- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp:
Tính đến 15/01/2005, cả nước đã gieo cấy được 1794,7 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 97,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 87,5 nghìn ha, bằng 86,6%; các địa phương phía Nam gieo sạ 1707,2 nghìn ha, bằng 98,4%, riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 1455,6 nghìn ha, bằng mức cùng kỳ năm trước.
Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 695,9 nghìn ha lúa mùa, bằng 93,4% cùng kỳ năm 2004, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 236,5 nghìn ha, chiếm trên 60% diện tích xuống giống và bằng 90,8%.
Cũng đến trung tuần tháng 01, cả nước gieo trồng được 221,3 nghìn ha ngô, bằng 100,4% cùng kỳ năm trước; khoai lang đạt 87,4 nghìn ha, bằng 83,6%; đậu tương 48,3 nghìn ha, bằng 142,5%; lạc 45,2 nghìn ha, bằng 104,1%; rau đậu 220,3 nghìn ha, bằng 94,3%.
Giá cả và nhu cầu thực phẩm tăng lên trong những ngày giáp Tết thúc đẩy chăn nuôi phát triển nhanh. Tuy nhiên, chăn nuôi gia cầm đang gặp nhiều khó khăn, tính đến 21/01/2005, dịch cúm gia cầm tái phát tại 23 tỉnh, thành phố, gồm 86 huyện và 232 xã. Có trên 300 nghìn con gia cầm bị tiêu huỷ, do các địa phương đều có phương án phòng chống dịch kịp thời nên mức độ thiệt hại không lớn như cùng kỳ năm 2004.
Lâm nghiệp
Trọng tâm sản xuất lâm nghiệp tháng này là chăm sóc rừng trồng, trồng cây phân tán và chuẩn bị cây giống cho vụ xuân. Thời tiết nắng hạn đã ảnh hưởng xấu đến cây giống và diện tích rừng trồng mới ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, trong đó Bình Thuận có 452 ha bị khô hạn và 1,2 triệu cây giống bị chết.
Thuỷ sản
Sản lượng thuỷ sản tháng 01 năm nay ước tính đạt 273,7 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng tăng 6,5% và sản lượng khai thác tăng 4,1%. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển khá, do nhu cầu tiêu dùng trong nước, nhất là phục vụ trong dịp Tết tăng và tiếp tục tăng xuất khẩu. Sản lượng nuôi trồng ước tính đạt 86,3 nghìn tấn, trong đó cá tăng 5,5%; tôm tăng 11%. Sản lượng thuỷ sản khai thác ước tính đạt 187,4 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khai thác biển đạt 168,3 nghìn tấn, tăng 4,2% (năm trước tháng 01 là tháng có Tết Nguyên Đán nên sản lượng khai thác biển đạt thấp).
- Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 01 năm 2005 ước tính đạt 35,2 nghìn tỷ đồng, tăng 32,4% so với tháng 01/2004, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 25,9%; khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 44,8% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29,8% (tổng công ty dầu khí giảm 11,6% và các ngành khác tăng 46,2%).
