Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế – xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới, các nền kinh tế lớn đối mặt với tình trạng suy thoái sâu, tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ qua. Dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020, một số tổ chức quốc tế như OECD cho rằng kinh tế toàn cầu sẽ giảm 4,5%; Fitch Ratings và Oxord Economics dự báo giảm 4,4%. Đối với một số nền kinh tế lớn trên thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ giảm 5,3%; Nhật Bản giảm 5,4%; khu vực đồng Euro giảm 8% và Trung Quốc chỉ tăng 1,8%. Trong nước, nhờ thực hiện những giải pháp đúng đắn, hiệu quả trong việc kiểm soát, phòng chống dịch bệnh, khôi phục và phát triển kinh tế của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nền kinh tế nước ta 9 tháng năm 2020 vẫn duy trì tăng trưởng. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý III và 9 tháng năm 2020 như sau:

  1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2020 tăng 2,12% (quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%; quý III tăng 2,62%), là mức tăng thấp nhất của 9 tháng các năm trong giai đoạn 2011-2020[1]. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,84%, đóng góp 13,62% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,08%, đóng góp 58,35%; khu vực dịch vụ tăng 1,37%, đóng góp 28,03%. Ngành nông nghiệp tăng 1,65%, chỉ cao hơn mức tăng trưởng 0,02% và 0,91% của 9 tháng năm 2016 và năm 2019 trong giai đoạn 2011-2020; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6%, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011-2020. Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,05%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,16%; khu vực dịch vụ chiếm 42,73%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,06% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2019 là: 13,21%; 33,97%; 42,75%; 10,07%).

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

(1) Trồng trọt (Tính đến ngày 15/9)

– Lúa đông xuân: Năng suất lúa đông xuân của cả nước năm nay đạt 66,4 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2019 chủ yếu do giảm diện tích gieo trồng nên sản lượng đạt 19,9 triệu tấn, giảm 593,5 nghìn tấn.

– Lúa mùa: cả nước đã gieo cấy được 1.512,6 nghìn ha, bằng 97,1% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.050,8 nghìn ha, bằng 98,1%; các địa phương phía Nam đạt 461,8 nghìn ha, bằng 95%. Trà lúa sớm cho thu hoạch với diện tích 58,8 nghìn ha, bằng 60% cùng kỳ năm 2019; năng suất ước tính đạt 51,3 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha

– Lúa hè thu: Cả nước gieo cấy được 1.944,8 nghìn ha, giảm 64,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.523,9 nghìn ha, giảm 45,2 nghìn ha. Lúa hè thu đã cho thu hoạch với diện tích 1.618,7 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 83,2% diện tích gieo cấy và bằng 91,7% cùng kỳ năm trước. Năng suất ước tính đạt 55,7 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2019; sản lượng toàn vụ ước tính đạt 10,83 triệu tấn, giảm 119,3 nghìn tấn.

– Lúa thu đông: vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 590,1 nghìn ha lúa thu đông, bằng 95,1% cùng kỳ năm trước. Hiện nay, lúa thu đông chủ yếu ở giai đoạn trổ đều và bắt đầu thu hoạch.

– Tổng diện tích cây lâu năm 9 tháng ước tính đạt 3.580,4 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: nhóm cây ăn quả đạt 1.097,6 nghìn ha, tăng 4,2%; nhóm cây lấy quả chứa dầu đạt 179,2 nghìn ha, tăng 0,9%; nhóm cây công nghiệp đạt 2.193,3 nghìn ha, tăng 0,1%; nhóm cây gia vị dược liệu đạt 49,3 nghìn ha, tăng 1,2%.

(2) Chăn nuôi

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng nhìn chung ổn định. Chăn nuôi gia cầm phát triển khá. Ước tính đàn trâu của cả nước tháng Chín giảm 2,2% so với cùng thời điểm năm 2019; đàn bò tăng 2,5%, đàn gia cầm tăng 5,7%. Dịch tả lợn châu Phi đang được kiểm soát, tổng số lợn trong tháng Chín tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm 2019. Ước tính 9 tháng, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 69 nghìn tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2019; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 272,6 nghìn tấn, tăng 5,7%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 2.483,1 nghìn tấn, giảm 3,2%; sản lượng sữa bò tươi đạt 799,2 nghìn tấn, tăng 9,9%; sản lượng trứng gia cầm đạt 10,7 tỷ quả, tăng 10,8%. Giá thịt lợn trong 9 tháng đầu năm có những diễn biến phức tạp. Tính đến ngày 22/9, giá thịt lợn hơi tại miền Bắc dao động trong khoảng 79.000 – 84.000 đồng/kg, giá thịt lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên được thương lái thu mua trong khoảng 79.000-82.000 đồng/kg, giá lợn hơi tại miền Nam giao dịch trong khoảng 80.000-82.000 đồng/kg, đều giảm khoảng 3% so với cùng thời điểm tháng Tám.

b) Lâm nghiệp

Trong quý III/2020, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 63,2 nghìn ha, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 22 triệu cây, tăng 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.529 nghìn m3, tăng 1,5%; sản lượng củi khai thác đạt 4,6 triệu ste, tăng 0,9%.

