1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Tính đến 15/02/2005 cả nước gieo cấy được 2474,6 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 103,9% cùng kỳ năm 2004, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 701,8 nghìn ha, bằng 121,4%; các địa phương phía Nam đạt 1772,8 nghìn ha, bằng 98,3%, riêng đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1471,4 nghìn ha, bằng 100,3%. Thời tiết nắng hạn tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên làm khô hạn 1852 ha lúa đã gieo cấy, trong đó mất trắng 860 ha; trên 45 nghìn ha cà phê bị thiếu nước tưới. Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, đến trung tuần tháng 2, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 384,3 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 78,1% cùng kỳ năm trước, năng suất ước tính tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể cao hơn mức năm 2004.

Sản xuất cây công nghiệp hàng năm và các loại cây rau quả đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích gieo trồng đậu tương tăng 29,7%.

Tính đến 21/02/2005, cả nước có 35 tỉnh, thành phố tái phát dịch cúm gia cầm, trên 1,5 triệu con bị chết và tiêu huỷ, thấp hơn nhiều so với mức trên 30 triệu con cùng thời điểm này năm 2004. Hiện nay, dịch đang có xu hướng chững lại, đáng chú ý là cũng đến thời điểm này, có 12 trong số 35 tỉnh không phát sinh các ổ dịch mới sau 21 ngày kể từ khi có dịch: Thái Nguyên, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Ninh Thuận, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, Tiền Giang và Kiên Giang. Nhờ công tác kiểm dịch được thực hiện chặt chẽ nên gia cầm và sản phẩm gia cầm có chất lượng đảm bảo vẫn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết.

Lâm nghiệp

Công tác chăm sóc, giao khoán bảo vệ rừng vào mùa khô đều đạt kế hoạch. Trong tháng 2, không xảy ra vụ cháy rừng nghiêm trọng nào. Tiến độ trồng rừng theo chương trình 5 triệu ha rừng và từ các nguồn vốn khác đạt mức cao, trong đó Đắk Lắk đạt 104% kế hoạch. Ngoài ra, số cây trồng phân tán tăng 10% so với cùng kỳ năm trước.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản cả nước tháng 2 ước tính đạt 261,7 nghìn tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 73,7 nghìn tấn, tăng 6,8% (sản lượng cá tăng 8,5% và tôm tăng 4,5%); sản lượng khai thác chỉ đạt 188 nghìn tấn, giảm 1,6% (khai thác biển giảm 1,2%). Nuôi trồng thuỷ sản tăng khá, do sản lượng thu hoạch tại các vùng nuôi trồng thuỷ sản làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu vẫn đạt mức cao. Nuôi trồng thuỷ sản ở một số tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên gặp khó khăn do ít mưa, mực nước các ao hồ không đủ để thả giống. Hoạt động khai thác thuỷ sản gặp khó khăn về thời tiết: Do ảnh hưởng thường xuyên của gió mùa đông bắc nên hải sản ít xuất hiện trên biển. Lượng tàu thuyền bám biển khai thác giảm, do ngư dân nghỉ sản xuất để xảm lại ghe, thuyền và tập trung đón Tết.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2005, sản lượng thuỷ sản ước đạt 535,4 nghìn tấn, tăng 2,8% so cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 160 nghìn tấn tăng 6,7%, khai thác 375,4 nghìn tấn, tăng 1,2%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 02 năm 2005 ước tính đạt 29,26 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 80,9% tháng trước và tăng 2,1% so với tháng 02/2004. Công nghiệp tháng 02 tăng thấp so với tháng trước và so với cùng kỳ trước chủ yếu do yếu tố mùa vụ: tháng 02 có 28 ngày và trừ thêm 4 ngày nghỉ Tết Ất Dậu. Giá trị sản xuất của tất cả các khu vực kinh tế đều chỉ đạt ở mức trên dưới 80% giá trị sản xuất tháng 01; so với tháng 02 năm trước công nghiệp Nhà nước chỉ bằng 95,9%, kinh tế ngoài quốc doanh tăng 9,1% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,8%.

