1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
  2. Nông nghiệp

Lúa mùa: Tính đến ngày 15/8/2005 cả nước đã gieo cấy được 1472 nghìn ha lúa mùa, bằng 96,6% cùng kỳ năm 2004, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1196,2 nghìn ha, bằng 98,6%; riêng vùng đồng bằng sông Hồng đã cơ bản gieo cấy xong với 569,3 nghìn ha, bằng 98,4% và giảm 9,5 nghìn ha do hầu hết các tỉnh trong vùng xây dựng đường giao thông và khu công nghiệp, một phần diện tích khác gặp nắng hạn nên được chuyển sang trồng các loại cây màu; các địa phương phía Nam gieo cấy 275,8 nghìn ha, bằng 88,7%. Cơn bão số 2 và số 3 đã ảnh hưởng đến các tỉnh từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá, làm 115 nghìn ha lúa bị ngập, khoảng 4000 ha hoa màu và hàng nghìn cây ăn quả chuẩn bị cho thu hoạch bị đổ, gẫy. Tuy nhiên, các đợt áp thấp nhiệt đới cùng bão gây mưa trên diện rộng đã góp phần giảm bớt tình trạng khô hạn ở các tỉnh phía Bắc và hiện nay lúa mùa đang trong thời kỳ phát triển tốt.

Lúa hè thu: Đến trung tuần tháng 8, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1074,1 nghìn ha lúa hè thu, bằng 93,7% cùng kỳ năm trước và chiếm 51,4% diện tích gieo cấy, trong đó các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 995 nghìn ha, bằng 97,5%. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, một số tỉnh có năng suất lúa hè thu đạt khá như: Đồng Tháp 47,8 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha so với vụ hè thu 2004; Cần Thơ 43,9 tạ/ha, tăng 2 tạ/ha; Hậu Giang 43 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết nắng hạn, năng suất của một số tỉnh giảm so với năm trước: Long An giảm 2,8 tạ/ha; Kiên Giang giảm 1,1 tạ/ha; Bạc Liêu giảm 1,2 tạ/ha, một số tỉnh khác diện tích giảm đáng kể nên sản lượng thu hoạch thấp hơn so với vụ hè thu 2004: Bình Định bằng 91,3%, Tây Ninh 89,3%, Phú Yên 91,6%, Khánh Hoà 45,8%.

Các cây trồng khác: Tiến độ gieo trồng và chăm sóc các loại cây hè thu khác nhìn chung nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước. Tính đến trung tuần tháng 8/2005, cả nước gieo trồng được 882,9 nghìn ha ngô, bằng 107,4%; 351,5 nghìn ha sắn, bằng 118,4%; 182,3 nghìn ha đỗ tương, bằng 116,3%; 231,8 nghìn ha lạc, bằng 106,6%; 618,3 nghìn ha rau đậu, bằng 99,1%.

Chăn nuôi: Trong tháng 8, chăn nuôi gia súc phát triển chậm, đàn trâu có xu hướng giảm; đàn bò tăng không đáng kể, chủ yếu tăng đàn bò thịt, đàn bò sữa phát triển chậm do năng suất thấp và giá sữa giảm. Riêng đàn lợn có tốc độ chu chuyển nhanh hơn nhờ giá thịt hơi đang ở mức cao. Cúm gia cầm vẫn xảy ra lẻ tẻ tại một số tỉnh nên tốc độ khôi phục còn chậm, hiện nay các địa phương đang tập trung cho công tác tiêm vaccin phòng cúm cho gia cầm.

  1. Lâm nghiệp

Thời tiết mưa nhiều trong tháng tạo thuận lợi cho công tác trồng rừng. Diện tích rừng trồng mới tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán tăng 3%; riêng sản lượng gỗ khai thác giảm 0,2%. Tính chung 8 tháng năm 2005, diện tích rừng trồng tập trung đạt xấp xỉ mức cùng kỳ năm trước, số cây trồng phân tán tăng 0,5% và sản lượng gỗ khai thác tăng 0,1%.

Công tác phòng, chống cháy rừng vẫn được các cấp, các ngành quan tâm thường xuyên, số vụ cháy và phá rừng trong tháng 8 đã giảm so với tháng trước, cả nước có 234,7 ha rừng bị thiệt hại, trong đó 126,9 ha bị cháy.

