Năm 2006 là năm khởi đầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2006-2010 của nước ta và là năm có nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng. Bên cạnh những thuận lợi, trong 6 tháng đầu năm 2006 vừa qua, kinh tế nước ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức: hạn hán đầu vụ đông xuân ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng; sâu bệnh phát triển trên diện rộng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; dịch lở mồm long móng ở gia súc; cơn bão số 1 đã gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng trực tiếp đến khai thác thuỷ sản. Thị trường thế giới tiếp tục biến động khó lường, đặc biệt là giá dầu thô và một số nguyên liệu tăng là áp lực tăng giá nguyên liệu đầu vào đối với nhiều ngành sản xuất và dịch vụ trong nước và tăng giá tiêu dùng. Tuy vậy, ngay từ đầu năm Chính phủ đã có sự chỉ đạo, điều hành sát sao và với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, các doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế-xã hội tiếp tục phát triển và ổn định.

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

  1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2006 tính theo giá so sánh 1994 tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quí II tăng 7,5%, cao hơn mức tăng 7,2% của quí I (cả 3 khu vực đều tăng cao hơn mức tăng trưởng trong quí I). Giá trị tăng thêm của tất cả 20 ngành kinh tế cấp I đều cao hơn cùng kỳ năm trước. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3%; công nghiệp, xây dựng tăng 9,3%; dịch vụ tăng 7,7%. Đóng góp vào tăng trưởng 6 tháng của các khu vực lần lượt là công nghiệp, xây dựng 3,7 điểm phần trăm; dịch vụ 3,1 điểm phần trăm; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 0,6 điểm phần trăm.

Bảng 1. Tốc độ Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994

                                  %

Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước Đóng góp vào tăng trưởng (điểm phần trăm)
Quí I/2006 Quí II/2006 6 tháng đầu năm 2006
        GDP 7,2 7,5 7,4 7,4
Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 2,1 3,4 3,0 0,6
Khu vực công nghiệp, xây dựng 8,7 9,8 9,3 3,7
     Công nghiệp 8,8 10,2 9,5 3,1
Khu vực dịch vụ 7,4 8,0 7,7 3,1

Khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm nay tăng trưởng thấp hơn mức tăng 4,4% của 6 tháng đầu năm trước, do giá trị tăng thêm của nông nghiệp và thuỷ sản đều tăng thấp hơn: nông nghiệp tăng 2,5% thấp hơn mức tăng 4% của 6 tháng đầu năm trước, chủ yếu do giá trị sản xuất lương thực đạt thấp (trong đó sản lượng lúa dự kiến cũng chỉ tăng 1,5%); thuỷ sản tăng 7% (6 tháng đầu năm trước tăng 8%).

Khu vực công nghiệp và xây dựng có mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay chỉ cao hơn mức tăng trưởng của 6 tháng đầu năm trước 0,1 điểm phần trăm, chủ yếu do tăng trưởng của công nghiệp khai khoáng giảm 0,2 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm trước, dầu thô khai thác giảm đã làm giảm giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm của ngành.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2006 chỉ ngang mức tăng trưởng của 6 tháng đầu năm trước. Trong khi phần lớn các ngành dịch vụ kinh doanh duy trì mức tăng trưởng cao như: thương nghiệp tăng 7,9%; khách sạn, nhà hàng tăng 11%; vận tải, bưu điện, du lịch tăng 9,9%; tài chính ngân hàng, bảo hiểm tăng 9,3%, thì các ngành dịch vụ công cộng tăng ở mức thấp hơn, phổ biến tăng từ 6,8% đến 7,5%; riêng ngành kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn liên quan chỉ tăng 3,4%.

Một số yếu tố chính trong sử dụng tổng sản phẩm trong nước đạt khá so với cùng kỳ: Xuất khẩu hàng hoá tăng 25,7% (6 tháng đầu năm trước tăng 17,4%), trong khi nhập khẩu chỉ tăng 14,1% (6 tháng đầu năm trước tăng 22%), như vậy xuất khẩu đã tăng nhanh hơn nhập khẩu 11,6 điểm phần trăm nên đã thu hẹp được khoảng cách xuất nhập khẩu so với cùng kỳ và góp phần tích cực vào tăng trưởng. Tiêu dùng trong dân cư tăng thể hiện ở mức tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Chi ngân sách Nhà nước tăng so với cùng kỳ năm trước. Đầu tư từ các nguồn vốn trong nước và ngoài nước tăng. Mặc dù trong 6 tháng đầu năm, nhiều biến động về giá xăng dầu và giá một số nguyên, nhiên, vật liệu trên thị trường quốc tế đã ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, nhưng mức tăng giá hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm nay duy trì được ở mức thấp hơn mức tăng giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm trước. Tỷ giá đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ chủ chốt trong thanh toán quốc tế về căn bản ổn định.

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2006 ước tính tăng 14,6% so với 6 tháng đầu năm 2005 và đạt 48,8% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 48,5%; thu từ dầu thô 50,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 46,9% (thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 54,7%, thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu đạt 44,6%). Trong thu nội địa, các khoản đạt tỷ lệ cao hơn mức bình quân chung như: thu từ kinh tế quốc doanh đạt 49,4%; thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh 52,1%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 52%; riêng các khoản thu về nhà đất đạt 47,7%, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 40,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng ước tính tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước và đạt 45,6% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển 42,7% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 42,8%); chi trả nợ và viện trợ đạt 44,6%; chi thường xuyên đạt 50,2%. Một số khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đạt khá so với dự toán cả năm như: Chi sự nghiệp kinh tế 54,3%; chi quản lý hành chính 51,3%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 50,7%; chi y tế 50,1%; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề 48,6%. Bội chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước tính bằng 37,6% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 66,8% và vay nước ngoài 33,2%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 85,6 nghìn tỷ đồng (theo giá so sánh 1994), tăng 3,8% so cùng kỳ năm trước, trong đó nông nghiệp tăng 3%, lâm nghiệp tăng 0,8% và thuỷ sản tăng 7,3%. Nhìn chung, giá trị sản xuất nông nghiệp năm nay tăng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước, do rÐt ®Ëm kÐo dµi đầu vụ đông xuân ở miền Bắc, mưa lũ ë miÒn Trung vµ ®ång b»ng s«ng Cửu Long, mÆt kh¸c mét sè diÖn tÝch lóa ë c¸c tØnh phÝa Nam bÞ nhiÔm bÖnh, làm giảm năng suất; chăn nuôi bị ảnh hưởng bởi dÞch lë måm long mãng ë gia sóc x¶y ra trªn diÖn réng; ngoài ra c¬n b·o sè 1 lµm thiÖt h¹i lín vÒ ng­êi, tµi s¶n và ảnh hưởng trực tiếp đến khai thác thuỷ sản.