Tính chung 2 tháng, số ngày sản xuất chính thức tương đương với năm trước, ước tính giá trị sản xuất công nghiệp đạt 65,41 nghìn tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 10,5%, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng 27,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,5% (dầu mỏ và khí đốt giảm 5,5% và các ngành khác tăng 20,2%). Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu, quan trọng đối với nền kinh tế 2 tháng đầu năm vẫn duy trì mức độ tăng cao so với cùng kỳ như: Than sạch khai thác tăng 28,3%, thủy sản chế biến tăng 31,7%, giấy bìa các loại tăng 18,8%, phân bón tăng 52,8%, xi măng tăng 16,7%, thép cán tăng 13,5%, máy công cụ tăng 22,9%, động cơ điện tăng 85%, xe máy lắp ráp tăng 43,5%, ô tô lắp ráp tăng 37%, điện tăng 12,4%. Riêng sản phẩm phân bón 2 tháng đầu năm 2005 ước đạt 409,7 nghìn tấn, tăng 141,5 nghìn tấn; tăng mạnh do có thêm một số doanh nghiệp tại Bà Rịa-Vũng Tàu với năng lực sản xuất lớn (riêng Nhà máy Đạm Phú Mỹ do TW quản lý có công suất khoảng 720 nghìn tấn/năm, 2 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có năng lực sản xuất mỗi doanh nghiệp trên 900 nghìn tấn/năm) mới đi vào sản xuất từ 6 tháng cuối năm 2004. Một số doanh nghiệp ngành đóng tàu đã ký kết và triển khai hợp đồng đóng tàu tải trọng lớn, giá trị cao cho nước ngoài. Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thuộc ngành vật liệu xây dựng tăng lên ngay từ đầu năm, do tăng đầu tư, xây dựng, đặc biệt là xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình trọng điểm của Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh các sản phẩm tăng cao, trong 2 tháng đầu năm 2005 một số sản phẩm giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ. Dầu thô khai thác 2 tháng đầu năm mới đạt xấp xỉ 3 triệu tấn, thấp hơn 376 nghìn tấn (giảm 11,2%) so với 2 tháng đầu 2004, do chủ trương khai thác hạn chế theo kế hoạch; một số sản phẩm giảm hoặc tăng thấp do thời vụ: đường mật giảm 1,6%; quần áo dệt kim giảm 7,4%; quạt điện dân dụng giảm 28,5%; ti vi lắp ráp chỉ tăng 2,5% (do cầu giảm); riêng động cơ diesel giảm 11,6%; xe đạp giảm 24% (do xuất khẩu giảm). Điều cần quan tâm trong công nghiệp 2 tháng là sản xuất công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh có mức tăng trưởng thấp so với cả nước. Thời gian tới sản xuất công nghiệp có thể vẫn còn bị ảnh hưởng bởi giá cả một số nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩu vẫn đứng ở mức cao và lượng nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất trong nước đạt thấp so với cùng kỳ.

  1. Đầu tư

Trong tháng 2 năm 2005  các đơn vị xây dựng tiếp tục tập trung thanh quyết toán khối lượng hoàn thành năm 2004, triển khai kế hoạch năm 2005 và nghỉ Tết Nguyên đán, do vậy tiến độ thi công các công trình nhìn chung đạt thấp so với kế hoạch. Vốn đầu tư­ xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nư­ớc tập trung 2 tháng đầu năm 2005 ư­ớc tính đạt 7003,4 tỷ đồng  đạt 13,5% kế hoạch năm, thấp hơn mức 14,3% của cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư­ do trung ư­ơng quản lý thực hiện 3449,2 tỷ đồng, đạt 17,3% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 1290,5 tỷ đồng, đạt 22,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 251 tỷ đồng, đạt 14%;  Bộ Y tế 80,6 tỷ đồng, đạt 9,5%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 70,2 tỷ đồng, đạt 11,7%; Bộ Văn hoá Thông tin 34,6 tỷ đồng, đạt 9,5%… Vốn đầu tư do địa phư­ơng quản lý ước thực hiện 3554,2 tỷ đồng, đạt 11,1% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội thực hiện 365,9 tỷ đồng, đạt 8,5%, thành phố Hồ Chí Minh 569,3 tỷ đồng, đạt 7,6%, Hải Phòng 148,4 tỷ đồng, đạt 11,5%, Đà Nẵng 178,4 tỷ đồng, đạt 13,5%, Đồng Nai 145,8 tỷ đồng, đạt 12,2%, Cần Thơ 62,7 tỷ đồng, đạt 15,1%…