  1. Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 8 ước tính đạt 317 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 216,5 nghìn tấn, tăng 3,4%; tôm 51 nghìn tấn, tăng 11%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 139 nghìn tấn, tăng 5,7%, trong đó cá tăng 4%, tôm tăng 12,5%. Hoạt động khai thác tuy có bị ảnh hưởng của bão nhưng do các địa phương tích cực đóng mới thêm nhiều tàu, thuyền, đồng thời mở các lớp hướng dẫn phương pháp tiết kiệm chi phí đi biển cho ngư dân nhằm khắc phục sự tăng giá của xăng, dầu nên sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 8 đạt 178 nghìn tấn, tăng 3,1%, trong đó khai thác biển 161,1 nghìn tấn, tăng 3,3%.

Tính chung 8 tháng năm nay, sản lượng thuỷ sản đạt 2146,5 nghìn tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 784,8 nghìn tấn, tăng 14%; khai thác 1361,7 nghìn tấn, tăng 2,8%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 8 tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 8 ước tính tăng 18,1%, trong đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 9% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý tăng 12,8%; doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý tăng 0,9%); khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 23,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,4% (trong đó dầu mỏ và khí đốt giảm 10,9%, các ngành khác tăng 32,6%).

Trong các sản phẩm công nghiệp khai thác mỏ, than sạch khai thác tăng 28,2% so với tháng 8 năm trước, trong khi các sản phẩm ngành dầu khí tiếp tục giảm: Dầu thô khai thác giảm 10,3%, khí đốt thiên nhiên giảm 14,1%. Một số sản phẩm công nghiệp chế biến chủ yếu tháng 8 tăng cao so với mức tăng chung, chủ yếu do sản xuất và tiêu thụ trên thị trường trong nước tăng như: Giấy tăng 22%, thuốc trừ sâu tăng 18,9%, phân hoá học tăng 34,7%, gạch lát tăng 23%, thép cán tăng 18,2%, động cơ điện tăng 20,8%, quạt điện tăng 21,4%, ô tô lắp ráp tăng 60,8%. Các sản phẩm như thuỷ sản chế biến, thực phẩm chế biến, vải lụa, quần áo may sẵn, xi măng, xe máy lắp ráp, điện sản xuất tăng phổ biến từ 10-15%. Đáng lưu ý, trong tháng này bên cạnh các sản phẩm dầu khí còn một số sản phẩm giảm mạnh so với cùng kỳ như: Máy biến thế giảm 21,4%, ti vi lắp ráp giảm 22,8%, xe đạp giảm 55,5%.

Tính chung 8 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 9,6% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý tăng 13,7%; doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý tăng 0,8%); khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 23,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,7% (trong đó dầu mỏ và khí đốt giảm 9,3%, các ngành khác tăng 25,8%).

Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng cho nền kinh tế và xuất khẩu duy trì tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung, đã góp phần chính trong tăng công nghiệp 8 tháng như: Than sạch khai thác tăng 23,9%; thuỷ sản chế biến tăng 17,6%; phân hoá học tăng 48,7%; thuốc trừ sâu tăng 16,6%, thép cán tăng 16,5%; máy công cụ tăng 27,4%; động cơ điện tăng 18%; ô tô lắp ráp tăng 42,9%… Bên cạnh đó, do giá nhập khẩu một số vật tư, nguyên liệu đầu vào như sắt thép, xăng dầu, nhựa, giấy… tăng cao và biến động phức tạp, cũng như khó khăn về thị trường tiêu thụ, nhất là thị trường xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ… nên một số sản phẩm công nghiệp tăng thấp hoặc chưa đạt mức sản xuất của cùng kỳ năm trước như: Khí đốt thiên nhiên tăng 10%; quần áo may sẵn tăng 10,5%, giấy bìa tăng 9,7%, xi măng tăng 13,7%; quạt điện dân dụng tăng 12,6%; đặc biệt lưu ý trong 8 tháng năm nay, dầu thô khai thác chỉ bằng 89% mức sản xuất của 8 tháng 2004, ga hoá lỏng bằng 97,5%; đường mật các loại chỉ bằng 76,6%; vải lụa bằng 97,3%; động cơ diezen bằng 78,5%, máy biến thế bằng 90,9%, ti vi lắp ráp bằng 90,5%, xe đạp hoàn chỉnh bằng 96,3%…