Tính chung 9 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 169,5 nghìn ha, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 66,5 triệu cây, giảm 1,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 12.050 nghìn m3, tăng 1,8%. Sản lượng củi khai thác đạt 14,4 triệu ste, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2019.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý III/2020 ước tính đạt 2.261,6 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 1.531,5 nghìn tấn, tăng 0,3%; tôm đạt 346,6 nghìn tấn, tăng 6,3%; thủy sản khác đạt 383,5 nghìn tấn, tăng 1,8%.

Tính chung 9 tháng năm nay, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.131,6 nghìn tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 4.424 nghìn tấn, tăng 0,9%; tôm đạt 769,4 nghìn tấn, tăng 5%; thủy sản khác đạt 938,2 nghìn tấn, tăng 2,6%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 9 tháng ước tính đạt 3.218 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.229,2 nghìn tấn, giảm 0,4%; tôm đạt 640,9 nghìn tấn, tăng 5,8%. Sản xuất cá tra gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu, giá cá tra nguyên liệu giảm và ở mức thấp liên tiếp trong 9 tháng, giá dao động từ 17.500 đến 18.500 đ/kg, người nuôi cá tra lỗ khoảng 4.000 đồng/kg. Sản lượng cá tra 9 tháng ước tính đạt 1.027,2 nghìn tấn, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tôm sú 9 tháng ước tính đạt 204,7 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 398,2 nghìn tấn, tăng 7,8%.

Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng ước tính đạt 2.913,6 nghìn tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.194,8 nghìn tấn, tăng 2,2%; tôm đạt 128,5 nghìn tấn, tăng 1,3%. Sản lượng thủy sản khai thác biển 9 tháng đạt 2.775,2 nghìn tấn, tăng 2%, trong đó cá đạt 2.101,6 nghìn tấn, tăng 2,3%; tôm đạt 119,7 nghìn tấn, tăng 2,5%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2020 tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,4%, là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua. Tuy vậy, sản xuất công nghiệp trong tháng Chín/2020 đã có sự khởi sắc hơn so với các tháng trước, mở ra hy vọng sản xuất công nghiệp sớm phục hồi và tăng trưởng trở lại. Trong đó:

– Ngành chế biến, chế tạo tăng 3,8%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 12,9% và 10,8% của cùng kỳ năm 2018 và 2019.

Ngành công nghiệp cấp 2 Tốc độ tăng IIP
9 tháng năm 2019 (%)
Tốc độ tăng IIP
9  tháng năm 2020 (%)
Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính
và sản phẩm quang học (26)
5,2 8,6
Sản xuất, chế biến thực phẩm (10) 9,5 4,4
Sản xuất trang phục (14) 8,4 -4,4
SX sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (23) (xi măng) 7,9 1,4
Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (15) 8,9 -3,8
Sản xuất phương tiện vận tải khác (30) (xe máy) -5,8 -8,9
Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) (25) 6,5 3,6
Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (20) 6,4 7,9
Sản xuất kim loại (24) 36,7 -1,1
Dệt (13) 9,8 0,6
Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (22) 15,0 4,4
Sản xuất thiết bị điện (27) 10,4 0,4
Sản xuất xe có động cơ (29) (ô tô) 9,8 -12,2
Sản xuất đồ uống (11) 11,0 -6,6
Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế (19) 38,3 4,4

– Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,8%, cùng kỳ năm trước tăng 10,2%.

– Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,3%, cùng kỳ năm trước tăng 7,5%.

– Ngành khai khoáng giảm 7,4%, cùng kỳ năm trước tăng 1,3%.

  1. Khu vực dịch vụ
  2. a) Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại dịch vụ trong tháng có dấu hiệu tăng trở lại, thị trường hàng hóa và đời sống của người dân dần ổn định, các điểm tham quan, du lịch trên địa bàn nhiều tỉnh/thành phố đã mở cửa trở lại. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2020 tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng nhẹ 0,7%, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 3,6% (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,8%).