Về đầu tư trực tiếp của nư­ớc ngoài, từ 01/01 đến 22/02/2005  có 58 dự án đư­ợc cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1031,6 triệu USD, trong đó có 47 dự án 100% vốn nước ngoài với 291,3 triệu USD, chiếm 81% số dự án và 28,2% số vốn đăng ký; 9 dự án liên doanh với 84,3 triệu USD, chiếm 15,5% số dự án và 8,2% số vốn đăng ký và  2 dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh với 656 triệu USD, chiếm  3,4% số dự án và 63,6% số vốn đăng ký.

Các ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 74,1% về số dự án và 30,5% về vốn đăng ký; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 6,9% về số dự án và 0,2% về vốn đăng ký; dịch vụ chiếm 19% về dự án và 69,3% về vốn đăng ký. Những dự án có vốn đăng ký lớn: Hợp đồng hợp tác kinh doanh điện thoại di động giữa Bưu điện Hà Nội và Lúc-xăm-bua 656 triệu USD; dự án xây dựng Trung tâm thương mại tại Hà Nội 114,5 triệu USD; dự án sản xuất giày dép tại Đồng Nai 190 triệu USD; Dự  án cao ốc 35 tầng tại Sài Gòn 55 triệu USD.

  1. Vận tải, bưu chính viễn thông.

Vận chuyển hành khách 2 tháng đầu năm 2005 ước tính thực hiện đạt 158,9 triệu lư­ợt hành khách và 7,3 tỷ lư­ợt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trư­ớc tăng 6,4% về lư­ợt hành khách và tăng 6,9% về lư­ợt hành khách.km. Trong các ngành vận tải, vận chuyển hành khách bằng đ­ường sắt tăng 10,6% và tăng 9%; đường­ bộ tăng 7,2% và tăng 7,4%; hàng không tăng 5,1% và tăng 5,4%.

Vận chuyển hàng hoá 2 tháng đầu năm ư­ớc tính đạt 42,8 triệu tấn và 8,9 tỷ tấn.km, tăng 5,1% về tấn và tăng 7% về tấn.km so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ tăng 5,2% và tăng 5,9%; đư­ờng biển tăng 6,9% và tăng 8,6%; đư­ờng sông tăng 4,7% và  tăng 5,7%; hàng không tăng 4,9% và tăng 7,0%; riêng đư­ờng sắt giảm 0,5% và  giảm 8,3%.

Hoạt động vận tải trong 2 tháng đầu năm nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của dân cư, đặc biệt là trong dịp Tết Ất Dậu. Các ngành vận tải đã tăng cường về phương tiện, cơ sở vật chất; cải tiến trong quản lý, điều hành và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến và các chuyến bay.

Về bưu chính viễn thông, doanh thu 2 tháng đầu năm ước tính đạt  gần 4,3 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu từ viễn thông chiếm tới 91,3%. Tổng số máy điện thoại của cả nước có đến cuối tháng 2 năm 2005 là 10,42 triệu chiếc, tăng 35,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại cố định 5,87 triệu chiếc và điện thoại di động 4,55 triệu chiếc.

Nhìn chung, hoạt động bưu chính viễn thông đã có nhiều cố gắng trong việc mở rộng mạng lưới phục vụ, song cần sớm có những biện pháp nhằm tăng cường chất lượng phục vụ, nhất là khắc phục tình trạng nghẽn mạch như đã xảy xa đối với mạng di động VinaPhone trong dịp Tết vừa qua.