Nông nghiệp

Lúa đông xuân: Ước tính sản lượng lúa đông xuân năm nay đạt 17,6 triệu tấn, tăng 1,5% (+26,6 vạn tấn) so với vụ đông xuân năm trước. Miền Bắc sản lượng ước tính đạt 6,82 triệu tấn, tăng 92,8 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước. Tuy đầu vụ do hạn hán thiếu nước một số diện tích cấy lúa chân ruộng cao phải chuyển trồng cây màu, diện tích lúa đông xuân chỉ đạt xấp xỉ năm trước (bằng 99,4%), nhưng nhìn chung thời tiết tương đối thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển, độ đồng đều cao nên năng suất ước đạt 59,4 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha. Miền Nam đã thu hoạch xong lúa đông xuân, sản lượng ước tính đạt 10,77 triệu tấn, tăng 1,6% so với vụ đông xuân năm trước, tương ứng với tăng thêm 17,3 vạn tấn, chủ yếu do tăng diện tích 3,2%, tương ứng với tăng 57,5 nghìn ha (Trong đó đồng bằng sông Cửu Long tăng 21 nghìn ha; các tỉnh Đông Nam bộ tăng 22 nghìn ha; Tây Nguyên tăng 10 nghìn ha). Năng suất lúa đông xuân các tỉnh phía Nam ước tính đạt 58,3 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha so cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giảm năng suất lúa của một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long vì bị nhiễm mặn, sâu bệnh nặng.

Sản lượng ngô đông xuân ước tính đạt 1,8 triệu tấn, tăng 53 nghìn tấn (+3%) so cùng kỳ năm trước do tăng cả diện tích và năng suất: diện tích ngô tăng 8,6 nghìn ha (+1,7%) và năng suất tăng 0,4 tạ/ha (+1,3%); sản lượng đỗ tương tăng 6,5%; rau tăng 5,9%. Tuy nhiên, khoai lang vụ đông xuân năm nay giảm cả về diện tích và sản lượng, sản lượng khoai lang chỉ bằng 97,5% vụ đông xuân năm trước; sản lượng lạc bằng 95,6%, vừng bằng 81%.

Lúa hè thu: Tính đến trung tuần tháng 6, các địa phương đã gieo cấy được 2 triệu ha lúa hè thu, tăng 7,1% so cùng kỳ năm trước; trong đó đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ 1,55 triệu ha, tăng 3%. Tuy sâu bệnh phát sinh ở một số diện tích hè thu sớm nhưng được cứu chữa kịp thời nên không ảnh hưởng lớn tới năng suất.

Chăn nuôi: Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/4/2006, tổng đàn lợn cả nước hiện có 27,39 triệu con, tăng 5,3% so cùng kỳ năm trước và xấp xỉ đàn lợn thời điểm 1/8/2005 (Hậu Giang tăng 19%, Tây Ninh tăng 18%, Thái Bình tăng 12%, Nam Định tăng 6,9%, Thanh Hoá tăng 4,2%…). Đàn lợn tăng chủ yếu do tăng số hộ nuôi qui mô lớn. Trong tổng số, đàn lợn thịt tăng 5,3%, đàn lợn nái tăng 5,2%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng tăng gần 6% so với cùng kỳ năm trước. Đàn bò ở hầu hết các tỉnh tăng cao so cùng kỳ năm trước (Hải Phòng tăng 20%, Hưng Yên tăng 20%, Thanh Hoá tăng 15%,…), do một số tỉnh có chủ trương khuyến khích, cho nông dân vay tiền để mua bò giống, nuôi và tiêu thụ sản phẩm thuận lợi. Đàn gia cầm đã khôi phục và bắt đầu phát triển ở hộ có quy mô nuôi nhỏ, ước tính tăng 6,5% so cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 6, dịch lở mồm long móng ở gia súc cơ bản đã được khống chế, công tác tiêm phòng cho gia súc đang được đẩy mạnh. Tuy nhiên, công tác kiểm dịch, kiểm soát lưu thông gia súc có bệnh hiện rất khó khăn, nhất là ở các tỉnh biên giới nên nguy cơ lây nhiễm bệnh là rất cao. Các địa phương đã kết thúc công tác tiêm phòng đợt đầu năm cho đàn gia cầm.

Lâm nghiệp

Diện tích trồng rừng tập trung 6 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 97,5 nghìn ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là trồng mới theo dự án 5 triệu ha rừng. Một số địa phương có diện tích rừng trồng tăng nhiều so với cùng kỳ như Điện Biên, Thanh Hoá, Lào Cai, Đắk Nông (tăng trên 20%). Số cây trồng phân tán 6 tháng đầu năm ước tính tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng, do thời tiết khá thuận cộng với nhiều diện tích rừng đến chu kỳ khai thác, ước tính gỗ khai thác (kể cả gỗ nguyên liệu giấy) đạt 1348 nghìn m3, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 76% khai thác từ rừng trồng. Sản lượng gỗ khai thác của một số tỉnh tăng nhanh như: Quảng Ngãi tăng 95%, Gia Lai tăng 26%, Quảng Nam tăng 22%, Phú Thọ tăng 12%. Sản lượng củi khai thác không tăng so với cùng kỳ năm trước, ước tính đạt 12 triệu ste, do một số hộ gia đình đang có xu hướng chuyển sang sử dụng các loại chất đốt khác thay thế.

Về công tác bảo vệ rừng, diện tích rừng bị thiệt hại do cháy và bị chặt phá trên phạm vi cả nước 6 tháng đầu năm nay là 2783 ha, bằng 61,2% cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy 1328 ha, bằng 33,2% cùng kỳ; một số tỉnh bị thiệt hại nhiều do cháy rừng như: Hà Giang 335 ha, Kon Tum 178 ha, Yên Bái 115 ha, Lai Châu 106 ha, Quảng Ninh 105 ha. Diện tích rừng bị chặt phá 1455 ha, gấp gần 3 lần so với 6 tháng đầu năm 2005, do một bộ phận dân cư đốt, chặt phá rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ trái phép (Bình Phước 725 ha, chiếm gần 50% diện tích rừng bị phá của cả nước; Gia Lai 170 ha, Đắk Nông 165 ha, Lâm Đồng 161 ha).