Sản xuất công nghiệp tháng 01/2005 tăng cao so với cùng kỳ năm trước do: (1) Số ngày sản xuất tháng 01/2005 nhiều hơn số ngày sản xuất của tháng 01/2004, (tháng 01/2004, ngoài ngày nghỉ cuối tuần và Tết Dương lịch, còn thêm 4 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Thân), riêng số ngày tăng lên đã làm tăng sản xuất công nghiệp gần 18%. (2) Do tháng 01 năm nay là tháng trước Tết Nguyên đán nên nhu cầu các sản phẩm công nghiệp, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng trong Tết như thuốc lá, bánh kẹo, thực phẩm, đồ uống; hàng may mặc; vật liệu xây dựng liên quan đến hoàn thiện các công trình xây dựng và dân dụng, đồ đạc trang trí, nội thất gia đình; phương tiện đi lại như ô tô, xe máy… tăng mạnh, đã thúc đẩy và gia tăng sản lượng các sản phẩm: Bia tăng 31,4%, thuốc lá bao tăng 36,2%, sữa hộp tăng 57,2%, bánh kẹo tăng 38%, thực phẩm chế biến tăng từ 10,5% đến gần 45%, ti vi lắp ráp tăng 18,3%, xe máy lắp ráp tăng 29,6%, ô tô lăp ráp tăng 94,5%… (3) Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng khác của nền kinh tế và xuất khẩu vẫn duy trì được mức tăng cao như: Khai thác than tăng 53,1%, thuỷ sản chế biến tăng 51,3%, vải lụa thành phẩm tăng 32,7%, quần áo may sẵn tăng 35,8%, giấy, bìa các loại tăng 40,2%, phân hoá học tăng 44,7%, xi măng tăng 64,7%, gạch lát tăng 53,6%, thép cán tăng 10,9%, điện tăng 15,9%.
Tuy nhiên, mức sản xuất của công nghiệp tháng 01 năm nay vẫn thấp hơn mức sản xuất của tháng 12 năm trước (chưa loại trừ yếu tố mùa vụ) và bên cạnh các sản phẩm tăng cao, trong tháng 01/2005 một số sản phẩm giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ là dầu thô khai thác giảm 15,1% (do lượng xuất khẩu thấp hơn cùng kỳ năm trước); khí đốt thiên nhiên chỉ tăng 0,6%; ga hoá lỏng chỉ tăng 1,1%; máy công cụ giảm 31,1% và quạt điện dân dụng giảm 20,2% (do thời vụ).
- Đầu tư
Năm 2005, kế hoạch vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách Nhà nước tập trung là 51,9 nghìn tỷ đồng (năm 2004 là 37,1 nghìn tỷ đồng ), trong đó vốn do các đơn vị Trung ương quản lý 19,9 nghìn tỷ đồng chiếm 38,3% và vốn do các đơn vị địa phương quản lý 32,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 61,7%.
Tháng 01/2005 các đơn vị xây dựng tập trung thanh quyết toán khối lượng hoàn thành năm 2004 và triển khai kế hoạch năm 2005. Vì vậy tiến độ thi công các công trình nhìn chung đạt thấp so với kế hoạch. Tổng vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung tháng 01 năm 2005 ước tính đạt 3562,6 tỷ đồng, đạt 6,9% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 1545,3 tỷ đồng, đạt 7,8% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 591,7 tỷ đồng, đạt 10,3% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 88,8 tỷ đồng, đạt 4,9%; Bộ Y tế 38,2 tỷ đồng, đạt 4,5%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 31,2 tỷ đồng, đạt 5,2%; Bộ Văn hoá Thông tin 18,2 tỷ đồng, đạt 5,0%… Vốn đầu tư do địa phương quản lý ước thực hiện 2017,3 tỷ, đạt 6,3% kế hoạch năm.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ 01/01 đến 20/01/2005 mới có 56 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 375 triệu USD.
- Vận tải
Vận chuyển hành khách tháng 01 năm 2005 đạt 79,2 triệu lượt hành khách và gần 3,7 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,2% về lượt hành khách và tăng 6,6% về lượt hành khách.km. Trong các ngành vận tải, vận chuyển hành khách bằng đường sắt giảm 1,1% và tăng 8,1%; đường bộ tăng 7,1% và tăng 7,3%; hàng không tăng 5,3% và tăng 4,8%. Khối lượng hành khách vận chuyển đường sắt giảm là do năm nay Tết Nguyên đán đến chậm hơn năm trước 01 tháng, nên hoạt động vận chuyển hành khách chưa phải là thời kỳ cao điểm.
