I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Các địa phương phía nam đang khẩn trương thu hoạch lúa đông xuân cuối vụ, riêng đồng bằng sông Cửu Long đã cơ bản hoàn thành. Kết quả thu hoạch cho thấy năng suất trà lúa đầu của các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long tương đối cao, nhưng trà lúa muộn đạt thấp, chủ yếu do gieo cấy trễ và ở nhiều địa phương lúa bị sâu bệnh nặng. Tính chung năng suất lúa đông xuân vụ này ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt khoảng 51 tạ/ha và do vậy sản lượng có khả năng sẽ thấp hơn mức 8,1 triệu tấn dự kiến ban đầu.
Các địa phương phía bắc đã kết thúc gieo cấy lúa đông xuân với tổng diện tích gieo cấy đạt 1172,6 nghìn ha, tăng 10,2 nghìn ha so với vụ đông xuân trước. Đến nay lúa đã trổ xong, một số địa phương đang bắt đầu thu hoạch trà lúa sớm. Theo đánh giá ban đầu, nếu từ nay đến cuối vụ thời tiết tiếp tục diễn biến bình thường thì năng suất bình quân lúa đông xuân của các địa phương phía bắc có thể đạt trên 53 tạ/ha, cao hơn năng suất bình quân của vụ đông xuân trước.
Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, đến trung tuần tháng 5 các địa phương phía nam còn gieo cấy được 1240 nghìn ha lúa hè thu, bằng 93,4% so cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1105 nghìn ha, bằng 94,1%. Nhìn chung lúa hè thu đang sinh trưởng và phát triển trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Một số tỉnh như Sóc Trăng, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long đã bắt đầu thu hoạch trà lúa hè thu sớm.
Gieo trồng cây công nghiệp hàng năm nhanh hơn cùng kỳ năm trước. Đến 15/5, gieo trồng lạc đã đạt 167,5 nghìn ha, tăng 1,1%; đậu tương 55,1 nghìn ha, tăng 20,3%; thuốc lá 22,7 nghìn ha, tăng 20,1%; mía 21,3 nghìn ha, tăng 52,1%. Gieo trồng ngô vụ đông mới đạt 443,6 nghìn ha, bằng 93,4% cùng kỳ năm trước. Gieo trồng khoai lang cũng chỉ đạt 191,8 nghìn ha, bằng 97,1%.
II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 5 ước tính tăng 12,8 so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,7%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 16,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng 11,9%. Nếu so với các tháng trước thì sản xuất công nghiệp tháng này đã tăng chậm lại (Tháng 3 tăng 15,2%; tháng 4 tăng 14%).
Sản xuất công nghiệp tháng này tăng trưởng không cao, trước hết là do sự cố cháy nổ tàu chở dầu Ba Vì nên một số ngày trong tháng đã phải hạn chế việc khai thác dầu thô; mặt khác, xuất khẩu một số mặt hàng công nghiệp như giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ điện tử và máy tính bị giảm sút do thiếu thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, việc sản xuất và tiêu thụ một số sản phẩm khác trên thị trường trong nước cũng gặp khó khăn nên mức tăng trưởng tháng này đạt thấp, thậm chí còn giảm sút so với tháng 5/2000 như: Sản xuất sữa hộp chỉ tăng 4,5%; bia tăng 3,7%; quần áo dệt kim tăng 3,8%; động cơ điện giảm 4,2%; máy công cụ giảm 36,8%; đường mật giảm 46,3%.
Tuy nhiên, trong tháng 5 sản xuất của một số ngành công nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao so với tháng 5/2000 như: Điện tăng 17,2%; thép cán tăng 26,7%; xi măng tăng 18,2%; giấy bìa tăng 17,4%; vải lụa tăng 14%; quần áo may sẵn tăng 19,6%; xà phòng và bột giặt tăng 18,4%; quạt điện dân dụng tăng 16,2%; lắp ráp ô tô tăng 29,3%; xe đạp gấp 9,1 lần.
Do tháng 5 tăng trưởng chậm lại nên tính chung 5 tháng đầu năm sản xuất công nghiệp chỉ tăng 14% so với 5 tháng đầu năm 2000, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,7% (Trung ương quản lý tăng 11,8%; địa phương quản lý tăng 8,5%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 17%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng 15,9% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 21,4%; các doanh nghiệp khác tăng 13,6%).