Thủy sản

Tổng sản lượng thuỷ sản 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 1697,3 nghìn tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng và đánh bắt đều tăng. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước tính đạt 647,9 nghìn tấn, tăng 18,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 26%, tôm tăng 5,3% (do phần lớn diện tích nuôi tôm sú vụ chính đã được thả giống đúng thời vụ nhưng chưa được thu hoạch đại trà). Nuôi trồng thuỷ sản đang từng bước chuyển dịch theo xu hướng đa dạng hoá các mô hình nuôi, đối tượng nuôi cho hiệu quả về kinh tế và đảm bảo bền vững cho môi trường. Do nhu cầu tiêu thụ tăng, giá cá tra, cá ba sa tăng từ cuối năm 2005 và liên tục tăng cao trong những tháng đầu năm nay đã khuyến khích các hộ nuôi cá trước đây bị thua lỗ nuôi trở lại, chuyển diện tích nuôi tôm có hiệu quả thấp sang và phát triển nuôi cá bè ở vùng sông Tiền (Tiền Giang). Do vậy, diện tích nuôi trồng thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2006 tăng 2% so cùng kỳ năm trước (ước tính đạt 891,8 nghìn ha, trong đó diện tích nuôi cá tăng 5,1%, nuôi tôm giảm 1%).

Sản lượng thuỷ sản khai thác ước tính đạt 1049,4 nghìn tấn, tăng 2,3% so cùng kỳ năm trước; trong đó, khai thác biển 961 nghìn tấn, tăng 3,1%. Vụ cá Nam sản lượng khá do các loại cá xuất hiện dày và kéo dài ở vùng biển nam Trung bộ nên nhiều thuyền nghề lớn đánh bắt xa bờ cũng như các thuyền nghề truyền thống ở địa phương ra khơi bám biển đánh bắt. Tuy nhiên, cá ngừ đại dương xuất hiện ít hơn so với năm trước nên sản lượng khai thác tăng nhưng với tốc độ thấp hơn so với các năm trước và hiệu quả không cao. Mặt khác, khai thác thuỷ sản còn chịu ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu và cơn bão số 1.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 6 ước tính tăng 17,5% so với cùng tháng năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước tăng 11,3% (trung ương quản lý tăng 13%, địa phương quản lý tăng 6,7%), kinh tế ngoài Nhà nước tăng 22,9% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19% (dầu thô khai thác tăng 0,8% và các sản phẩm khác tăng 23,1%).

Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 6 tăng như: than sạch khai thác, thủy sản chế biến, đường mật, vải lụa thành phẩm, quần áo may sẵn, giấy bìa, thuốc chữa bệnh, xà phòng, sứ vệ sinh, xi măng, thép cán, động cơ diezen và động cơ điện… Tuy nhiên, có một số s¶n phÈm tăng thấp, thËm chÝ cßn sôt gi¶m m¹nh như: dÇu th« chØ t¨ng 1,6%; khÝ ®èt gi¶m 2,5%; xe m¸y l¾p r¸p gi¶m 4%; sø vÖ sinh gi¶m 11,2%; ga hãa láng gi¶m 25,9%; «t« l¾p r¸p gi¶m 44,5%…

Tính chung 6 tháng đầu năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, là tốc độ tương đối cao so với cùng kỳ những năm gần đây, trong đó khu vực Nhà nước tăng 9,5% (Trung ương quản lý tăng 12,6%; địa phương quản lý tăng 1,6%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 20,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,5% (trong khi tốc độ tăng 6 tháng của khu vực này năm 2004 đạt 14,7%; năm 2005 chỉ đạt 13,9%).

Trong ba ngành công nghiệp cấp I, công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất (86,5% giá trị sản xuất toàn ngành), đồng thời cũng là ngành tăng cao nhất (+ 17,6% so với cùng kỳ 2005); công nghiệp khai thác mỏ chiếm tỷ trọng 8,1%, chỉ tăng 4,3%; sản xuất và phân phối điện, ga, nước chiếm tỷ trọng 5,4%, tăng 12,5%.

Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp quan trọng có tốc độ tăng cao trong 6 tháng đã đóng góp vào mức độ tăng trưởng của công nghiệp như: than tăng 23,9%, do xuất khẩu than tăng mạnh (lượng xuất khẩu than chiếm tới 68,7% lượng than khai thác) và tăng nhu cầu than cho sản xuất của các nhà máy nhiệt điện; thuỷ sản chế biến tăng 16,8%; vải lụa thành phẩm tăng 20,5%; quần áo dệt kim tăng 15,6%; quần áo may sẵn tăng 25,7%; thuốc trừ sâu tăng 19,6%; thuốc ống các loại tăng 25,1%; xà phòng tăng 15%; sứ vệ sinh tăng 20,8%; xi măng tăng 14,4%; thép cán tăng 20,3%; một số sản phẩm khác như: đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đặc biệt là tàu vận tải chuyên dụng, dây và cáp điện, đồ gỗ, đồ nhựa gia dụng…

Bên cạnh các sản phẩm tăng cao, dầu thô khai thác là sản phẩm có giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm lớn nhưng giảm 4,2% so với 6 tháng đầu năm trước; một số mặt hàng tăng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước như: quần áo dệt kim, giày dép, xe đạp, ô tô…

Một số địa phương có quy mô công nghiệp trên địa bàn lớn, có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp cao hơn mức tăng chung của cả nước như: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Quảng Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ,… Riêng thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 22,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, chỉ tăng 13,4%; công nghiệp trên địa bàn Bà Rịa-Vũng Tàu cũng chỉ tăng 9,9%.

  1. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2006 theo giá thực tế ước tính đạt 173,4 nghìn tỷ đồng, bằng 46% kế hoạch năm và tăng 24,3% so với 6 tháng đầu năm 2005, trong đó vốn Nhà nước thực hiện 84 nghìn tỷ đồng, chiếm 48,4% tổng số vốn, tăng 14,1%; vốn ngoài Nhà nước 59,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 34,5% và tăng 44%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 29,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,1% và tăng 21,8%.