Vận chuyển hàng hoá ước tính đạt 21,5 triệu tấn và 4,5 tỷ tấn.km, tăng 6,1% về tấn và 8,4% về tấn.km, trong đó vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt tăng 27,8% và tăng 17,4%; bằng đường bộ tăng 5,5% và tăng 6,0%; bằng đường biển tăng 7,1% và tăng 8,7%; bằng đường sông tăng 4,8% và tăng 5,8%; bằng hàng không tăng 2,7% và tăng 4,3%.
Để phục vụ tốt nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hoá trong dịp tết Nguyên đán Ất Dậu, ngành vận tải đã triển khai một số biện pháp như tăng thêm phương tiện và tuyến vận tải; kiểm tra việc đảm bảo an toàn kỹ thuật của phương tiện và tăng cường kiểm tra trật tự và an toàn giao thông… Riêng ngành vận tải đường sắt do thực hiện việc bán vé trước Tết nên đã hạn chế được tình trạng đầu cơ vé và đảm bảo được trật tự, an toàn ở các nhà ga.
- Thương mại, giá cả và du lịch
Tháng Một năm nay là tháng giáp Tết, nên nhìn chung nhu cầu mua sắm của dân cư tăng lên và thị trường khá sôi động. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01 năm 2005 ước tính đạt 36643 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức tăng trên 10%. Trong các khu vực, kinh tế Nhà nước đạt 4958 tỷ đồng, giảm 1,7% so với tháng 01 năm trước, do một số doanh nghiệp Nhà nước đã chuyển đổi sở hữu sang doanh nghiệp thuộc loại hình kinh tế khác nên tổ chức sản xuất, kinh doanh chưa ổn định; kinh tế tập thể đạt 356 tỷ đồng, tăng 12,2%; kinh tế cá thể đạt 23118 tỷ đồng tăng 17,1%; kinh tế tư nhân đạt 7286 tỷ đồng, tăng 44%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 925 tỷ đồng, tăng 54,4%. Trong các ngành, thương nghiệp chiếm 80,5% tổng mức, tăng 16,3%; khách sạn, nhà hàng tăng 33,8%; dịch vụ tăng 27,9%; du lịch tăng 45,4%.
Giá tiêu dùng tháng 01/2005 tăng 1,1% so với tháng trước, tương đương với mức tăng giá của tháng 01 năm 2004, là tháng Tết Giáp Thân, trong đó giá tất cả các nhóm đều tăng: giá nhóm lương thực, thực phẩm tăng 1,7% (lương thực tăng 1,4%, thực phẩm tăng 1,9%); giá các nhóm đồ uống, thuốc lá; thiết bị và đồ dùng gia đình; hàng may mặc, mũ nón, giày dép đều tăng ở mức 0,7-0,8%; giáo dục tăng 0,1%; các nhóm khác tăng 0,3-0,4%. So với tháng 01/2004, giá tiêu dùng tháng 01/2005 tăng 9,7%, trong đó đóng góp chính vào tăng giá tiêu dùng vẫn là lương thực, thực phẩm tăng 15,5% (lương thực tăng 13,5%, thực phẩm tăng 17,4%); nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 7,1%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 6,2%; dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 8,7%. Giá lương thực, thực phẩm trong tháng 01/2005 tăng cao do tăng xuất khẩu gạo và nhu cầu lương thực, thực phẩm tiêu dùng theo thông lệ của tháng giáp Tết. Tuy nhiên, xu hướng tăng giá theo qui luật tháng sau Tết và thực hiện tăng lương theo Nghị định mới của Chính phủ là những yếu tố cần được quan tâm trong điều hành giá cả.
Giá vàng sau nhiều tháng tăng liên tục, tháng này đã giảm 2% so với tháng trước và tăng 6,1% so với tháng 01/2004; trong khi đó giá đô la Mỹ không tăng so với tháng trước và chỉ tăng 0,7% so với tháng 01/2004.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 01 năm 2005 ước tính đạt 2 tỷ USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 1,55 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt gần 0,84 tỷ USD, tăng 18,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 0,71 tỷ USD, tăng 29,1%.
