025 với thành tích giành 2.253 huy chương các loại, trong đó có 80 huy chương vàng thế giới, 161 huy chương vàng châu Á và 616 huy chương vàng tại khu vực Đông Nam Á. Một số thành tích cao của thể thao Việt Nam tại khu vực và châu lục như: Đội tuyển bóng đá Việt Nam vô địch ASEAN Cup được tổ chức từ ngày 8/12/2024-05/01/2025; U23 Việt Nam vô địch Giải U23 Đông Nam Á 2025 được tổ chức từ ngày 15-29/7/2025 tại In-đô-nê-xi-a; đội tuyển bóng chuyền nữ Việt Nam vô địch SEA V-League 2025; xếp thứ 3 toàn đoàn tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 33 (SEAGAMES 33) tổ chức tại Thái Lan với 87 huy chương vàng, 81 huy chương bạc và 112 huy chương đồng. Nhiều đội tuyển đã thi đấu xuất sắc, khẳng định vị thế trong khu vực như điền kinh (12 huy chương vàng), vật (10 huy chương vàng), đua thuyền (8 huy chương vàng), bắn súng (8 huy chương vàng), bơi (7 huy chương vàng), karate (6 huy chương vàng); xếp hạng 22 toàn đoàn Đại hội Thể thao trẻ châu Á tại Ba-ranh từ ngày 22-31/10/2025.
6. Số vụ tai nạn giao thông[45] năm nay giảm 22,5% số vụ tai nạn so với cùng kỳ năm trước, giảm 7,5% số người chết và giảm 29,6% số người bị thương.
Năm 2025, trên địa bàn cả nước xảy ra 18.371 vụ tai nạn giao thông, làm 10.337 người chết và 12.197 người bị thương. So với năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 22,5%; số người chết giảm 7,5% và số người bị thương giảm 29,6%. Bình quân 1 ngày trong năm 2025, trên địa bàn cả nước xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông, làm 28 người chết và 33 người bị thương.
7. Thiên tai, ô nhiễm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương.
Thiệt hại do thiên tai[46]: trong năm 2025, thiên tai làm 489 người chết và mất tích; 800 người bị thương; 386,6 nghìn ha lúa và 174,0 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 7,5 triệu con gia súc và gia cầm bị chết; 340,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong năm 2025 ước tính gần 102.665,3 tỷ đồng, tăng 15,0% so với năm 2024.
Bảo vệ môi trường[47]: trong năm 2025, các cơ quan chức năng phát hiện 16.280 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 14.302 vụ với tổng số tiền phạt gần 240,8 tỷ đồng, giảm 23,7% so với năm trước.
Cháy nổ[48]: trong tháng Mười Hai (từ 15/11-14/12/2025)[49], cả nước xảy ra 288 vụ cháy, nổ, làm 7 người chết và 23 người bị thương, thiệt hại ước tính 229,8 tỷ đồng, gấp 7,6 lần tháng trước và gấp 19,4 lần năm 2024. Tính chung cả năm 2025, trên địa bàn cả nước xảy ra 3.182 vụ cháy, nổ, làm 108 người chết và 135 người bị thương, thiệt hại ước tính 548,5 tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước./.
[1] IMF (Tháng 10/2025), “Triển vọng kinh tế thế giới: Nền kinh tế toàn cầu biến động, triển vọng vẫn ảm đạm”, https://www.imf.org/en/publications/weo/issues/2025/10/14/world-economic-outlook-october-2025, truy cập ngày 26/12/2025.
[2] EU (Tháng 11/2025), “Dự báo kinh tế châu Âu mùa thu 2025”, https://economy-finance.ec.europa.eu/economic-forecast-and-surveys/economic-forecasts/autumn-2025-economic-forecast-shows-continued-growth-despite-challenging-environment_en, truy cập ngày 26/12/2025.
[3] FR (Tháng 12/2025), “Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 12/2025”,
https://www.fitchratings.com/research/sovereigns/global-economic-outlook-december-2025-03-12-2025, truy cập ngày 26/12/2025.
[4] OECD (Tháng 12/2025), “Triển vọng kinh tế OECD số 2 năm 2025: Tăng trưởng bền vững nhưng đi kèm với những điểm yếu ngày càng tăng”, https://www.oecd.org/en/publications/oecd-economic-outlook-volume-2025-issue-2_9f653ca1-en.html, truy cập ngày 26/12/2025.
[5] Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)[5] dự báo tăng trưởng 2025 của Việt Nam đạt mức 7,4%. WB, IMF nhận định tăng trưởng năm 2025 của Việt Nam đạt 6,6%, 6,5%. OECD dự báo tăng trưởng năm 2025 của Việt Nam chỉ đạt 6,2%.
[6] Tốc độ tăng GDP quý IV các năm 2011-2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 7,05%; 5,99%; 6,38%; 7,29%; 7,38%; 7,49%; 8,18%; 7,78%; 7,52%; 4,69%; 5,23%; 6,26%; 6,76%, 7,51% và 8,46%.