Bảng 2. Thực hiện vốn đầu t­ư 6 tháng đầu năm 2006 

 

 Kế hoach 2006

(Nghìn tỷ đồng)

Ước tính thực hiện 6 tháng đầu năm2006
(Nghìn

tỷ đồng)

So với kế hoạch năm (%) Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm 2005 (%)
TỔNG SỐ 376,6 173,4 46,0 24,3
   Vốn Nhà n­ước 193,6 84,0 43,4 14,1
   Vốn ngoài Nhà nước 127,0 59,8 47,1 44,0
   Vốn đầu tư­ trực tiếp n­ước ngoài 56,0 29,6 52,9 21,8

 

Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2006 ước tính thực hiện đạt 26,7 nghìn tỷ đồng, bằng 47,6% kế hoạch cả năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 8,6 nghìn tỷ đồng, đạt 49,5% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải gần 3,44 nghìn tỷ đồng, đạt 51,8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1,14 nghìn tỷ đồng, đạt 57,3%; Bộ Xây dựng 811,1 tỷ đồng, đạt 49%; Bộ Công nghiệp đạt 45%; Bộ Văn hoá Thông tin đạt 43,9%; Bộ Thuỷ sản đạt 42,5%; Bộ Y tế đạt 39,2%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 38,5%. Vốn đầu tư do địa phương quản lý 18,1 nghìn tỷ đồng, bằng 46,7% kế hoạch năm. Một số địa phương có khối lượng vốn đầu tư lớn như: Hà Nội 2,2 nghìn tỷ đồng, bằng 47,6% kế hoạch năm; Hải Phòng 544,2 tỷ đồng, bằng 40,7%; Thanh Hoá 546,5 tỷ đồng, bằng 48,6%; Đà Nẵng 950,2 tỷ đồng, bằng 43,7%; Đồng Nai 684,6 tỷ đồng, bằng 53,1%; Bà Rịa-Vũng Tàu 962,7 tỷ đồng, bằng 46,9%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh 6 tháng đầu năm thực hiện gần 2,8 nghìn tỷ đồng nhưng mới đạt 34,7% kế hoạch năm.

Trong 6 tháng đầu năm, các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục thực hiện các công trình chuyển tiếp từ các năm trước và triển khai các công trình, dự án mới trong năm. Công tác thi công các đập đầu mối, hồ chứa nước thuỷ lợi đang được đẩy nhanh tiến độ; các tuyến đê được gia cố tăng khả năng đối phó với mưa bão. Hoàn thành và đưa vào sử dụng cầu vượt nút giao thông Ngã Tư Sở (Hà Nội); đã phát điện tổ máy 1 dự án thuỷ điện Sê San 3 đúng tiến độ, đồng thời chuẩn bị phát điện tổ máy 2 vào tháng 7/2006. Đã khởi công xây dựng công trình đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình… Tuy nhiên, đến nay cũng có nhiều công trình, dự án triển khai và thực hiện chậm so với tiến độ. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do vướng mắc trong khâu giải phóng mặt bằng; sự biến động của giá cả trên thị trường làm tăng chi phí; một số công trình giải ngân chậm. Ngoài ra, một số công trình dự án do vướng mắc về thủ tục nên đến nay vẫn chưa được triển khai.

Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 20/6/2006 cả nước có 339 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 2,26 tỷ USD, tăng 5% về số dự án và tăng 21% tổng vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2005. Bình quân vốn đăng ký 1 dự án cấp mới xấp xỉ 6,7 triệu USD, cao hơn bình quân 5,8 triệu USD/dự án của cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, 6 tháng qua cũng đã có 182 lượt dự án được tăng vốn với số vốn tăng thêm 585,3 triệu USD. Tính chung cả vốn cấp mới và tăng vốn 6 tháng đầu năm nay là 2,85 tỷ USD. 

Bảng 3. Đầu t­ư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép từ 01/01/2006 đến 20/6/2006

Số dự án Số vốn đăng ký (Triệu USD) Vốn BQ 1 dự án                    (Triệu USD)
            TỔNG SỐ 339 2260,2 6,67
   Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 15 12,3 0,82
   Khu vực công nghiệp và xây dựng 250 1434,4 5,74
   Khu vực dịch vụ 74 813,5 10,99

Đầu tư nước ngoài được cấp phép trong 6 tháng đầu năm tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và xây dựng với 250 dự án và trên 1,43 tỷ USD, chiếm 73,8% số dự án và 63,5% tổng vốn đăng ký; khu vực dịch vụ 74 dự án và 813,5 triệu USD, chiếm 21,8% số dự án và 36% tổng vốn đăng ký; khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản 15 dự án và 12,3 triệu USD, chỉ chiếm 4,4% số dự án và 0,5% tổng vốn đăng ký.

Trong các địa phương, thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu cả nước với 126 dự án và 749,4 triệu USD, chiếm 37,2% tổng số dự án và 33,2% vốn đăng ký; tiếp đến là Hà Nội với 40 dự án và 494,9 triệu USD, chiếm 11,8% số dự án và 21,9% số vốn đăng ký; Bà Rịa-Vũng Tàu 310,9 triệu USD; Hải Dương 118,5 triệu USD; Đà Nẵng 94 triệu USD; Đồng Nai 73,1 triệu USD; Bình Dương 65 triệu USD; Khánh Hoà 60,7 triệu USD…

Trong 6 tháng đầu năm đã có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép đầu tư vào Việt Nam, trong đó Đặc khu HC Hồng Công (Trung Quốc) là đối tác có số vốn đầu tư lớn nhất với 615,2 triệu USD, chiếm 27,2% tổng vốn đăng ký; Hàn Quốc 485,3 triệu USD, chiếm 21,5%; Hoa Kỳ 463,9 triệu USD, chiếm 20,5%; Nhật Bản 322,4 triệu USD, chiếm 14,3%…

  1. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Thị trường trong nước 6 tháng đầu năm phát triển khá, tuy giá cả nhiên, nguyên vật liệu trên thị trường quốc tế tăng có ảnh hưởng đến sản xuất và thị trường trong nước. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2006 theo giá thực tế ước tính đạt 263,6 nghìn tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá, tăng trên 11%), trong đó khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 12,3% tổng mức, tăng 8%; kinh tế tập thể tuy chiếm tỷ trọng 1%, nhưng tăng 20,2%; kinh tế cá thể chiếm 62,9%, tăng 20,5%; kinh tế tư nhân chiếm 21,2%, tăng 24,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,6%, tăng 21,9%. Theo ngành kinh doanh, doanh thu của ngành thương nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (81,7% tổng mức), tăng 18,9% so với 6 tháng đầu năm trước; khách sạn, nhà hàng chiếm 12%, tăng 21%; dịch vụ chiếm 5,6%, tăng 28,2% và doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành chỉ chiếm 0,7% tổng mức, nhưng có tốc độ tăng tới 31,2%;

Giá tiêu dùng tháng 6/2006 tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 7,6% so cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,4% (lương thực tăng 0,2% và thực phẩm tăng 0,4%), cao hơn mức tăng của tháng trước, tuy nhiên vẫn thấp hơn các nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, tăng 1%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,7%; dược phẩm, y tế tăng 0,5%. Nhóm văn hoá, thể thao, giải trí không tăng so với tháng trước; nhóm giáo dục và đồ dùng, dịch vụ khác giảm từ 0,2% đến 0,3%; cũng nằm trong nhóm giá giảm là bưu chính, viễn thông, giảm 2,8%; các nhóm hàng hoá khác đều tăng so với tháng trước.