Một số địa phương với qui mô công nghiệp lớn có tốc độ tăng trưởng cao, quyết định tốc độ tăng của công nghiệp 8 tháng năm 2005 là: Hải Phòng tăng 17,1%, Vĩnh Phúc tăng 38,1%, Hà Tây tăng 21,4%, Hải Dương tăng 29,3%; Quảng Ninh tăng 16,9%, Đà Nẵng tăng 16,2%, Khánh Hoà tăng 16,6%, Bình Dương tăng 33,8%, Đồng Nai tăng 21,8%, Cần Thơ tăng 27,4%; riêng thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có quy mô công nghiệp lớn nhất cả nước (chiếm gần 23% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước) tăng 13,7%, Hà Nội (chiếm khoảng 7,7% cả nước) tăng 14,9%; Bà Rịa -Vũng Tàu (chiếm khoảng 8,5% cả nước) chỉ tăng 10,9%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 8 tháng đầu năm 2005 ước thực hiện 36542,7 tỷ đồng, đạt 70,4% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 14352,8 tỷ đồng, đạt 72,1% kế hoạch năm, vốn do địa phương quản lý 22189,9 tỷ đồng, đạt 69,3%.

Trong vốn trung ương quản lý, Bộ Giao thông Vận tải có tỷ trọng vốn lớn, chiếm 30,3% vốn thực hiện 8 tháng, đạt 75,6% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chiếm 9,6% và đạt 75,2%; Bộ Xây dựng chiếm 6,7% và đạt 82,2%. Các Bộ đạt tỷ lệ thực hiện kế hoạch vốn 2005 tương đối thấp là Bộ Giáo dục Đào tạo đạt 54,1% và Bộ Y tế 48,7%.

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung ở các địa phương trong 8 tháng phổ biến đạt mức trên 60% kế hoạch năm, chỉ có một vài địa phương có tỷ lệ thực hiện trên 73% như Khánh Hoà 73,4%, Quảng Ninh 78%, Lào Cai 78,9%… Nhìn chung, tỷ lệ thực hiện vốn đầu tư địa phương quản lý 8 tháng thấp hơn tỷ lệ thực hiện của vốn trung ương quản lý, chủ yếu do thực hiện vốn của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đạt thấp: Hà Nội (chiếm khoảng 10% kế hoạch vốn của địa phương thực hiện trong 8 tháng) mới đạt 49% kế hoạch năm và của thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 29,4%) mới đạt 57,7%.

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến 22/8/2005 đã có 490 dự án mới được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 2237,4 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,9% về số dự án và tăng 79,6% về số vốn đăng ký. Qui mô bình quân một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới trong 8 tháng năm nay là 4,57 triệu USD, trong đó bình quân một dự án khu vực ngành công nghiệp và xây dựng 3,26 triệu USD, dịch vụ 10,5 triệu USD và nông lâm nghiêp, thuỷ sản 1,79 triệu USD. Số dự án thuộc ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 70,2% tổng số, trong khi số vốn đăng ký chỉ chiếm 50,1%; các con số tương ứng của khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản là 9,8% và 3,8% ; dịch vụ là 20% và 46,1%.

Theo địa phương, thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu về số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép trong 8 tháng, với 148 dự án (chiếm 30,2% tổng số dự án), nhưng số vốn đăng ký chỉ chiếm 8,6% với 193,3 triệu USD, bình quân một dự án khoảng 1,3 triệu USD, thấp xa so với qui mô bình quân một dự án 17,69 triệu USD tại Hà Nội. Trong 8 tháng, Hà Nội có 51 dự án với số vốn đăng ký 902,4 triệu USD; Đồng Nai 57 dự án với 344 triệu USD; Bình Dương 91 dự án với 212,6 triệu USD; Hải Phòng 12 dự án với 112,5 triệu USD…

Tính từ đầu năm đến 22/8/2005, có 35 nước và vùng lãnh thổ được cấp phép đầu tư mới vào Việt Nam. Các nước, vùng lãnh thổ có nhiều dự án đầu tư vào Việt Nam trong 8 tháng với số vốn đăng ký trên 100 triệu USD là: Đài Loan 95 dự án với 231 triệu USD, chiếm 19,4% về số dự án và 10,3% về vốn; Hàn Quốc 118 dự án với 163,8 triệu USD, chiếm 24,1% về số dự án và 7,3% về vốn; Nhật Bản 51 dự án với 185 triệu USD, chiếm 10,4% về số dự án và 8,3% về vốn; riêng Lúc-xăm-bua chỉ có 2 dự án với 770,5 triệu USD, chiếm 42% về số vốn đăng ký.