  1. Thư­ơng mại, giá cả và du lịch

Về thị trường, thị trường 2 tháng đầu năm tương đối sôi động, một mặt gắn với Tết Nguyên đán theo truyền thống và mặt khác sức mua tăng lên do sản xuất và kinh tế năm 2004 phát triển và có nhịp độ tăng trưởng cao, thu nhập của người lao động tăng: thu nhập của người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước tăng lên do thực hiện điều chỉnh lương theo Nghị định của Chính phủ, thu nhập của nông dân tăng do tăng sản lượng cây trồng, vật nuôi và người nông dân được hưởng lợi từ tăng giá nông sản thực phẩm. Nguồn hàng hoá phục vụ tiêu dùng khá dồi dào, không có tình trạng khan hiếm ở bất cứ mặt hàng nào trên thị trường, giá cả tăng theo qui luật.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 2 tháng đầu năm 2005  ư­ớc tính đạt 70237 tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trư­ớc, cao hơn tốc độ tăng của năm trước 2,4%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức tăng trên 10%. Trong các khu vực, kinh tế Nhà nư­ớc đạt 9503 tỷ đồng, giảm 3%, do một số doanh nghiệp Nhà nước đã chuyển đổi sang doanh nghiệp thuộc loại hình kinh tế khác; kinh tế tập thể đạt 682 tỷ đồng, tăng 19,4%; kinh tế cá thể đạt 44314 tỷ đồng tăng 17,6%; kinh tế tư­ nhân đạt 13966 tỷ đồng, tăng 39,9%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1772 tỷ đồng, tăng 44,7%. Trong các ngành, thư­ơng nghiệp chiếm 80,5% tổng mức, tăng 16,5%; khách sạn, nhà hàng tăng 29,3%; dịch vụ tăng 23%; du lịch  tăng 36,8%.

Tết Ất Dậu vào 9/02/2005, nên hầu hết biến động về giá tiêu dùng, cả trước và sau Tết, đều diễn ra trong tháng 02/2005. Giá tiêu dùng tháng 02/2005 tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 3,6% so với tháng 12/2004. Như vậy, giá tiêu dùng sau 2 tháng đầu năm tăng ở mức cao, nhưng vẫn trong giới hạn theo qui luật của những tháng đầu năm liên quan tới Tết Nguyên đán:

 

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

   %
2001 2002 2003 2004 2005
CPI so với tháng trư­ớc
Tháng 1 100,3 101,1 100,9 101,1 101,1
Tháng 2 100,4 102,2 102,2 103,0 102,5
CPI so với tháng 12 năm tr­ước
Tháng 1 100,3 101,1 100,9 101,1 101,1
Tháng 2 100,7 103,3 103,1 104,1 103,6

Giá tiêu dùng tháng 2 tăng so với tháng trước chủ yếu do giá nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 4,1% (lương thực tăng 2,5%; thực phẩm tăng 4,3%); giá đồ uống, thuốc lá và dịch vụ văn hoá thể thao giải trí tăng 1,7%; các nhóm khác (trừ giáo dục) đều tăng so với tháng trước. So với tháng 12 năm 2004, giá tiêu dùng tháng 2 tăng 3,6%, trong đó giá của tất cả các nhóm đều tăng, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm tăng 5,9% (lương thực tăng 3,9% và thực phẩm tăng 6,3%). Giá lương thực tăng cao do cầu tăng ở loại gạo ngon và gạo nếp; giá thực phẩm tăng cao, do tập quán tiêu dùng của người dân trong năm Dậu và do dịch cúm gia cầm tái phát, nhu cầu tiêu dùng gia cầm và sản phẩm từ gia cầm thấp, người dân chuyển sang sử dụng thịt gia súc (bò, lợn); thuỷ, hải sản và các sản phẩm chế biến sẵn dẫn đến tăng cầu và tăng giá.

Tuy nhiên, nhu cầu tiêu dùng trong tháng tới có thể vẫn cao hơn bình thường, do lễ hội và du lịch đầu năm; vẫn thiếu hụt một lượng đáng kể về thực phẩm do ảnh hưởng dịch cúm gia cầm, ngoài ra còn những diễn biến khó lường khác ở trong nước và trên thế giới. Vì vậy, cần có sự chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và tăng cường đẩy mạnh sản xuất ngay từ những tháng đầu năm để giữ vững ổn định thị trường, đảm bảo các mục tiêu đã đề ra về tăng trưởng và lạm phát.

Giá vàng sau nhiều tháng tăng liên tục, tháng này đã giảm 1,8% so với tháng tr­ước và  giảm 3,8% so với tháng 12 năm 2004; trong khi đó giá đô la Mỹ đều tăng cả ở hai chỉ số và tăng ở mức 0,1%.