[7] Tốc độ tăng GDP các năm 2011-2025 lần lượt là: 6,41%; 5,50%; 5,55%; 6,42%; 6,99%; 6,69%; 6,94%; 7,47%; 7,36%; 2,87%; 2,55%; 8,54%; 4,98%; 7,04% và 8,02%.
[8] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp các năm 2019-2025 so với năm trước lần lượt là: 8,14%; 3,77%; 4,06%; 8,52%; 2,88%; 8,12% và 8,80%.
[9] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo các năm 2019-2025 so với năm trước lần lượt là: 9,59%; 4,99%; 5,37%; 8,99%; 3,54%; 9,59% và 9,97%.
[10] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ các năm 2011-2025 so với năm trước lần lượt là: 7,65%; 7,03%; 6,82%; 7,31%; 7,05%; 7,46%; 7,12%; 7,46%; 8,08%; 2,01%; 1,75%; 10,66%; 6,81%; 7,36% và 8,62%.
[11] Tỷ giá trung tâm VND/USD bình quân năm 2025 là 24.976,91 đồng.
[12] Nguyên nhân chủ yếu do tiếp tục chuyển đổi một phần diện tích đất lúa sang trồng các loại cây khác có hiệu quả kinh tế cao hơn và đất phi nông nghiệp.
[13] Vĩnh Long chuyển 6,8 nghìn ha diện tích của vụ thu đông năm 2024 sang gieo trồng vụ đông xuân 2025; Cà Mau chuyển 4,3 nghìn ha.
[14] Chỉ số giá sản phẩm thịt lợn 6 tháng đầu năm 2025 tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước; cả năm tăng 9,99%.
[15] Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều địa phương đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành phần lớn kế hoạch trồng rừng ngay từ các quý trước, làm khối lượng thực hiện trong quý IV giảm tương đối. Bên cạnh đó, mưa bão cuối năm tại một số khu vực làm chậm tiến độ trồng rừng mới.
[16] Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính đến ngày 15/12/2025.
[17] Do nhiều đợt bão, áp thấp nhiệt đới làm ảnh hưởng tới hoạt động khai thác hải sản biển và việc siết chặt chế tài xử phạt hành vi khai thác thủy sản bất hợp pháp theo Nghị định số 38/2024/NĐ-CP.
[18] Chỉ số sản xuất công nghiệp các năm 2019-2025 so với năm trước lần lượt tăng: 9,1%; 3,3%; 4,7%; 7,4%; 1,3%; 8,2%; 9,2%.
[19] Trong đó, số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động trong năm 2025 đạt hơn 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 118,3% so với năm 2024.
[20] Để đánh giá tình hình SXKD của doanh nghiệp trong quý IV/2025, Cục Thống kê tiến hành khảo sát 30.300 doanh nghiệp, bao gồm: 6.207 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; 6.243 doanh nghiệp ngành xây dựng; 17.850 doanh nghiệp ngành thương mại, dịch vụ, đại diện cho 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
[21] Quý III/2025: 74,9% số doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD tốt hơn và giữ ổn định (24,3% tốt hơn và 50,6% giữ ổn định); 25,1% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn.
[22] Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý III/2025: 77,8% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý III/2025 so với quý II/2025 tốt hơn và giữ ổn định (33,6% tốt hơn và 44,2% giữ ổn định); 22,2% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn.
[23] Chỉ số tương ứng của ngành thương mại, dịch vụ quý III/2025: 76,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD quý III/2025 so với quý II/2025 tốt hơn và giữ ổn định (20,4% tốt hơn và 55,8% giữ ổn định); 23,8% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn.
[24] Chỉ số tương ứng của ngành xây dựng quý III/2025: 68,6% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý III/2025 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II/2025 (26,1% tốt hơn và 42,5% giữ ổn định); 31,4% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn.
[25] Bao gồm: Hoạt động kiến trúc, kiểm tra và phân tích kỹ thuật; Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Quảng cáo và nghiên cứu thị trường; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ khác.
[26] Số liệu tính đến 17h ngày 25/12/2025.
[27] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, nhận ngày 03/01/2026.
[28] Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam các năm 2011-2025 lần lượt là: 19,74; 22,40; 23,18; 25,35 và 27,62 tỷ USD.
[29] Số liệu nhận từ Vụ Ngân sách nhà nước – Bộ Tài chính ngày 31/12/2025.