Trị giá xuất khẩu của hầu hết mặt hàng chủ yếu đều tăng (trừ lạc, sữa và dầu thực vật). Các mặt hàng đóng góp nhiều cho tăng kim ngạch xuất khẩu tháng 01/2005 là dầu thô, hàng dệt may, giày dép, điện tử, máy tính, gạo và sản phẩm gỗ…
Xuất khẩu dầu thô tháng 01/2005 ước tính đạt 1500 nghìn tấn với kim ngạch 450 triệu USD, giảm 13,8% về lượng, nhưng tăng 9,2% về kim ngạch; Xuất khẩu hàng dệt may ước tính đạt 300 triệu USD, tăng 12,4%; xuất khẩu giày dép 230 triệu USD, tăng 2,7%; hải sản 150 triệu USD, tăng 19%; sản phẩm gỗ 100 triệu USD, tăng 40,8%; hàng điện tử, máy tính 85 triệu USD, tăng 34,9%. Xuất khẩu gạo tháng 01 tăng mạnh cả về lượng và kim ngạch: ước đạt 250 nghìn tấn với kim ngạch 63 triệu USD, tăng 131,5% về lượng và tăng 129,1% về kim ngạch; cà phê 80 nghìn tấn với 54 triệu USD, tăng 1,3% và tăng 3,8%; cao su tăng 11,1% và 22,1%; hạt điều tăng 45,7% và tăng 87,5%…
Kim ngạch nhập khẩu ước tính đạt 2,2 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 1,42 tỷ USD, tăng 17,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 0,78 tỷ USD, tăng 20%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất trong nước tiếp tục tăng, nhưng do giá một số mặt hàng nhập khẩu vẫn tăng cao nên lượng nhập khẩu không tăng tương xứng hoặc giảm: Nhập khẩu xăng dầu tăng 8,6% về kim ngạch, nhưng lượng giảm 12,6%; sắt thép tăng 40,2%, nhưng lượng chỉ tăng 3,3%; phân bón tăng 12% nhưng lượng giảm 22,2%; chất dẻo tăng 55,4% nhưng lượng chỉ tăng 5,8%; nguyên liệu dệt, may, da tăng 15,2%… Nhập khẩu máy móc thiết bị ước tính đạt 300 triệu USD, tăng 20,5%. Nhập siêu tháng 01/2005 đạt 200 triệu USD, bằng 10% kim ngạch xuất khẩu.
Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 01/2005 ước tính đạt 301,1 nghìn lượt người, tăng 4,4% so với tháng 01/2004, trong đó khách đến với mục đích du lịch 185,6 nghìn lượt người, tăng 17,4%; vì công việc 31,1 nghìn lượt người, giảm 10,7%; thăm thân nhân 50,5 nghìn lượt người, giảm 23,2%; vì các mục đích khác 33,9 nghìn lượt người, tăng 14,1%.
Khách đến từ Trung Quốc (không kể Hồng Kông) ước tính đạt 83,7 nghìn lượt người, tăng 5,3% so với tháng 01/2004; từ Mỹ 30,2 nghìn lượt người, giảm 16,7%; Hàn Quốc 25,3 nghìn lượt người, tăng 34,4%; Nhật Bản 21,5 nghìn lượt người, giảm 16%; Đài Loan 21,5 nghìn lượt người, tăng 3,3%; Ô-xtrây-li-a 14,9 nghìn lượt người, giảm 8,2%…
- Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong nông dân: Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng (tính đến 21/01) có 69,9 nghìn lượt hộ với 324,5 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,6% tổng số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp. So với thời điểm 31/01 năm trước, số nhân khẩu thiếu đói giảm khoảng 10%. Một số tỉnh có số nhân khẩu thiếu đói trong tháng 01/2005 cao như Nghệ An 94,5 nghìn lượt nhân khẩu, chiếm 4,1% số nhân khẩu nông nghiệp; Đắk Nông 98 nghìn lượt nhân khẩu, chiếm 27,8% số nhân khẩu nông nghiệp của tỉnh… Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 210 tấn lương thực và trên 125 triệu đồng.
