Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng trước và tăng 0,01% so với tháng 12 năm trước – đều là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020[1], chủ yếu do giá dịch vụ giáo dục được điều chỉnh tăng theo lộ trình nhằm tiệm cận với giá thị trường, giá điện sinh hoạt tăng do nhu cầu sử dụng điện trong thời tiết nắng nóng; giá gạo trong nước tăng do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ở mức cao nhất kể từ năm 2011. Bình quân 9 tháng năm 2020, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ giá thương mại hàng hóa bình quân 9 tháng giảm 0,72% so với cùng kỳ năm 2019 phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng trước. Có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng Chín tăng so với tháng trước, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất với 2,08% (dịch vụ giáo dục tăng 2,29%) làm CPI chung tăng 0,12% do trong tháng có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện lộ trình tăng học phí cho năm học mới 2020-2021 và giá các mặt hàng sách vở, đồ dùng học tập tăng[2]. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,62%, chủ yếu do giá điện sinh hoạt tăng 3,23% (làm CPI chung tăng 0,11%) và giá gas tăng 0,52%. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,1% do nhu cầu sắm sửa quần áo và giày dép cho năm học mới; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,05%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,31%, trong đó lương thực tăng 0,53% do giá gạo tăng 0,71%; thực phẩm giảm 0,59%[3]. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,2% do nhu cầu du lịch của người dân giảm khi dịch Covid-19 bùng phát trở lại[4]; nhóm giao thông giảm 0,12%[5]; nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình giảm 0,06%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%.
Tính chung quý III/2020, CPI tăng 0,92% so với quý trước và tăng 3,18% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 11,47% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục tăng 3,52%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,51%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,36%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,11%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,67%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,56%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,48%. Có 3 nhóm có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước là giao thông giảm 13,39%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,65%; bưu chính viễn thông giảm 0,54%.
CPI tháng 9/2020 tăng 0,01% so với tháng 12/2019 và tăng 2,98% so với cùng kỳ năm 2019. CPI bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 3,85% so với bình quân cùng kỳ năm 2019. CPI 9 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá các mặt hàng lương thực tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,15%); (ii) Giá các mặt hàng thực phẩm tăng 14,31% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 3,05%), trong đó riêng giá thịt lợn tăng 70,55% (làm CPI chung tăng 2,39%); (iii) Giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1,43% do dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp nên nhu cầu về mặt hàng này ở mức cao; (iv) Giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và các loại quần áo may sẵn tăng cao, lần lượt tăng 1,58% và 0,73% so với cùng kỳ năm 2019.
Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI 9 tháng năm 2020: (i) Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu giảm 22,12% (làm CPI chung giảm 0,8%); giá dầu hỏa giảm 30,1%; giá gas trong nước giảm 1,68%; (ii) Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 2,13% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm[6]; (iii) Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19 như gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng nên giá điện tháng 5 và tháng 6 năm nay giảm lần lượt là 0,28% và 2,72% so với tháng trước; (iv) Các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, bảo đảm cân đối cung cầu và ổn định thị trường.
Lạm phát cơ bản tháng 9/2020 giảm 0,02% so với tháng trước và tăng 1,97% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 2,59% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Giá vàng giảm do các nhà đầu tư bán ra chốt lời sau thời gian giá vàng tăng mạnh, nền kinh tế Mỹ phục hồi tốt hơn so với các dự đoán sau khi bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 và chỉ số đồng USD tăng lên so với các đồng tiền chủ chốt trên thị trường thế giới. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 28/9/2020 giảm 2,55% so với tháng 8/2020. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 9/2020 giảm 0,33% so với tháng trước; tăng 32,37% so với tháng 12/2019 và tăng 30,33% so với cùng kỳ năm trước.
Cục dữ trữ liên bang Mỹ (FED) bất ngờ tuyên bố sẽ giữ lãi suất ở mức gần bằng 0% và giữ nguyên lãi suất này đến năm 2023 đồng thời dự báo nền kinh tế Mỹ sẽ phục hồi sau dịch Covid-19. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2020 giảm 0,05% so với tháng trước; tăng 0,12% so với tháng 12/2019 và giảm 0,17% so với cùng kỳ năm 2019.
c) Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2020 tăng 1,43% so với quý trước và tăng 10,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 2,46% và tăng 16,1%; lâm nghiệp tăng 0,03% và giảm 0,1%; thủy sản giảm 1,52% và giảm 2,19%. Tính chung 9 tháng năm 2020, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 8,41% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 12,06%; lâm nghiệp giảm 0,22%; thủy sản giảm 1,18%.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý III/2020 tăng 0,81% so với quý trước và giảm 0,95% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 9,14% và giảm 9,86%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,4% và giảm 0,36%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,95% và giảm 3,68%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,29% và tăng 2,68%. Tính chung 9 tháng năm 2020, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp giảm 0,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 8,21%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,2%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,73%.