  1. b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2020 ước tính đạt 27,5 tỷ USD, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 18% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý III/2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 80,07 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước và tăng 34,4% so với quý II năm nay (tăng 26,6% so với quý I).

Tính chung 9 tháng năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 202,86 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước tiếp tục là động lực cho sự tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu cả nước khi đạt 71,83 tỷ USD, tăng mạnh tới 20,2%, chiếm 35,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 131,03 tỷ USD, giảm 2,9%, chiếm 64,6%.

Trong 9 tháng có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,3% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 59,8%), trong đó điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 36,7 tỷ USD, chiếm 18,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 32,2 tỷ USD, tăng 25,9%; hàng dệt may đạt 22,1 tỷ USD, giảm 10,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 18,2 tỷ USD, tăng 39,8%; giày dép đạt 12,1 tỷ USD, giảm 8,8%.

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 108,79 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 73,41 tỷ USD, tăng 1,7%. Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 14,63 tỷ USD, giảm 4,7%. Nhóm hàng thủy sản đạt 6,03 tỷ USD, giảm 3%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Chín ước tính đạt 24 tỷ USD, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý III/2020, kim ngạch nhập khẩu đạt 68,54 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 18,5% so với quý II năm nay (tăng 15,2% so với quí I).

Tính chung 9 tháng năm 2020, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 185,87 tỷ USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 82,35 tỷ USD, tăng 4,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 103,52 tỷ USD, giảm 4,8%.

Trong 9 tháng năm 2020 có 32 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 88,3% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 45,1 tỷ USD (chiếm 24,2% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 26,3 tỷ USD, giảm 1,8%; điện thoại và linh kiện đạt 10,6 tỷ USD, giảm 0,6%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 9 tháng năm 2020, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 173,71 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 12,16 tỷ USD, tăng 4,4%.

– Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Tám xuất siêu 5 tỷ USD; 8 tháng xuất siêu 13,5 tỷ USD; tháng Chín ước tính xuất siêu 3,5 tỷ USD. Tính chung 9 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu, đạt mức 16,99 tỷ USD.

– Về thị trường, cán cân thương mại 9 tháng năm 2020 ước tính thâm hụt ở các thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Nhật Bản và thặng dư ở các thị trường Hoa Kỳ, EU.

(1) Trung Quốc là thị trường có quan hệ thương mại hai chiều lớn nhất với 88,7 tỷ USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Xuất khẩu ước tính đạt 31,9 tỷ USD, tăng 12,7%; nhập khẩu ước tính đạt 56,8 tỷ USD, tăng 2,7%; nhập siêu từ Trung Quốc là 24,9 tỷ USD, giảm 7,8%.

(2) Hoa Kỳ đứng vị trí thứ hai với tổng mức lưu chuyển ngoại thương đạt 65,3 tỷ USD, tăng 18,1%. Xuất khẩu đạt 54,8 tỷ USD, tăng 22,9%; nhập khẩu đạt 10,5 tỷ USD, giảm 1,6%; xuất siêu sang Hoa Kỳ lớn nhất với 44,3 tỷ USD, tăng 30,6%.

(3) Hàn Quốc là thị trường có quan hệ thương mại hai chiều lớn thứ 3 với 47,3 tỷ USD, giảm 5,6%. Xuất khẩu đạt 14,5 tỷ USD, giảm 2%; nhập khẩu đạt 32,8 tỷ USD, giảm 7,1%; nhập siêu từ thị trường Hàn Quốc đạt 18,3 tỷ USD, giảm 10,7%.

(4) ASEAN có kim ngạch 2 chiều đạt 38,8 tỷ USD, giảm 10,4%. Xuất khẩu đạt 17 tỷ USD, giảm 12,5%; nhập khẩu đạt 21,8 tỷ USD, giảm 8,7%. Nhập siêu 4,8 tỷ USD, tăng 7,8%.

(5) EU có kim ngạch 2 chiều đạt 36,8 tỷ USD, giảm 0,3%. Xuất khẩu đạt 26 tỷ USD, giảm 2,6%; nhập khẩu đạt 10,8 tỷ USD, tăng 5,6%. Xuất siêu 15,2 tỷ USD, giảm 7,6%.

(6) Nhật Bản có kim ngạch 2 chiều đạt 28,7 tỷ USD, giảm 1,6%. Xuất khẩu đạt 14,1 tỷ USD, giảm 5,7%; nhập khẩu đạt 14,6 tỷ USD, tăng 2,8%. Nhập siêu 476 triệu USD (cùng kỳ năm 2019 xuất siêu 784 triệu USD).

Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý III/2020, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 787 triệu USD, giảm 84,2% so với cùng kỳ năm trước (quý II giảm 80,4%; quý I giảm 23,6%); kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 4,6 tỷ USD, giảm 16,3% (quý II giảm 23,2%; quý I giảm 3,2%).

Trong 9 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 5,47 tỷ USD, giảm 62,3% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu dịch vụ 9 tháng năm nay ước tính đạt 13,63 tỷ USD, giảm 14,4%. Nhập siêu dịch vụ trong 9 tháng năm 2020 là 8,16 tỷ USD, bằng 149,2% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. c) Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải tháng Chín có những tín hiệu tích cực hơn với mức tăng 6,8% lượng hành khách vận chuyển và tăng 4,5% lượng hàng hóa vận chuyển so với tháng trước. Tính chung 9 tháng, vận tải hành khách đạt 2.625,8 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 29,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,5%) và luân chuyển 119,4 tỷ lượt khách.km, giảm 35,2% (cùng kỳ năm trước tăng 9,8%); vận tải hàng hóa đạt 1.264,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,9%) và luân chuyển 242,5 tỷ tấn.km, giảm 8,2% (cùng kỳ năm trước tăng 7,5%).

  1. d) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta quý III/2020 đạt 44 nghìn lượt người, chỉ bằng 1% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế. Tính chung 9 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta đạt gần 3,8 triệu lượt người, giảm 70,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó hơn 97% là khách quốc tế đến trong quý I/2020 (Quý I/2020 đạt 3.686,8 nghìn lượt người; quý II/2020 đạt 57,7 nghìn lượt người).

  1. Đăng ký doanh nghiệp

– Doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động:

+Trong tháng Chín, số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,3 nghìn doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 203,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 83 nghìn lao động, giảm 23,1% về số doanh nghiệp, giảm 29,6% về vốn đăng ký và giảm 13,8% về số lao động so với tháng trước so với tháng 8/2020 (giảm 12,6% về số doanh nghiệp, tăng 45% về vốn đăng ký và giảm 15% về số lao động so với cùng kỳ năm trước); có 4.568 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 4,3% so với tháng trước và tăng 89,3% so với cùng kỳ năm 2019.

+Tính chung 9 tháng năm 2020, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt 133,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số doanh nghiệp thành lập mới gần 99 nghìn doanh nghiệp (với tổng số vốn đăng ký là 1.428,5 nghìn tỷ đồng), giảm 3,2% về số doanh nghiệp (tăng 10,7% về vốn đăng ký);  số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 34,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 25,5%. Trung bình mỗi tháng có gần 14,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

– Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chờ giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể:

Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chờ giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể trong 9 tháng năm 2020 là 78,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước bao gồm: 38,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 81,8% so với cùng kỳ năm trước; 27,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 2,4% và gần 12,1 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trung bình mỗi tháng có 8,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

– Doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký: Trong 9 tháng năm 2020 có 36,5 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 39,6% so với cùng kỳ năm 2019.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý III/2020 theo giá hiện hành ước tính đạt 597,2 nghìn tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 1.445,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước và bằng 34,7% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 484,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,5% tổng vốn và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 641,5 nghìn tỷ đồng, bằng 44,4% và tăng 2,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 319,1 nghìn tỷ đồng, bằng 22,1% và giảm 2,5%.

Vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng ước tính đạt 303 nghìn tỷ đồng, bằng 59,7% kế hoạch năm và tăng 33,3% so với cùng kỳ năm trước, gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 52,1 nghìn tỷ đồng, bằng 56,7% kế hoạch năm và tăng 69,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 250,9 nghìn tỷ đồng, bằng 60,3% và tăng 27,7%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/9/2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 21,2 tỷ USD, giảm 18,9% so với cùng kỳ năm trước.