Tình hình dịch bệnh: Trong tháng 01/2005 các bệnh sốt rét, sốt xuất huyết và thương hàn không xảy ra dịch. Tính đến 19/01, có 7,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, trong đó tử vong 1 người; 1,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và 21 trường hợp mắc bệnh thương hàn nhưng không có trường hợp nào tử vong. So với tháng trước, số người mắc bệnh sốt xuất huyết giảm mạnh; số người bị bệnh thương hàn giảm khoảng 300 trường hợp; riêng số người bị bệnh sốt rét tăng 67,4%.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 01/2005 đã phát hiện thêm trên 1,3 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số trường hợp nhiễm HIV trong cả nước đến 19/01/2005 lên 90,6 nghìn người, trong đó có 14,5 nghìn bệnh nhân AIDS và số người chết do AIDS là trên 8,4 nghìn người. Trong tháng, cũng đã có gần 400 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 2 người đã tử vong.
Về tình hình viêm phổi do virus cúm A – H5N1: Trong những ngày đầu năm 2005, tình hình dịch cúm gia cầm và bệnh viêm phổi do virus cúm A – H5N1 diễn biến tương đối phức tạp. Tính đến 19/01/2005 đã có 7 trường hợp được xác định là viêm phổi do virus cúm A – H5N1, trong đó 6 người đã tử vong.
Trước tình hình dịch cúm gia cầm cũng như bệnh viêm phổi do virus cúm A-H5N1 đang có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp tại nhiều nước trên thế giới, bệnh lây nhiễm từ gia cầm bị bệnh sang người và có tỷ lệ tử vong rất cao; Chính phủ đã tổ chức hội nghị với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương bàn và triển khai các biện pháp phòng chống dịch để ngăn chặn, dập tắt dịch với thời gian sớm nhất; hạn chế tối đa không để lây lan sang người. Để chủ động triển khai khẩn cấp các biện pháp phòng chống dịch viêm phổi do virus cúm A-H5N1, Bộ Y tế, thường trực Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp SARS – Cúm đã thông báo và yêu cầu Ban chỉ đạo các cấp tăng cường hoạt động và phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ đạo, bao vây và dập tắt dịch. Đến nay, tình hình dịch cúm gia cầm đang có nguy cơ lây lan nhưng vẫn trong khả năng khống chế của các địa phương.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 12/2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1,4 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết trên 1 nghìn người và làm bị thương 1,2 nghìn người. So với tháng 12 năm trước, giảm cả về số vụ, số người chết và người bị thương: số vụ tai nạn giảm 18%; số người chết giảm 6,6%; số người bị thương giảm 22,2%. So với tháng 11/2004, số vụ tai nạn giảm 5 vụ; số người bị thương giảm 33 người; riêng số người chết tăng 41 người. Sơ bộ năm 2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 17,4 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết trên 12 nghìn người và làm bị thương 15,6 nghìn người. So với năm 2003, số vụ tai nạn giao thông giảm 16,2%; số người bị thương giảm 24,6%; số người chết tăng 1,9%. Bình quân một ngày trong năm 2004 xảy ra 48 vụ tai nạn, làm chết 33 người và làm bị thương 43 người (Bình quân năm 2003 là 57 vụ; 32 người chết và 57 người bị thương). Trong năm 2004 cũng đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng trong vận tải ô tô chở khách và vận tải đường thuỷ nội địa. Trong các nguyên nhân gây tai nạn, trên 80% số vụ tai nạn do người tham gia giao thông gây ra, mà những vi phạm chính là chạy quá tốc độ quy định, không quan sát phần đường, tránh vượt sai quy định và đi sai phần đường. Trong năm 2004, tai nạn giao thông xảy ra trên đường bộ là chủ yếu, chiếm tới 96,3% số vụ; 96,2% số người chết và 98,4% số người bị thương.