Kim ngạch xuất khẩu tháng 2 năm 2005 ư­ớc tính đạt 1,9 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trư­ớc. Tính chung 2 tháng đầu năm 2005, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4,08 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 3,06 tỷ USD, tăng 12,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nư­ớc đạt 1,68 tỷ USD, tăng 6,9%; khu vực có vốn đầu tư­ nư­ớc ngoài đạt 1,38 tỷ USD, tăng 19,3%.  Có 19 trong số 24 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu có kim ngạch tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó dầu thô tăng 30,6%, than đá tăng 87,8%, dệt may tăng 1,4%, giày dép tăng 4,5%, điện tử máy tính tăng 57,9%, gạo tăng 37%, thuỷ sản tăng 0,6%. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô 2 tháng ước đạt trên 1 tỷ USD, xuất khẩu dệt may 566 triệu USD, giày dép 447 triệu USD; 5 mặt hàng khác có kim ngạch trên 100 triệu USD là điện tử, máy tính; gạo; cà phê; sản phẩm gỗ và thuỷ sản. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng về kim ngạch và lượng xuất khẩu như gạo, cao su, điều, chè và than đá. Tuy nhiên, trong 2 tháng đầu năm còn một số mặt hàng có kim ngạch giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước như xe đạp và phụ tùng giảm 42,2%, dầu thực vật giảm 84,2%, cà phê giảm 4,2%, lạc giảm 80,1%, sữa và sản phẩm sữa giảm 98,7%.

Kim ngạch nhập khẩu  2 tháng đầu năm ước tính đạt 4,9 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trư­ớc, trong đó khu vực kinh tế trong nư­ớc nhập khẩu 3,16 tỷ USD, tăng 22,5%; khu vực có vốn đầu tư ­ nư­ớc ngoài nhập khẩu 1,74 triệu USD, tăng 27,3%. Tuy tốc độ tăng nhập khẩu tương đối cao so với cùng kỳ, nhưng đáng quan tâm là một số mặt hàng nhập khẩu liên quan đến tiêu dùng tăng mạnh, trong khi phần lớn các nguyên, nhiên, vật liệu chủ yếu phục vụ sản xuất trong nư­ớc giảm so với cùng kỳ năm trước: xăng dầu giảm 26,2% về lượng và giảm 13,2% về kim ngạch; phân bón giảm 51,2% về lượng và giảm 45,1% về kim ngạch; phôi thép giảm 18,3% về kim ngạch và giảm 32,2% về lượng. Kim ngạch nhập khẩu nguyên, phụ liệu dệt, may, da giảm 4,6%; vải giảm 5%; sợi dệt giảm 14,3%; tân dược giảm 6,3%. Riêng thép do giá nhập khẩu tăng, nên kim ngạch tăng tới 28,8%, trong khi lượng nhập khẩu giảm 3,5%.  Kim ngạch nhập khẩu ô tô và xe máy đều tăng trên dưới 80% so với 2 tháng đầu năm 2004, riêng số xe máy nguyên chiếc nhập khẩu ước đạt  7,9 nghìn chiếc, tăng 5,3 lần so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu máy móc thiết bị ước tính đạt 888 triệu USD, tăng 51,8%. Nhập siêu 2 tháng đầu năm 2005 là  825 triệu USD, bằng 20,2% kim ngạch xuất khẩu.