Cũng trong 8 tháng năm nay có 328 lượt dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được tăng vốn 1266,3 triệu USD, trong đó các dự án ngành công nghiệp và xây dựng tăng 1032,2 triệu USD;  nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 111,5 triệu USD và dịch vụ tăng 122,7 triệu USD.

  1. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội theo giá thực tế 8 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 302,63 nghìn tỷ đồng, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước đạt 40 nghìn tỷ đồng, bằng cùng kỳ năm trước; kinh tế tập thể đạt 3,02 nghìn tỷ đồng, tăng 22%; kinh tế cá thể 185,6 nghìn tỷ đồng (chiếm 61,3% tổng mức) tăng 18,6%; khu vực kinh tế tư nhân đạt 61,7 nghìn tỷ đồng, tăng 34,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 12,2 nghìn tỷ đồng tăng 32,1%. Trong tổng mức, ngành thương nghiệp chiếm 77,5% và tăng 17,2%; khách sạn nhà hàng, chiếm 12,9%, tăng 29,7%; dịch vụ chiếm 8,9%, tăng 22,8%; du lịch chiếm 0,7%, tăng 11,2%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 8 tháng đầu năm 2005 của Hà Nội  ước tính đạt 27,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,1% tổng mức, tăng 19,1%; thành phố Hồ Chí Minh  đạt 70,56 nghìn tỷ đồng, chiếm 22,4%, tăng 19,6%.

Giá tiêu dùng tháng 8/2005 so với tháng trước tăng 0,4 %, trong đó cả 10 nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng với các mức độ khác nhau. Giá nhóm phương tiện đi lại, bưu điện có mức tăng cao nhất (+0,9%), do ảnh hưởng của giá xăng dầu trên thế giới liên tục tăng cao, lên mức kỷ lục 67 USD/thùng ngày 13/8/2005, đã tác động trực tiếp đến giá tiêu dùng trong nước của nhóm hàng này: Giá xăng dầu bán lẻ trong nước từ đầu năm đến nay đã tăng đến lần thứ 3 vào ngày 17/8/2005, định hướng tăng đồng loạt các loại từ 1000 đến 1200 đồng/lít. Đáng lưu ý, cũng trong nhóm này giá bưu chính viễn thông tiếp tục giảm 0,7% so với tháng 7/2005, tuy nhiên với tỷ trọng nhỏ, nên ảnh hưởng vào nhóm rất hạn chế. Giá nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,3% so với tháng trước (giá lương thực không đổi, nhưng giá thực phẩm tăng 0,4%); các nhóm hàng tiêu dùng và dịch vụ khác tăng phổ biến ở mức 0,4-0,6% (trừ văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,1% và dược phẩm, y tế tăng 0,2%).

So với tháng 12/2004, giá tiêu dùng tháng 8/2005 tăng 6%, trong đó  giá của tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng. Một số nhóm giá tăng cao, đóng góp chính vào tăng giá tiêu dùng so với tháng 12/2004 như giá lương thực, thực phẩm tăng 8%; nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 5,8%; nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 5,4%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,2%;  đồ uống và thuốc lá tăng 3,7%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,9%… Giá tiêu dùng tháng 8/2005 tăng 7,3% so với tháng 8/2004.

Giá vàng tháng 8/2005 tăng nhẹ so với tháng trước (+0,3%), giảm 3% so với tháng 12/2004 và tăng 8,6% so với tháng 8/2004. Giá đô la Mỹ tiếp tục xu hướng tháng trước là tăng cả ở ba chỉ số: giá USD tháng 8 tăng nhẹ so với tháng trước (+0,1%); tăng 0,6% so với tháng 12/2004 và tăng 0,8% so với tháng 8/2004.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 8 tháng năm 2005 ước tính đạt 44,55 tỷ đôla, tăng 19,4% so cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 20,35 tỷ USD, tăng 18,7% và nhập khẩu đạt 24,2 tỷ USD, tăng 20%. Khoảng cách giữa tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng nhập khẩu được thu hẹp, nên nhập siêu 8 tháng giảm, còn 3,84 tỷ USD, bằng 18,9% kim ngạch xuất khẩu.