[30] Nhờ tăng cường quản lý thu và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương nhằm đẩy mạnh công tác chống thất thu, chống buôn lậu, gian lận thương mại, thu hồi nợ đọng thuế. Bên cạnh đó, nhờ chính sách tài khóa giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất góp phần hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phục hồi phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
[31] Một số khoản thu nội địa đạt khá như: Các khoản thu từ nhà, đất ước đạt 575,5 nghìn tỷ đồng, bằng 196,4% dự toán năm nhờ các địa phương đẩy mạnh đấu giá đất, cho thuê đất đã góp phần huy động kịp thời nguồn lực từ đất đai cho ngân sách. Thu hồi vốn, thu cổ tức, lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế, chênh lệch thu chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ước đạt 158,3 nghìn tỷ đồng, bằng 138,0% dự toán năm nhờ phát sinh tăng số nộp ngân sách một số khoản cổ tức được chia.
[32] Công tác điều hành chi năm 2025 chặt chẽ, triệt để tiết kiệm chi phí thường xuyên, bố chí, đảm bảo tăng nguồn lực cho đầu tư công, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; đảm bảo thực hiện các chính sách chế độ khi sắp xếp bộ máy; đảm bảo quốc phòng, an ninh; phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và thực hiện chính sách an sinh xã hội.
[33] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).
[34] Số liệu sơ bộ xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Mười Hai do Cục Hải quan cung cấp ngày 03/01/2026.
[35] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025 đạt 786,93 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 405,94 tỷ USD, tăng 14,4%; nhập khẩu đạt 380,99 tỷ USD, tăng 16,7%.
[36] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.
[37] Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
[38] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.
[39] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.
[40] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.
[41] Theo báo cáo tổng hợp từ các địa phương.
[42] https://baochinhphu.vn/thu-tuong-phan-dau-den-ngay-15-1-2026-hoan-thanh-toan-bo-chien-dich-quang-trung-102251230081833884.htm?gidzl=osx49NUsKm7ATSGZTgzM3ybro29jhLO0XdF28ZZw05E78fH-Qwi23TbnbImtgWfSZNBFU6QAxQOLSB5M2G
[43] Theo báo cáo của Bộ Y tế.
[44] Một số các sự kiện nổi bật trong năm như sau: Chương trình đại nhạc hội “Tổ quốc trong tim” diễn ra ngày 10/8 tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình; Concert “Việt Nam trong tôi” diễn ra ngày 26/8 tại Triển lãm quốc gia Việt Nam; Chương trình nghệ thuật quốc gia đặc biệt “80 năm Hành trình Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” diễn ra tối ngày 01/9 tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình; Concert “Tôi yêu Tổ quốc tôi”(ngày 15/9); V Fest – Thanh xuân rực rỡ (ngày 9-10/8); V Fest – Vietnam Today (ngày 20/9).
[45] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng) ngày 28/12/2025.
[46] Tổng hợp Báo cáo từ Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kỳ báo cáo từ ngày 26/11-25/12/2025.
[47] Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được các
Thống kê tỉnh, thành phố tổng hợp.
[48] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/12/2025.
[49] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/12/2025.

Kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều điểm sáng nổi bật
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt, nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế nước ta đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều chỉ tiêu trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đạt và vượt mục tiêu đề ra. (20/01/2026)
Báo cáo phân tích Hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam năm 2025 và dự báo trong tương lai tới
Như chúng ta đều biết, sau khi EVN công bố số liệu về tổng sản lượng điện thương phẩm năm 2025 chỉ tăng 4,9% so với năm 2024, trong khi tăng trưởng GDP của nền kinh tế đạt 8,02%. Sự chênh lệch này khiến không ít ý kiến băn khoăn, thậm chí đặt câu hỏi liệu có sự “bất thường” giữa tăng tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tiêu thụ điện, vốn lâu nay vẫn được xem là hai chỉ tiêu có quan hệ song hành. (07/01/2026)
Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, tạo bước đột phá trong quản lý thuế
Năm 2025 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của ngành Thuế trong lộ trình chuyển đổi số quốc gia. Với việc tổ chức triển khai đồng bộ các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), Cục Thuế đã không ngừng hiện đại hóa công tác quản lý, nâng cao hiệu quả phục vụ người nộp thuế (NNT), góp phần tăng thu ngân sách nhà nước (NSNN), đảm bảo minh bạch, công bằng và hiệu lực quản lý thuế. (26/12/2025)
Đồng hành và chia sẻ khó khăn trong công tác chuyển đổi số
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai chương trình công tác năm 2026 do Cục CNTT tổ chức (ngày 19/12/2025), các đại biểu đã chia sẻ những khó khăn trong công tác chuyển đổi số. (22/12/2025)
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia
Phát biểu kết luận Hội nghị sơ kết 1 năm triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, 5 năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước, 4 năm triển khai Đề án 06, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 nhấn mạnh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đòi hỏi khách quan, sự lựa chọn mang tính chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong đầu tư, là động lực phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia. (20/12/2025)
Kinh tế tuần hoàn là động lực chuyển đổi xanh
Trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn được xác định là một động lực then chốt của chuyển đổi xanh trong mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam. Đây cũng là thông điệp xuyên suốt tại phiên chuyên đề "Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững", diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026. (19/12/2025)