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 02/2005 ước đạt 283,9 nghìn người, chỉ bằng 94,3% tháng 01/2005,  trong đó khách giảm mạnh ở nhóm vào du lịch (giảm 11,4%), trong khi khách vào với mục đích thăm thân nhân bạn bè tăng 7,6%; Lượng khách quốc tế và Việt kiều về ăn Tết Ất Dậu năm nay tăng cao hơn năm trước vì vậy công suất sử dụng của phòng khách sạn ở Hà Nội đạt tới 90%; ở thành phố Hồ Chí Minh đạt trên 80%. Hoạt động du lịch trong dịp Tết tăng cao ở tất cả các tỉnh, thành phố vì mức sống ngày càng được nâng lên. Đáng lưu ý là ngoài việc thăm hỏi, dự lễ Tết theo phong tục cổ truyền, một số người dân trong nước còn có xu hướng sử dụng những ngày nghỉ dài cho việc tham quan, du lịch.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2005, số khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt gần 585 nghìn lư­ợt ngư­ời, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch 350 nghìn lư­ợt ngư­ời, tăng 20,7%; vì công việc 62,7 nghìn lư­ợt ngư­ời, giảm 17,6%; thăm thân nhân 104,8 nghìn lư­ợt ngư­ời, tăng 4,3%; vì các mục đích khác 67,5 nghìn lư­ợt ngư­ời, tăng 25,5%. Khách đến từ CHND Trung Hoa đạt 141,3 nghìn lư­ợt ngư­ời, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước; từ Mỹ 63,2 nghìn lượt ngư­ời, tăng 10,9%; Hàn Quốc 51,6 nghìn lựơt ngư­ời, tăng 41,4%, Nhật Bản 45,4 nghìn lư­ợt người, giảm 5,5%; Đài Loan 45,1 nghìn lư­ợt ngư­ời, tăng 9,8%; Ô-xtrây-li-a 27,6 nghìn lư­ợt ngư­ời, tăng 14,1%…

  1. Ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách 2 tháng đầu năm ước tính đạt 15,5% dự toán cả năm và tăng 22,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa đạt 16,2% và tăng 25,5%; thu từ dầu thô đạt 17,2% và tăng 35,2%; thu từ xuất, nhập khẩu đạt 12,1% và bằng cùng kỳ năm trước. Trong các khoản thu nội địa, thu từ khu vực kinh tế Nhà nước đạt 15% dự toán cả năm và tăng 17,7% so với 2 tháng đầu năm 2004; thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 17,9% và tăng 28,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 18,6% và tăng 36,5%;

Tổng chi ngân sách 2 tháng ước tính đạt 13,3% dự toán cả năm và tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 14,1% và tăng 26% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 14,5% và tăng 26,8%); chi thường xuyên đạt 14,9% và tăng 6,5%. Các khoản chi đạt mức khá như: chi sự nghiệp kinh tế đạt 14,6% và tăng 5,2%; chi cho giáo dục, đào tạo đạt 14,4% và tăng 5,2%; chi cho sự nghiệp y tế đạt 14,5% và tăng 8,6%; chi cho văn hoá, thông tin đạt 14,1% và tăng 7,5%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 15,8% và tăng 5,4%; chi cải cách tiền lương đạt 3,9% dự toán cả năm. Bội chi 2 tháng bằng 5,2% tổng dự toán bội chi cả năm Quốc hội cho phép và được bù đắp bằng nguồn vay trong nước.

  1. Một số vấn đề xã hội

Tình hình đón Tết Nguyên đán Ất Dậu

Tết Nguyên đán Ất Dậu-2005 diễn ra an toàn, vui tươi và lành mạnh. Lượng hàng hoá phục vụ Tết phong phú và đa dạng, nên không xảy ra tình trạng khan hiếm ở bất kỳ hàng hoá nào. Nhiều hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao mừng Đảng, mừng xuân đã diễn ra sôi nổi trên khắp mọi miền đất nước. Các hoạt động như biểu diễn nghệ thuật, các trò chơi dân gian, thả đèn trời, bắn pháo hoa được tổ chức tốt, đảm bảo an toàn, trật tự, tạo không khí đón xuân phấn khởi. Công tác thông tin, tuyên truyền, báo chí, phát thanh, truyền hình được thực hiện rộng khắp, đã truyền tải đến công chúng không khí đón xuân trên mọi miền đất nước. Hội chợ xuân 2005, Hội chợ hàng nông nghiệp Việt Nam, Hội Báo xuân… được tổ chức tốt và thu hút đông đảo nhân dân tham dự. Một số hoạt động văn hoá, nghệ thuật khác được dư luận đánh giá cáo như: Chương trình văn hoá mừng Đảng, mừng xuân, chương trình nghệ thuật kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng. Trong dịp này, Thư viện Quốc gia đã tổ chức triển lãm sách báo với chủ đề: “Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới đất nước”; Khu di tích Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng các Dân tộc Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh,  Khu thành cổ… mở cửa đón khách tham quan. Các hoạt động thể dục thể thao quần chúng và dân tộc như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, đấu vật, cờ người, cờ tướng, ném còn, bắn nỏ đã được tổ chức sôi nổi trên khắp các địa phương trong cả nước.