So với tháng 12/2005 giá tiêu dùng tháng 6/2006 tăng 4% và tăng ở tất cả mười nhóm hàng hoá và dịch vụ, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức tăng cao nhất (+4,9%); các nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng; phương tiện đi lại, bưu điện đều tăng 3,4%, do ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu và giá nguyên vật liệu sản xuất trong nước, đáng lưu ý là phân nhóm bưu chính viễn thông giá giảm 2,8%; các nhóm còn lại tăng phổ biến từ 2,1% đến 3,2%, riêng nhóm giáo dục tăng 0,6%.

So với tháng 6 năm 2005 giá tiêu dùng tháng 6/2006 tăng 7,6%, trong đó tăng cao là các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, nhà ở và vật liệu xây dựng, phương tiện đi lại và bưu điện (giá bưu chính viễn thông giảm), đáng lưu ý là ba nhóm này đóng góp chính vào tăng giá tháng 6 so với cùng kỳ; giá các nhóm còn lại đều tăng nhưng với mức độ rất khác nhau; giá tiêu dùng các nhóm có xu hướng chênh lệch theo chiều khác nhau giữa khu vực thành thị và nông thôn.

Bảng 4. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2006

(Tháng 6/2005=100, gốc năm 2005)

    %

  Chung Thành thị Nông thôn
Chung 107,6 107,9 107,3
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 108,1 109,0 107,5
Đồ uống và thuốc lá 104,7 104,7 104,7
May mặc, giày dép và mũ nón 106,2 105,8 106,4
Nhà ở và vật liệu xây dựng 110,1 109,2 110,9
Thiết bị và đồ dùng gia đình 105,7 107,2 104,6
Dược phẩm, y tế 105,0 104,4 105,5
Ph­ương tiện đi lại, b­ưu điện 109,9 108,8 111,2
Giáo dục 104,3 103,8 105,0
Văn hoá, thể thao, giải trí 102,9 104,0 102,5
Đồ dùng dịch vụ khác 106,3 106,9 105,6

Giá vàng tháng 6/2006 tiếp tục diễn biến phức tạp và lên xuống thất thường, sau khi trong tháng 5/2006 đã tăng ở mức kỷ lục 17,6% so với tháng trước. Giá vàng tháng 6/2006 đã giảm 5,6%, đây là tháng giảm giá đầu tiên sau khi liên tục tăng từ tháng 7/2005. Tuy nhiên, giá vàng tháng 6/2006 vẫn ở mức cao so với tháng 12/2005 và tháng 6/2005: tăng 29,9% so với tháng 12/2005 và tăng 51,1% so với tháng 6 năm trước. Giá đô la Mỹ ổn định trong quí I/2006, tăng cao trong tháng 5, chủ yếu do ảnh hưởng của tăng giá dầu, giá vàng trên thị trường thế giới và tâm lý của một bộ phận dân cư và giá USD cũng chỉ dao động mạnh trên thị trường tự do. Giá USD tháng 6 đã giảm 0,3% so với tháng trước nhưng tăng 0,6% so với tháng 12/2005 và tăng 1,1% so với tháng 6/2005. Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm nay tỷ giá ngoại tệ liên ngân hàng tương đối ổn định, đảm bảo nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu và thanh toán quốc tế.

Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 39,44 tỷ USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 25,7% và nhập khẩu tăng 14,1%. Do xuất khẩu trong các tháng đều tăng cao hơn so với tốc độ tăng nhập khẩu nên khoảng cách xuất nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm nay đã được thu hẹp đáng kể so với năm trước. Nhập siêu 6 tháng đầu năm nay xấp xỉ 2 tỷ USD và chỉ bằng 10,6% trị giá xuất khẩu, giảm đáng kể so với tỷ lệ 21,8% của 6 tháng đầu năm 2005.

Xuất khẩu hàng hoá tháng 6/2006 ước tính đạt 3,4 tỷ USD, ngang mức đã thực hiện được trong tháng 5/2006 (tăng thêm 200 triệu USD so với ước tính cuối tháng 5/2006), tính chung 6 tháng đạt 18,7 tỷ USD, tăng 25,7% so cùng kỳ năm trước và đã đạt 49,6% kế hoạch năm; bình quân mỗi tháng qua xuất khẩu 3,1 tỷ USD, cao hơn mức bình quân 2,4 tỷ USD của 6 tháng năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 14,5 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,9 tỷ USD, tăng 23,7% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,6 tỷ USD, tăng 29,8%.

Các thị trường xuất khẩu chính đều tăng khá, trong đó thị trường khối các nước ASEAN chiếm tỷ trọng gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng, tăng 18,1% so với cùng kỳ (thị trường Indonesia tăng 116%; Malaysia tăng 39%; Phi-lip-pin tăng 81,8% và Thái Lan tăng 38%, riêng thị trường Xin-ga-po giảm 25,4%). Thị trường EU chiếm tỷ trọng gần 18%, tăng 30,2% (trong đó thị trường Đức tăng 35,2%, Pháp tăng 30,6%, Italia tăng gần 40% và Hà Lan tăng 25%). Ngoài 2 khối nước trên, một số thị trường lớn (kim ngạch 6 tháng trên 1 tỷ USD) đều tăng so với cùng kỳ như: thị trường Mỹ tăng 46,5%, Nhật Bản tăng 25,1%, Trung Quốc tăng 10,3%, Ôx-trây-lia tăng 7,5%.

Xuất khẩu hầu hết các mặt hàng đều tăng so với 6 tháng cùng kỳ năm trước (21 trong tổng số 25 mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu tăng). Xuất khẩu dầu thô 6 tháng đầu năm ước tính đạt 4,2 tỷ USD, chiếm 22,5% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 23,5% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá tăng 31,5% trong khi lượng giảm 6,1%. Than đá xuất khẩu 418 triệu USD, tương ứng với 13,4 triệu tấn, tăng 35,3% về kim ngạch, tăng 63,6% về lượng và đã hoàn thành 95,8% kế hoạch năm 2006. Xuất khẩu hàng dệt may 2,7 tỷ USD, tăng 32,6%, trong đó các thị trường trọng điểm như EU, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Ca-na-đa, Nga vẫn duy trì mức tăng trưởng cao trong khi một số thị trường mới như Đài Loan và Ôx-trây-lia giảm. Xuất khẩu giày dép 1,7 tỷ USD, tăng 20,3% so cùng kỳ, trong đó xuất khẩu sang các thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ca-na-đa, Hồng Công đều tăng cao, trên 22%; xuất khẩu sang EU tăng chậm hơn, do bị ảnh hưởng bởi việc áp đặt thuế chống bán phá giá từ EU; riêng thị trường Đài Loan giảm mạnh. Các mặt hàng công nghiệp khác như điện tử, máy tính; sản phẩm gỗ; dây điện và cáp điện; sản phẩm nhựa kim ngạch mỗi mặt hàng từ 200 triệu USD trở lên, đều tăng cao so với cùng kỳ.