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý III/2020 tăng 1,12% so với quý trước và giảm 1,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 2,71% và giảm 6,08%; giáo dục và đào tạo tăng 0,83% và tăng 2,67%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,34% và tăng 0,41%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 0,05% và tăng 0,77%. Tính chung 9 tháng năm 2020, chỉ số giá sản xuất dịch vụ giảm 0,58% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ ngành vận tải, kho bãi giảm 5,28%; thông tin và truyền thông giảm 3,06%; giáo dục và đào tạo tăng 3,71%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 2,63%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 1,08%.
d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý III/2020 tăng 0,17% so với quý trước và giảm 1,55% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,98% và giảm 4,1%; nhóm nhiên liệu tăng 9,13% và giảm 31,82%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác ổn định so với quý trước và tăng 0,24% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá xuất khẩu quý III so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước của một số mặt hàng như sau: Dầu thô tăng 10,37% và giảm 36,92%; xăng, dầu các loại tăng 8,32% và giảm 23,39%; chè tăng 6,3% và tăng 14,12%; gạo tăng 3,1% và tăng 6,22%; quặng và khoáng sản tăng 2,48% và tăng 2,44%; cao su giảm 3,26% và giảm 6,67%; sắt thép giảm 3,18% và giảm 8,03%; thủy sản giảm 2,47% và giảm 9,03%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 2,06% và giảm 0,04%. Tính chung 9 tháng năm nay, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá giảm 1,33% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 2,93%; nhóm nhiên liệu giảm 27,43%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,08%. Chỉ số giá xuất khẩu 9 tháng năm 2020 của một số mặt hàng: Dầu thô giảm 32,28%; xăng, dầu các loại giảm 19,27%; phân bón giảm 6,37%; thủy sản giảm 6,17%; cà phê giảm 5,98%; quặng và khoáng sản tăng 10,42%; chè tăng 9,73%; đá quý và kim loại quý tăng 7,07%.
Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý III/2020 tăng 0,03% so với quý trước và giảm 0,95% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,12% và tăng 0,73%; nhóm nhiên liệu tăng 7,1% và giảm 3,31%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,29% và giảm 0,93%. Chỉ số giá nhập khẩu quý III của một số mặt hàng như sau: Xăng dầu các loại tăng 9,83% so với quý trước và giảm 2,65% so với cùng kỳ năm trước; cao su tăng 2,03% và tăng 0,55%; dầu mỡ động thực vật tăng 1,59% và tăng 13,74%; khí đốt hóa lỏng giảm 3,61% và giảm 18,17%; linh kiện, phụ tùng ô tô giảm 2,57% và giảm 2,29%; thủy sản giảm 2,12% và giảm 2,55%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá giảm 0,62% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,89%; nhóm nhiên liệu giảm 3,6%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,55%. Chỉ số giá nhập khẩu 9 tháng của một số mặt hàng: Khí đốt hóa lỏng giảm 14,63%; hóa chất giảm 7,18%; xăng dầu các loại giảm 3,48%; sản phẩm từ giấy tăng 11,03%; dầu mỡ động thực vật tăng 7,78%; rau quả tăng 4,76%.
Tỷ giá thương mại hàng hóa[7] quý III/2020 tăng 0,14% so với quý trước và giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tỷ giá thương mại hàng hoá giảm 0,72% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó tỷ giá thương mại hàng hóa của mặt hàng hóa chất tăng 7,74%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,58%; cao su tăng 0,85%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 0,83%; xăng dầu các loại giảm 16,35%; sắt, thép giảm 5,48%; thủy sản giảm 4,5%; rau quả giảm 2,02%.
[1] Tốc độ tăng CPI tháng Chín so với tháng trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 0,54%; tăng 0,59%; tăng 0,59%; tăng 0,32%; tăng 0,12%. Tốc độ tăng CPI tháng Chín so với tháng 12 năm trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 3,14%; tăng 1,83%; tăng 3,2%; tăng 2,2%; tăng 0,01%.
[2] Giá sách giáo khoa tăng 0,57%; giá văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,28%; giá bút các loại tăng 0,52%.
[3] Chủ yếu do giá thịt lợn giảm 3,51%; giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn giảm (giá thịt quay, giò chả giảm 0,95%; giá thịt hộp, chế biến khác giảm từ 0,04%-0,24%); giá thịt gà giảm 1%, giá thịt gia cầm khác giảm 0,68%; giá thủy sản tươi sống giảm 0,36%.
[4] Giá dịch vụ du lịch trọn gói giảm 0,37%; giá khách sạn, nhà khách giảm 0,07%.
[5] Chủ yếu do ảnh hưởng từ 3 đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 27/8/2020, thời điểm 11/9/2020 và thời điểm 26/9/2020 làm chỉ số giá xăng, dầu giảm 0,05%. Ngoài ra còn do giá vé tàu hỏa giảm 1,26% và giá ô tô giảm 0,29%.
[6] Giá vé máy bay giảm 33,68%; giá vé tàu hỏa giảm 1,57%.
[7] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.