Công tác trợ giúp các đối tượng chính sách được thực hiện tích cực. Nhân dịp Tết, các gia đình thuộc diện chính sách, gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các trại điều dưỡng thương binh, trung tâm điều dưỡng người có công đều được nhận quà và trợ giúp, như quà của Chủ tịch nước, của UBND các tỉnh, thành phố và của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội với tổng số tiền và quà tặng trên 185 tỷ đồng. Các hộ nghèo và các đối tượng xã hội đặc biệt khó khăn cũng được trợ cấp trong dịp Tết Ất Dậu vừa qua. Cả nước có khoảng 200 nghìn hộ nghèo và 30 vạn đối tượng xã hội đặc biệt khó khăn như người già cả cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, nạn nhân chất độc màu da cam, đồng bào vùng gặp thiên tai… được trợ giúp, tặng quà trong dịp Tết với tổng số tiền trợ giúp khoảng 40 tỷ đồng. Ngoài ra Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quốc hội cũng đã chúc Tết và tặng quà các tập thể và cá nhân. Việc tổ chức thăm hỏi và tặng quà Tết đã thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta, đồng thời thực hiện chủ trương chung là không để người nghèo nào không có Tết.

Công tác y tế trong dịp Tết được chú trọng. Ngành y tế đã có những biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa bệnh dịch và tăng cường kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Các cơ sở y tế cả nước đều thực hiện chế độ trực 24/24 giờ trong những ngày Tết, bảo đảm tiếp nhận và xử lý kịp thời các trường hợp cấp cứu, tích cực phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm tuýp A-H5N1 ở người.

Tình hình an ninh trật tự trong dịp Tết được đảm bảo, nhất là trong đêm giao thừa và tại các điểm tổ chức cầu truyền hình, các điểm bắn pháo hoa, các địa bàn trọng điểm và các thành phố lớn.

Tình hình dịch bệnh

Trong tháng 02/2005 có 3,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 1,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; gần 100 trường hợp mắc bệnh thương hàn, nhưng không có trường hợp nào bị tử vong. So với tháng trước, số trường hợp sốt rét giảm 52,1%; sốt xuất huyết tăng 30% và số trường hợp mắc bệnh thương hàn gấp 4,5 lần. Trong tháng cũng có khoảng 500 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 1 người đã tử vong.

Về tình hình viêm phổi cấp do virus cúm tuýp A-H5N1, trong tháng đã ghi nhận 10 trường hợp bị viêm phổi cấp do virus cúm A-H5N1, trong đó có  6 người đã tử vong. Tính từ tháng 02/2004 đến nay, trên cả nước có 44 trường hợp nhiễm virus cúm A-H5N1, trong đó có 32 người đã tử vong.

Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 2/2005 phát hiện thêm gần 1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/02/2005 lên 91,6 nghìn người, trong đó gần 14,7 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 8,5 nghìn người chết do AIDS.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 01/2005 trên phạm vi cả nước đã xảy ra trên 1,3 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 1 nghìn người và làm bị thương 1,2 nghìn người. So với tháng 12/2004, số vụ tai nạn giảm 3%; số người chết giảm 0,9%; số người bị thương giảm 0,7%. So với tháng 01/2004, số vụ tai nạn giảm 20,2%; số người chết giảm 4% và số người bị thương giảm 22,4%. Bình quân mỗi ngày trong tháng 01/2005, trên địa bàn cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33 người và làm bị thương 38 người. Tai nạn giao thông trong tháng 01/2005 chủ yếu xảy ra trên đường bộ, chiếm tới 96,4% số vụ, 97,5% số người chết và 99% số người bị thương. Trong dịp Tết, tình trạng ùn tắc giao thông không xảy ra, nhưng tai nạn giao thông những ngày Tết diễn ra nghiêm trọng. Tính từ 30 Tết đến mồng 5 Tết, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 560 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 284 người và làm bị thương 688 người. So với Tết Giáp Thân, tuy giảm 55 vụ, giảm 90 người bị thương, nhưng số chết lại tăng 10 người.