Xuất khẩu thuỷ sản 1,4 tỷ USD, tăng 25,7% và tăng chủ yếu ở các thị trường Nga, EU, Hàn Quốc, giảm ở các thị trường Đài Loan, Nhật Bản và Hồng Công; thị trường Mỹ giảm so với cùng kỳ năm trước, do bị áp đặt các rào cản thương mại nhưng đây vẫn là thị trường lớn, hấp dẫn, giá bán ổn định hơn các thị trường khác vì vậy cần được quan tâm và tiếp tục mở rộng. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản (trừ hạt điều và lạc) đều tăng, trong đó tăng mạnh là cao su và cà phê. Lượng xuất khẩu các mặt hàng nông sản (trừ cà phê và lạc) tăng khá, trong đó cao su tăng tới 43,4%, tiêu tăng 39,1%, gạo tăng 7,8%, điều tăng 19%… Giá nhiều mặt hàng nông sản 6 tháng nhìn chung có lợi cho xuất khẩu: giá xuất khẩu cao su tăng 45,9%; cà phê tăng 49,7%; giá hạt tiêu tăng 3,5%.

 Bảng 5. Xuất khẩu một số mặt hàng 6 tháng đầu năm 2006

 

Kim ngạch             xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2006 (Triệu USD) % của tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá (%) Tốc độ tăng  so với cùng kỳ 2005  (%) Đóng góp vào tăng  tr­ưởng          xuất khẩu (%)
Dầu thô 4214 22,5 23,5 20,9
Than đá   418 2,2 35,1 2,8
Dệt, may 2742           14,6 32,6 17,6
Giày dép 1707 9,1 20,3 7,5
Điện tử, máy tính  769 4,1 18,3 3,1
Gạo  794 4,2 4,2 0,8
Cà phê  602 3,2 31,1 3,7
Cao su  486 2,6      109,6 6,6
Sản phẩm gỗ  922 4,9 25,8 4,9
Thuỷ sản 1409 7,5 25,7 7,5

Nhập khẩu hàng hoá có tốc độ tăng cao dần qua các tháng, tính chung 6 tháng đầu năm nay đã tăng ở mức 14,1% so với cùng kỳ năm trước (trong khi quí I chỉ tăng 1,9%) với nhiều vật tư, nguyên liệu tăng cao về khối lượng nên đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng trong nước. Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng ước tính đạt 20,7 tỷ USD, đạt 48,7% kế hoạch năm. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 13,2 tỷ USD, tăng 12,9% và đóng góp 58,9% vào tăng nhập khẩu chung; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,5 tỷ USD, tăng 16,2%, đóng góp 41,1%.

Nhập khẩu hàng hoá từ các thị trường nguồn có kim ngạch lớn tăng khá trong 6 tháng đầu năm nay là: thị trường các nước ASEAN chiếm gần 28% kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm, tăng 33% (Xin-ga-po tăng 38%; Thái Lan tăng 27,6%; Malayxia tăng 18,4%…); thị trường Trung Quốc tăng 19,9%; Nhật Bản tăng 11%; Đài Loan tăng 15,1%; Hồng Công tăng 25,9%; Hoa Kỳ tăng 10%…, riêng thị trường Hàn Quốc giảm 3,6%. Nhập khẩu từ EU chiếm tỷ trọng nhỏ và chỉ tăng chưa đến 1%.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm 2005. Các mặt hàng phân bón, chất dẻo, giấy, sợi dệt và bông có tốc độ tăng cao cả về kim ngạch và lượng nhập khẩu so với cùng kỳ năm trước (kim ngạch nhập phân bón tăng 13,8%, lượng nhập tăng 17,1%; chất dẻo tăng 27,3% và tăng 23%; giấy tăng 39,8% và tăng 30,5%; sợi dệt tăng 39,6% và tăng 53,1%; bông tăng 19,9% và tăng 10,7%); riêng nhập khẩu xăng dầu kim ngạch tăng 23,8%, do giá tăng trên 33% trong khi lượng nhập giảm 7,1%. Kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị gần 3 tỷ USD, tăng 16%; hoá chất tăng 9,5%; sản phẩm hoá chất tăng 21,3%; vải tăng 34,6%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 7,8%… Bên cạnh đó, trị giá nhập khẩu của một số mặt hàng giảm như: nguyên phụ liệu dệt, may, da giảm 3,4%; lúa mỳ giảm 9%; sữa và sản phẩm sữa giảm 3,8%; ô tô giảm 65%; xe máy giảm 11,4% (trong khi đó nhập khẩu nguyên chiếc lại gia tăng, tăng 44% về số lượng và tăng 25,9% về trị giá).

Xuất nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm ước tính đạt 5,41 tỷ USD, tăng 20,8% so với 6 tháng đầu năm trước, trong đó xuất khẩu 2,53 tỷ USD, tăng 20,9% và nhập khẩu 2,88 tỷ USD, tăng 20,7%.

Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 645 triệu lượt hành khách và đạt 27,1 tỷ lượt hành khách.km, tăng 8% về lượt hành khách và tăng 8,9% về lượt hành khách.km so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển hành khách do các đơn vị trung ương quản lý 12,3 triệu lượt khách tăng 0,2% và 8,6 tỷ hành khách.km, tăng 10,1%, do các đơn vị vận tải trung ương vận chuyển chủ yếu ở các tuyến đường dài; vận chuyển hành khách do các đơn vị vận tải địa phương quản lý giữ ở mức tăng trưởng ổn định, đạt 632,7 triệu lượt khách, tăng 8,2% và 18,5 tỷ hành khách.km, tăng 8,3%.

Trong 6 tháng đầu năm nay, vận chuyển khách của các ngành vận tải đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trừ ngành đường sắt (giảm 9,5% về số khách và giảm 6,4% về số khách luân chuyển). Vận chuyển hành khách bằng đường hàng không tiếp tục tăng cao, tăng 12,2% về số lượt khách và tăng 17,1% về số lượt khách.km; đường bộ tăng 9% và tăng 8,8%; đường biển tăng 6,5% và tăng 7,8%; đường sông tăng 3,1% và tăng 3,3%. Đáng chú ý là tháng 6 bắt đầu vào mùa du lịch, số lượng hành khách đi thăm quan, du lịch, nghỉ mát tăng mạnh.