+ Cấp mới: 1.947 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 10,4 tỷ USD, giảm 29,4% về số dự án và giảm 5,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước;

+ Điều chỉnh vốn: 798 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt trên 5,1 tỷ USD, tăng 6,8%;

+ Góp vốn, mua cổ phần: 5.172 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn 5,7 tỷ USD, giảm 44,9%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.296 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,1 tỷ USD và 3.876 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 3,6 tỷ USD.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt gần 13,8 tỷ USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát cơ bản

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng trước và tăng 0,01% so với tháng 12 năm trước – đều là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020[2], chủ yếu do giá dịch vụ giáo dục được điều chỉnh tăng theo lộ trình nhằm tiệm cận với giá thị trường, giá điện sinh hoạt tăng do nhu cầu sử dụng điện trong thời tiết nắng nóng; giá gạo trong nước tăng do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ở mức cao nhất kể từ năm 2011. Bình quân 9 tháng năm 2020, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2016-2020[3]. Tỷ giá thương mại hàng hóa bình quân 9 tháng năm 2020 giảm 0,72% so với cùng kỳ năm 2019 phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.

  1. Một số tình hình xã hội

Đời sống dân cư trong 9 tháng năm 2020 tuy chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ dịch Covid-19 nhưng nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của nhân dân nên nhìn chung đời sống dân cư cả nước vẫn giữ được ổn định. Trong tháng Chín và trong cả quý III năm nay, không có địa phương nào phát sinh thiếu đói. Tính chung 9 tháng năm 2020, cả nước có 16,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, tương ứng với 66,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 75,5% về số lượt hộ thiếu đói và giảm 75,6% về số lượt nhân khẩu thiếu đói so với cùng kỳ năm trước. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 733,6 tấn gạo.

Tình hình lao động, việc làm cả nước trong quý III năm 2020 có dấu hiệu phục hồi. Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong quý III/2020 ước tính là 53,3 triệu người, tăng 1,5 triệu người so với quý trước và giảm gần 1,3 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý III/2020 là 2,5%, giảm 0,23 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi khu vực thành thị vẫn ở mức cao nhất trong 10 năm trở lại đây[4]. Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương quý III/2020 là 6,52 triệu đồng/tháng, tăng 184 nghìn đồng so với quý trước và giảm 116 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Về giáo dục đào tạo, số thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2020 là 900,1 nghìn người, trong đó có 26.014 thí sinh của 27 địa phương tham dự kỳ thi vào đợt 2. Tại thời điểm khai giảng năm học 2020-2021, cả nước có 5,4 triệu trẻ em đi học mầm non và hơn 17,5 triệu học sinh phổ thông đến trường.

Trong 9 tháng năm 2020, cả nước có 65.046 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (7 trường hợp tử vong); 28.462 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 198 trường hợp dương tính với bạch hầu (4 trường hợp tử vong).

Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[5]. Tại Việt Nam, các ổ dịch cơ bản đã được kiểm soát. Tính đến 6h00 ngày 28/9/2020, Việt Nam có 1.074 trường hợp mắc, 999 trường hợp đã được chữa khỏi (35 trường hợp tử vong), là ngày thứ 26 liên tiếp Việt Nam không ghi nhận ca mắc Covid-19 mới trong cộng đồng.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/9/2020 là 210.754 người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 97.066 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 99.019 người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong 9 tháng năm 2020, cả nước xảy ra 65 vụ với 1.667 người bị ngộ độc (21 người tử vong).

Trong 9 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 10.354 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 5.980 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 4.374 vụ va chạm giao thông, làm 4.876 người chết, 3.127 người bị thương và 4.482 người bị thương nhẹ. Bình quân 1 ngày trong 9 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, gồm 22 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 16 vụ va chạm giao thông, làm 18 người chết, 11 người bị thương và 16 người bị thương nhẹ./.

[1] Tốc độ tăng GDP 9 tháng so với cùng kỳ các năm 2011-2020 lần lượt là: 6,03%; 5,10%; 5,14%; 5,53%; 6,53%; 5,99%; 6,41%; 6,96%; 7,04%; 2,12%.

[2] Tốc độ tăng CPI tháng Chín so với tháng trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 0,54%; tăng 0,59%; tăng 0,59%; tăng 0,32%; tăng 0,12%. Tốc độ tăng CPI tháng Chín so với tháng 12 năm trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 3,14%; tăng 1,83%; tăng 3,2%; tăng 2,2%; tăng 0,01%.

[3] Tốc độ tăng CPI bình quân 9 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020 lần lượt là: 2,07%; 3,79%; 3,57%; 2,5%; 3,85%.

[4] Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi khu vực thành thị quý III các năm 2011-2020 lần lượt là: 3,43%; 3,31%, 3,59%; 3,27%; 3,38%; 3,23%; 3,14%; 3,09%; 3,11%; 4,0%.

[5] Tính đến 6h00 ngày 28/9/2020, trên thế giới có 33.290,4 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (gần 1002 nghìn trường hợp tử vong).