Tổng giá trị xuất khẩu thực hiện trong tháng 7 đạt 2,77 tỷ USD, ước tính tháng 8 đạt 2,8 tỷ USD, tăng nhẹ so với tháng 7. Tính chung 8 tháng năm nay, giá trị xuất khẩu đạt 20,35 tỷ USD, tăng 18,7% so với 8 tháng năm trước, trong đó xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước 8,9 tỷ USD, tăng 12,4%; xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 6,87 tỷ USD, tăng 20,6% và xuất khẩu dầu thô 4,58 tỷ USD, tăng 29,6%.

Xuất khẩu dầu thô 8 tháng tăng thêm 1,45 tỷ USD so với cùng kỳ, đóng góp tới 32,7% vào tăng giá trị xuất khẩu, chủ yếu do giá dầu thô trên thị trường quốc tế liên tục tăng và đã lên mức kỷ lục 67 USD ngày 13/8/2005, riêng yếu tố giá đã làm tăng thêm 1,9 tỷ USD, bù lại lượng dầu thô xuất khẩu giảm 11,3%. Xuất khẩu gạo 1,05 tỷ USD, tăng 43,4% so với 8 tháng năm 2004, tương đương với lượng xuất khẩu đạt 3,82 triệu tấn, hoàn thành 95,5% kế hoạch đề ra đầu năm 2005; sản phẩm gỗ 966 triệu USD, tăng 47,3%; hàng điện tử, máy tính 863 triệu USD, tăng 33%; than đá 414 triệu USD, tăng 91% (lượng xuất khẩu than tăng gần 40%). Các mặt hàng chủ lực khác bắt đầu hồi phục như giày dép đạt xấp xỉ 2 tỷ USD, tăng 10,5%; thủy sản 1,63 tỷ USD, tăng 10,3%, tăng nhanh nhờ tôm vào vụ thụ hoạch; dệt may 3,03 tỷ USD, tăng 0,7%. Tuy nhiên trong 8 tháng, lượng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản như cà phê, hạt tiêu, điều và lạc giảm, do vậy giá trị xuất khẩu tương ứng (trừ hạt điều giá tăng nhanh hơn) đều giảm sút so với 8 tháng năm trước (cà phê giảm 5,7%, hạt tiêu giảm 11,5%, chè giảm 17,7%). Hàng công nghiệp giảm mạnh là xe đạp và phụ tùng giảm 34,9%, do tác động của luật chống phá giá của EU; đồ chơi trẻ em giảm 10,8% do mẫu mã mặt hàng chưa hấp dẫn, thu hút khách hàng…

Thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam 7 tháng vẫn ổn định và tăng so với cùng kỳ, nhất là các thị trường lớn và xuất hiện nhiều thị trường mới ở khu vực Châu Phi. Thị trường Hoa kỳ 3,16 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 18% tổng trị giá xuất khẩu, tăng 16%, dẫn đầu 7 trong số 18 mặt hàng chủ yếu của Việt Nam có giá trị xuất khẩu trên 100 triệu USD. Thị trường Nhật Bản 2,464 tỷ đôla, tăng 33%, trong đó thuỷ sản tăng 9,2%, dầu thô tăng 206%, dệt may 16,8%… Thị trường Ôxtrâylia 1,4 tỷ USD, tăng 477 triệu USD so với 7 tháng năm trước, trong đó dầu thô tăng 58%, hải sản tăng 33%…  Thị trường EU khoảng 3 tỷ USD, tăng nhẹ (+1,2%). Đáng lưu ý là một số thị trường lớn và tiềm năng thuộc khu vực này trong 7 tháng lại giảm như Đức, Anh, Hà Lan… Thị trường EU giảm mạnh ở các mặt hàng như giầy dép (đạt 1,02 tỷ đôla, giảm 87 triệu đôla), cà phê đạt 203 triệu đôla, giảm 81 triệu đôla…

Nhập khẩu:

Giá trị nhập khẩu 8 tháng năm 2005 đạt 24,2 tỷ USD, tăng 20% so với 8 tháng năm 2004, bằng 66,3% so kế hoạch cả năm. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước 15,6 tỷ USD, tăng 18,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 8,64 tỷ USD, tăng 22,8%. Tính đến nay, bình quân mỗi tháng nhập khẩu 3,024 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu tăng chủ yếu do giá nhập khẩu một số mặt hàng có giá trị lớn vẫn tăng hoặc đứng ở mức cao. Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu ước tính đạt 3,26 tỷ USD, tăng 43,9%; sắt thép 2,04 tỷ USD, tăng 34,3%; điện tử, máy tính và linh kiện 1,05 tỷ USD, tăng 34,7%; vải 1,52 tỷ USD, tăng 18,5%; chất dẻo tăng 31,1%; hoá chất tăng 34,5%… Tuy nhiên, do ảnh hưởng của giá nên lượng nhập khẩu không tăng tương ứng hoặc giảm so với cùng kỳ như xăng dầu tăng 6%, sắt thép tăng 14%, chất dẻo tăng 4,1%…

Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 3,3 tỷ USD, giảm nhẹ (-0,5%); nguyên phụ liệu dệt may 1,5 tỷ USD, giảm 0,8%; giấy giảm 19,4%; bông giảm 14,1%; phân bón giảm 3,5% (lượng giảm 21,3%)… Riêng mặt hàng xe máy nhập khẩu 354 triệu USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ, trong đó xe máy nguyên chiếc nhập khẩu tăng 125,7% (số lượng nhập 26,2 nghìn chiếc, bằng 3,6 lần cùng kỳ).

Vận chuyển hành khách 8 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 729,3 triệu lượt hành khách và 32 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,8% về lượt hành khách và tăng 11,6% về lượt hành khách.km, trong đó vận tải trung ương thực hiện 13,6 triệu hành khách và 10,3 tỷ hành khách.km, tăng 9,8% về số khách và tăng 22,1% về số khách.km; các con số tương ứng của vận tải hành khách địa phương thấp hơn: tăng 4,7% về số khách và tăng 7,2% về số khách.km. Vận tải hành khách địa phương thực hiện 8 tháng thấp hơn mức tăng 7 tháng, do trong tháng 8 nhu cầu đi lại của học sinh và du lịch của dân cư giảm.

Trong các ngành vận tải hành khách, tăng chủ yếu do vận tải hành khách bằng đường bộ và hàng không: Vận tải bằng đường bộ 8 tháng chiếm tới  83,5% về số khách, tăng 5,5% và chiếm 61% về số khách.km, tăng 7,5%; vận tải hành khách bằng hàng không 8 tháng ước đạt 4,24 triệu khách, tăng 25,3% (trong đó, khách nước ngoài đến tăng 30,5%) và tăng 29,6% về số khách.km, do tăng hệ số sử dụng ghế và thị phần vận chuyển khách.

Vận chuyển hàng hoá  8 tháng năm 2005 ước tính đạt 183,9 triệu tấn và 50,5 tỷ tấn.km, tăng 5,7% về tấn và tăng 8,2% về tấn.km, trong đó vận chuyển hàng hoá tuyến ngoài nước và do vận tải trung ương thực hiện đều tăng cao hơn mức tăng chung cả về tấn và về tấn km. Vận tải hàng hoá bằng đường biển chiếm khoảng 10% về tấn, tăng 6,6% và chiếm 76,7% về tấn.km, tăng 9,8%; vận tải hàng hoá bằng đường sắt, đường sông cũng như luân chuyển hàng hoá bằng đường bộ  đều có tốc độ tăng thấp hơn mức tăng chung.

Khách quốc tế đến Việt Nam 8 tháng năm 2005 ước tính đạt 2,32 triệu khách, tăng 22,7% so với 8 tháng năm 2004, trong đó khách đến với mục đích du lịch tăng 34,6%; thăm thân nhân tăng 13,9%; đến với mục đích khác tăng 27,9%; riêng khách đến vì công việc giảm 8,6%.