Vận chuyển hàng hoá 6 tháng đầu năm ước tính đạt 168,3 triệu tấn và 42,7 tỷ tấn.km, tăng 8% về tấn và tăng 8,3% về tấn.km so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển hàng hoá ở hầu hết các ngành vận tải đều tăng so với 6 tháng đầu năm trước: đường sắt tăng 3% về tấn nhưng tăng tới 21% về tấn.km, do tăng vận chuyển trên những tuyến đường dài; đường sông tăng 6,1% và tăng 6,2%; đường biển tăng 7,2% và tăng 7,7%; đường bộ tăng 8,9% và tăng 9,1%.

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm nay các đơn vị vận tải đã tích cực khắc phục khó khăn do giá xăng dầu tăng cao, nâng cao chất lượng dịch vụ, mua sắm thêm phương tiện; ngành vận tải hàng không đã tổ chức những đợt khuyến mại giảm giá vé; bên cạnh đó, một số địa phương đã và đang tiến hành công tác xây dựng, cải tạo, nâng cấp các tuyến đường nội tỉnh, triển khai các công trình giao thông nông thôn… do vậy đã đáp ứng nhu cầu vận chuyển cho sản xuất và đi lại của dân cư ngày càng tăng.

Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 6 ước đạt 274 nghìn lượt khách xấp xỉ tháng trước và giảm 11,3% so với cùng tháng năm trước, chủ yếu là do số khách đến bằng đường bộ giảm mạnh.

Tính chung 6 tháng đầu năm, số khách đến Việt Nam ước tính đạt 1,85 triệu lượt khách, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu tăng cao ở nhóm khách vào vì công việc với 278,1 nghìn lượt người, tăng 26,3%; khách đến du lịch, nghỉ ngơi 1,1 triệu lượt người, tăng 4,1%; thăm thân nhân 281,6 nghìn lượt người, tăng 6,6%; khách đến với các mục đích khác 217,2 nghìn, tăng 3%. Theo phương tiện vận chuyển, số khách đến bằng đường hàng không chiếm tới 70,4%, tăng 19,7%; đường biển tăng 6,4%, trong khi số khách đến bằng đường bộ giảm 18,8%.

Trung Quốc là quốc gia có lượng khách đến nước ta lớn nhất, nhưng có xu hướng giảm mạnh trong những tháng gần đây nên lượng khách đến từ Trung Quốc 6 tháng đầu năm nay đã giảm 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Khách đến từ một số nước khác vẫn tiếp tục tăng, khách đến từ Nhật Bản đạt 172,6 nghìn người, tăng 25,8%; từ Hàn Quốc đạt 207,9 nghìn người, tăng 35,4%; từ Hoa Kỳ đạt 199,8 nghìn người, tăng 19,7%. Khách từ Đan Mạch, Na Uy mặc dù lượng đến còn thấp nhưng có mức tăng cao, tăng 30,2% và tăng 40,1%.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

  1. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư những tháng đầu năm chịu tác động của nhiều yếu tố như ảnh hưởng lụt bão, dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng ở gia súc và giá cả biến động, nhưng nhìn chung ổn định. Nhiều ngành và địa phương đã có các biện pháp thiết thực tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện trợ cấp và phát thưởng kịp thời trong các dịp lễ, tết góp phần cải thiện đời sống cho người lao động. Đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương khác cũng được cải thiện do thực hiện chính sách tăng lương theo Nghị định 118/2005/NĐ-CP từ tháng 10/2005.

Thu nhập bình quân một tháng của một lao động trong khu vực Nhà nước 6 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt trên 1,7 triệu đồng, trong đó thu nhập bình quân của lao động Nhà nước do trung ương quản lý 2,3 triệu đồng; lao động Nhà nước do địa phương quản lý 1,4 triệu đồng. Tuy nhiên, mức thu nhập này không đồng đều giữa các ngành, các địa phương, cùng với việc giá cả tăng nên một bộ phận người lao động có thu nhập thấp vẫn gặp khó khăn.

Ở nông thôn đời sống người dân nhìn chung ổn định. Tại một số vùng, nông dân đã chuyển hướng sản xuất, tập trung phát triển các loại cây trồng cho hiệu quả cao; áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi, phát triển nuôi trồng thuỷ sản nên đời sống được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thiên tai và tác động của dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng gia súc… đời sống của người chăn nuôi và người dân những nơi bị thiên tai cũng gặp khó khăn. Thiếu đói còn xảy ra nhưng đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Số hộ thiếu đói 6 tháng đầu năm giảm 30,4% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 32,6%. Tính từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân đã trợ giúp các hộ thiếu đói khoảng 4,7 nghìn tấn lương thực và 5,8 tỷ đồng.

  1. Hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa thông tin 6 tháng đầu năm tập trung thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là Đại hội Đảng lần thứ X và các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc như: mừng xuân Bính Tuất, Giỗ tổ Hùng Vương, kỷ niệm ngày thành lập Đảng, ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh… Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đã được tổ chức rộng khắp trong cả nước và thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia hưởng ứng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh tại các địa phương. Ngành Văn hóa thông tin đã tập trung tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, lễ hội nhằm giới thiệu các nét văn hóa đặc trưng của dân tộc và góp phần quảng bá du lịch.

Công tác thanh tra, kiểm tra tiếp tục được đẩy mạnh. Từ đầu năm đến nay, thanh tra văn hóa của các Bộ, ngành và các địa phương trong cả nước đã tiến hành kiểm tra hành chính hơn 8,6 nghìn cơ sở kinh doanh, phát hiện và xử lý hơn 2,5 nghìn vụ vi phạm, thu giữ nhiều tang vật và phạt hành chính 5,3 tỷ đồng.

Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn, các hoạt động chính trị trọng đại của đất nước. Đại hội thể dục thể thao các cấp được tổ chức tại nhiều địa phương trên cả nước đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và cổ vũ; Phối hợp triển khai chương trình phổ cập bơi và phòng chống tai nạn cho trẻ em các tỉnh thường xuyên bị lũ lụt thông qua việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, phổ cập bơi tại các tỉnh Quảng Ninh, Thừa Thiên-Huế và Kiên Giang, đồng thời phối hợp với UNICEF phát tờ rơi phổ biến kỹ thuật bơi lội cho trẻ em.

Trong 6 tháng đầu năm, Ủy ban Thể dục Thể thao đã phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức nhiều giải thể thao cho các đối tượng là cán bộ, công chức trong ngành và tổ chức hội thi Thể thao gia đình lần thứ nhất khu vực I tại Hải Dương với sự tham gia của 24 tỉnh, thành phố phía Bắc.

Trong thể thao thành tích cao, đã tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ V. Trong khuôn khổ Đại hội này, Ủy ban Thể dục, thể thao đã tiến hành tổ chức 14 giải thể thao thành tích cao với 148 bộ huy chương, 53/66 đoàn đã giành huy chương với hơn 2,5 nghìn lượt vận động viên tham gia thi đấu. Về công tác chuẩn bị cho Đại hội Thể thao Châu Á (ASIAD) tại Dohah, Quatar, Ủy ban Thể dục, thể thao đã tập trung 48 đội tuyển trong đó có 641 vận động viên và 171 huấn luyện viên, cán bộ và các chuyên gia; tổ chức 43 giải thi đấu thể thao và giải quốc tế tại Việt Nam; tham gia 32 giải quốc tế khác, giành 20 HCV, 17 HCB và 27 HCĐ.

  1. Giáo dục và đào tạo

Thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc THPT

Năm học 2005-2006, cả nước có 880,5 nghìn học sinh dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tăng 7,2% so với năm học 2004-2005. Theo báo cáo sơ bộ của 50 tỉnh, thành phố, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 94,71%. Trong kỳ thi năm nay, đồng bằng sông Hồng là khu vực có tỷ lệ tốt nghiệp cao nhất cả nước với 98,32%. Những vùng có tỷ lệ tốt nghiệp thấp hơn tỷ lệ chung của cả nước là duyên hải Nam Trung Bộ 92,37%; Tây Nguyên 88,04%; Đông Nam Bộ 93,60%; đồng bằng sông Cửu Long 85,37%. Cả nước còn có 186,8 nghìn học sinh dự thi tốt nghiệp bổ túc THPT, tăng 11,8% so với kỳ thi năm trước; tỷ lệ tốt nghiệp chung cả nước đạt 87,48%.

Tình hình tuyển sinh đại học, cao đẳng:

Năm học này cả nước có 105 trường đại học và 150 trường cao đẳng tiến hành tổ chức tuyển sinh. Tính đến 8/5/2006 đã có 1709,9 nghìn lượt thí sinh đăng ký dự thi đại học và cao đẳng, tăng 36,9% so với kỳ thi tuyển sinh năm trước. Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm nay là năm thứ 5 thực hiện Đề án cải tiến tuyển sinh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 1/2002, đồng thời có một số thay đổi quan trọng như áp dụng phương pháp thi trắc nghiệm các môn ngoại ngữ; bỏ chế độ cộng điểm thưởng vào kết quả thi tuyển đối với học sinh đạt tốt nghiệp loại giỏi; mở rộng đối tượng ưu tiên đối với thí sinh thuộc diện gia đình chính sách; cải tiến và chấn chỉnh công tác coi và chấm thi.

  1. Tình hình dịch bệnh

Tính từ đầu năm đến nay, cả nước có 28,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 6 người đã tử vong. Số bị mắc bệnh sốt xuất huyết là 15,3 nghìn trường hợp, tăng 46,5%, trong đó 15 người tử vong. Trong 6 tháng qua còn có 2,9 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút; 413 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (41 trường hợp tử vong) và 469 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu (11 trường hợp tử vong).

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 6/2006 đã phát hiện thêm 1,2 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 21/6/2006 lên 109,3 nghìn người, trong đó 18,5 nghìn bệnh nhân AIDS và gần 10,8 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong 6 tháng đầu năm 2006, đã có gần 3,2 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 44 người bị tử vong. Đáng lưu ý là thời gian qua đã liên tiếp xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm tập thể với số người bị ngộ độc mỗi vụ lên tới hàng trăm người.

  1. Tai nạn giao thông

Tình hình tai nạn giao thông 5 tháng đầu năm diễn biến tương đối phức tạp, số người chết do tai nạn tăng cao, đồng thời tai nạn tăng liên tiếp trong tháng 4 và tháng 5 năm nay. Trong 5 tháng đầu năm 2006, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 6,4 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 5,5 nghìn người và bị thương 5,1 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn 5 tháng đầu năm giảm 0,4%; số người bị thương giảm 9,7%, nhưng số người chết lại tăng 11,3%. Bình quân một ngày trong 5 tháng đầu năm xảy ra 43 vụ tai nạn, làm chết 36 người và làm bị thương 34 người.

  1. Thiệt hại do lụt bão

Trong 6 tháng đầu năm 2006 đã có 30 tỉnh, thành phố trong cả nước bị ảnh hưởng của bão, mưa đá, lũ quét, sạt lở đất… Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm trên 250 người chết và mất tích; 8,5 nghìn ha lúa, hoa màu bị ngập, hư hại; 1,2 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại. Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 100 tỷ đồng.

Riêng cơn bão số 1 vừa qua tuy không đổ bộ trực tiếp vào nước ta nhưng với cường độ mạnh cấp 12 và diễn biến rất phức tạp đã gây tổn thất nặng nề về người và tài sản của ngư dân ở một số tỉnh ven biển miền trung đang đánh bắt ngoài khơi. Cơn bão làm 246 người chết, mất tích và nhiều tàu thuyền đánh cá bị chìm. Đến nay, công tác cứu trợ, giúp đỡ các gia đình gặp nạn ổn định đời sống đang tiếp tục được các cấp, các ngành, các địa phương tích cực triển khai.

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta trong 6 tháng đầu năm nay tiếp tục phát triển và ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục đạt mức cao và tăng trưởng quí II cao hơn quí I, các ngành kinh tế đều có tăng trưởng. Xuất khẩu tăng cao và tăng nhanh hơn nhập khẩu đã góp phần cải thiện cán cân thương mại. Thu, chi ngân sách Nhà nước đều tăng so với cùng kỳ và đảm bảo được các khoản chi thường xuyên theo kế hoạch và tăng đầu tư so với cùng kỳ năm trước. Bội chi thấp so với mức dự kiến cả năm. Giá cả tăng nhưng thấp hơn mức tăng của 6 tháng đầu năm trước. Tình hình xã hội ổn định, giáo dục, y tế, văn hoá phát triển. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội cả năm 2006, nhiệm vụ của 6 tháng cuối năm còn nặng nề. Một số chỉ tiêu quan trọng như đầu tư, xuất, nhập khẩu chưa đạt mức kế hoạch nửa năm. Vốn đầu tư phát triển thực hiện đạt thấp. Biến động mạnh về giá vàng, về tỷ giá ngoại tệ trên thị trường tự do.

Tình hình 6 tháng đầu năm đòi hỏi các cấp, các ngành cần có các biện pháp tích cực để khắc phục các khó khăn nói trên, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tạo điều kiện hoàn thành thắng lợi kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2006.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