Khách đến Việt Nam từ Mỹ 230,9 nghìn lượt người, tăng 23,2%; từ Hàn Quốc 211,5 nghìn lượt người, tăng 57,7%; từ Đài Loan 190,3 nghìn lượt người, tăng 14,6%, từ Nhật Bản 194,3 nghìn lượt người, tăng 21,1%; từ Cam-pu-chia 121,5 nghìn lượt người, tăng 132,6%…; riêng khách đến từ CHND Trung Hoa nhiều nhất (527,1 nghìn lượt người), nhưng chỉ tăng 1,4% so với 8 tháng năm trước.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước 8 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 72,7% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa 68,5%, thu dầu thô 92,5%. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa đều đạt cao hơn 67% kế hoạch năm như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 67,8% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 68,6%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 69,6%; các khoản thu về nhà đất 79,6%; Riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước 65,3% kế hoạch năm. Thu từ dầu thô 8 tháng tăng khá cao so với cùng kỳ (+57,4%), do giá dầu thô vẫn liên tục tăng và giữ ở mức cao so với giá khi lập dự toán. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 64,3% dự toán cả năm, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu 71,3%; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu (đã trừ hoàn thuế giá trị gia tăng) mới đạt 55,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 8 tháng ước tính đạt 66% dự toán cả năm, (thấp hơn 6,7 điểm phần trăm so với mức hoàn thành kế hoạch thu), tuy đã đảm bảo được 67% kế hoạch chi  thường xuyên cả năm, nhưng chi cho đầu tư phát triển mới đạt 62,7% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 62,3%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt từ 66% trở lên so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 66,4% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 67,3%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 68,8%; chi quản lý hành chính 67,7%. Bội chi ngân sách Nhà nước 8 tháng bằng 45,7% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó bù đắp bằng nguồn vay trong nước chiếm 67,8% và vay nước ngoài  chiếm 32,2%.

  1. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng 8 có 40,6 nghìn hộ với 19,6 vạn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,3% tổng số hộ và nhân khẩu nông nghiệp. Tình hình thiếu đói trong tháng đã giảm đáng kể so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. So với thời điểm cuối tháng 7/2005, số hộ thiếu đói giảm 24,7%; số nhân khẩu thiếu đói giảm 23%. So với cùng kỳ năm trước, số hộ thiếu đói giảm 11,6% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 15,5%. Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 19,5 nghìn tấn lương thực và trên 11 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh

Trong tháng 8/2005 có 6,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 4,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 543 trường hợp mắc bệnh thương hàn và 534 trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút. Tính từ đầu năm đến ngày 19/8, có 49,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 20,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó tử vong 18 người; 2,6 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn, trong đó tử vong 20 người và 3,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, trong đó tử vong 5 người. So với cùng kỳ năm trước, số người mắc bệnh sốt rét giảm 29%; sốt xuất huyết giảm 50,7%; riêng số trường hợp mắc bệnh thương hàn tăng 20,3%. Đáng lưu ý là trong tháng đã có 200 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút, trong đó 11 trường hợp đã tử vong. Đây là loại bệnh có tỷ lệ tử vong cao, trong 8 tháng đầu năm nay đã có 766 trường hợp mắc bệnh, trong đó 27 trường hợp đã tử vong.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng đã xảy ra 9 vụ với 153 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 4 người đã tử vong. Từ đầu năm đến nay, đã có trên 2,2 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 47 người đã tử vong.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện thêm khoảng 1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/8/2005 lên 98,3 nghìn người, trong đó có 16 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 9,1 nghìn người đã chết do AIDS.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 7/2005 đã  xảy ra trên 1,1 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết khoảng 900 người và bị thương 950 người. So với tháng 6/2005, số vụ tai nạn giảm 4,5%; số người chết giảm 7,8% và số người bị thương giảm 0,7%. So với tháng 7/2004, số vụ tai nạn giao thông giảm 12,6%,  số người bị thương giảm 19,8%, riêng số người chết tăng 1,7%. Tính chung 7 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8,8 nghìn vụ tai nạn, làm chết 6,8 nghìn người và làm bị thương 7,5 nghìn người. Bình quân 1 ngày trong 7 tháng đã xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 35 người. So với cùng kỳ năm 2004, số vụ tai nạn xảy ra 7 tháng qua giảm 18,4%; số người chết giảm 5,5% và số người bị thương giảm 24,1%.

Thiệt hại do bão, lũ, lụt

Từ giữa tháng 7 đến 15/8 đã xảy ra bão, mưa to, gió lốc tại 24 tỉnh, thành phố trong cả nước gây thiệt hại về người và tài sản, trong đó bão số 2 và số 3 đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống dân cư các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá và Nghệ An. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 26 người chết và khoảng 20 người bị thương, trong đó riêng ở Nghệ An 15 người bị chết. Mưa, bão cũng đã làm trên 3 nghìn mét đê bị vỡ, cuốn trôi; 18,7 nghìn m3 đất đê bị sạt lở; 61,2 nghìn ha lúa bị ngập, hư hại; gần 1 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và nhiều công trình kinh tế – xã hội bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 425 tỷ đồng.