Tình hình sản xuất công nghiệp tháng 5 cho thấy, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đang phát sinh thêm nhiều khó khăn, nhất là khó khăn về thị trường xuất khẩu. Nếu các cấp, các ngành và các doanh nghiệp không có các biện pháp đồng bộ và hiệu quả kịp thời xử lý những khó khăn này thì tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp trong những tháng tới sẽ chậm lại và cả năm khó có thể đạt được tốc độ tăng 14% mà Quốc hội đã thông qua đầu năm.
III. ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG
Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 5 tháng đầu năm 2001 ước tính thực hiện được 7194,7 tỷ đồng, tăng 39,7% so với cùng kỳ năm trước và đạt 35,1% kế hoạch năm, trong đó vốn trung ương quản lý thực hiện 5015,9 tỷ đồng đạt 37,2%; vốn địa phương quản lý 2178,8 tỷ đồng, đạt 31%.
Từ đầu năm đến nay nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Thông xe kỹ thuật toàn bộ tuyến đường bộ Hà Nội-Lạng Sơn và đoạn Thường Tín-Cầu Giẽ; hoàn thành nút giao thông phía nam cầu Chương Dương; cầu cảng Cần Thơ 10 vạn tấn và các cầu Sông Phan, Phú Quới, Lộc Hà, Ngân Sơn, Sa Đéc; hoàn thành và hoà vào mạng lưới điện quốc gia 6 tổ máy của các nhà máy thuỷ điện Yaly, thuỷ điện Hàm Thuận, thuỷ điện Đa Mi và nhiệt điện Phú Mỹ với tổng công suất 1375 MW. Ngoài ra, còn đắp được 2,1 triệu m3 đê, đạt 90% kế hoạch năm; trồng 12,6 vạn ha rừng, đạt 60% kế hoạch năm, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, 5 tháng đầu năm đã cấp giấy phép cho 148 dự án với tổng số vốn đăng ký 467,2 triệu USD. So với 5 tháng đầu năm 2000 tăng 19,4% về số dự án và tăng 44,2% về số vốn đăng ký. Các dự án được cấp giấy phép trong 5 tháng vừa qua tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 112 dự án và 395,8 triệu USD, chiếm 75,7% về số dự án và chiếm 84,7% về số vốn đăng ký. Theo địa phương thì các dự án được cấp giấy phép đầu tư tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ như: Thành phố Hồ Chí Minh 55 dự án với số vốn đăng ký 196,6 triệu USD; Bình Dương 31 dự án với 47,8 triệu USD; Đồng Nai 16 dự án với 71,7 triệu USD. Nếu theo đối tác thì chủ yếu là các nước châu Á, trong đó Đài Loan 39 dự án với 47,5 triệu USD; Hàn Quốc 21 dự án với 29,8 triệu USD; Trung Quốc 16 dự án và 30,3 triệu USD.
IV. VẬN TẢI
Vận chuyển hành khách 5 tháng đầu năm ước tính đạt 357,6 triệu lượt người và 12104,4 triệu lượt người.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 5,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,8% về khối lượng luân chuyển; Vận chuyển hàng hoá 5 tháng ước tính đạt 57,7 triệu tấn và 13491,3 triệu tấn.km, tăng 5,2% về tấn và tăng 8,5% về tấn.km. Nhìn chung, hoạt động vận tải vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng ổn định, đảm bảo được nhu cầu của sản xuất và đi lại của dân cư. Tuy nhiên, tình trạng ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn và tai nạn giao thông vẫn tiếp tục gia tăng và đang là một trong những tồn tại lớn cần sớm được khắc phục.
V. THƯƠNG MẠI VÀ GIÁ CẢ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 5 tháng ước tính đạt 95 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 17,5% và tăng 8,2%; khu vực kinh tế cá thể chiếm 65,5% và tăng 6,7%; các khu vực còn lại (Tập thể, tư nhân, hỗn hợp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) chiếm 17% và tăng 15,3%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2001 giảm 0,2% so với tháng trước, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm và phương tiện đi lại, bưu điện giảm 0,3%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,1%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại bằng hoặc chỉ tăng 0,1-0,2%. Tính chung 5 tháng , chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,7%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm giảm 1,5% (Lương thực giảm 4,9%; thực phẩm giảm 0,3%); phương tiện đi lại, bưu điện giảm 1%; dược phẩm, y tế giữ mức ổn định; các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,4-0,6%.
Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm ước tính đạt 6166 triệu USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 3373 triệu USD, tăng 19%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 2793 triệu USD, tăng 12,9%. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 tháng/2001 tăng trưởng không cao chủ yếu do giá của nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới liên tục giảm sút hoặc đứng ở mức thấp nên một số mặt hàng xuất khẩu 5 tháng vừa qua của nước ta tuy tăng cao về lượng nhưng trị giá xuất khẩu thu được lại giảm: Hạt tiêu tăng 44,6% về lượng nhưng trị giá giảm 45,6%; hai chỉ tiêu tương ứng của cà phê là tăng 47,8% và giảm 17,5%; hạt điều tăng 13,1% và giảm 14,3%. Bên cạnh đó, còn có một số mặt hàng khác lại gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu nên trị giá xuất khẩu cũng giảm như giày dép giảm 3,3%; điện tử và máy tính giảm 15,9%, hàng thủ công mỹ nghệ giảm 15,4%.
Kim ngạch nhập khẩu 5 tháng ước tính đạt 6480 triệu USD, tăng 9,0% so với cùng năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 4657 triệu USD, tăng 6,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 1823 triệu USD, tăng 15,7%. Những mặt hàng nhập khẩu tăng nhiều so với cùng kỳ năm trước cả về lượng và giá trị là: Sắt thép tăng 35,2% về lượng và tăng 24,1% về giá trị; ô tô gấp 2,6 lần và gấp 2,1 lần; xe máy gấp 2,1 lần và tăng 12,5%; sợi dệt tăng 18,6% và tăng 11,2%; bông tăng 11,4% và tăng 15,1%. Trị giá nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 34,9%; hoá chất tăng 29,1%; sản phẩm hoá chất tăng 17,5%. Tuy nhiên, vẫn có một số mặt hàng trị giá nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng giảm 2,2%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 13,8%; vải giảm 22,2%; thuốc trừ sâu giảm 14,3%.
Nhập siêu 5 tháng 314 triệu USD, bằng 5,1% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1284 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 970 triệu USD.
VI. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Tổng thu ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm ước tính đạt 44,8% dự toán cả năm và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu thuế và phí nội địa chiếm 97,3%, đạt 45,2% và tăng 9,1%. Số thu 5 tháng so với dự toán cả năm của hầu hết các khoản thu lớn đều đã đạt tỷ lệ tương đối cao: Thu từ kinh tế Nhà nước đạt 39,1%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 54,7%; thuế xuất nhập khẩu đạt 40,9%; thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 38,8%.
Tổng số chi ngân sách 5 tháng ước tính đạt 36,2% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 25,5%(*); chi trả nợ và viện trợ đạt 36,2%; chi thường xuyên đạt 42,9% (Chi giáo dục và đào tạo đạt 42,9%; chi y tế đạt 43,3%; chi khoa học công nghệ và môi trường đạt 43,1%; chi lương hưu và đảm bảo xã hội đạt 42,4%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 43,4%). Riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản tháng 5 tuy đã tăng 22,7% so với tháng 4 nhưng tính chung 5 tháng mới đạt 24,9%(*) dự toán cả năm, chủ yếu do công tác chuẩn bị dự án đầu tư và việc tuân thủ các quy định hiện hành về rút vốn đầu tư chưa làm tốt nên giải ngân vốn chậm.
Bội chi ngân sách 5 tháng bằng 8,5% tổng số thu, bằng 7,8% tổng số chi và bằng 11% tổng mức dự toán bội chi cả năm. Số bội chi này được bù đắp bằng nguồn vay, trong đó vay trong nước bù đắp 90,2%; còn lại 9,8% bù đắp bằng nguồn vay ngoài nước.

VII. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Thiếu đói giáp hạt
Tình hình thiếu đói giáp hạt trong nông thôn tuy vẫn còn xảy ra ở một số địa phương, nhưng nhìn chung thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của 30 tỉnh, thành phố thì tháng 4 là tháng thiếu đói xảy ra nhiều nhất với 253 nghìn hộ và 1,167 triệu nhân khẩu nhưng cũng chỉ bằng 70% cả về số hộ cũng như về số nhân khẩu của tháng 4/2000. Tháng 5 tình hình thiếu đói đã giảm xuống. Tại thời điểm 18/5/2001, số hộ thiếu đói chỉ còn 209 nghìn hộ, chiếm 1,66% tổng số hộ nông nghiệp với 994 nghìn nhân khẩu, chiếm 1,7% tổng số nhân khẩu nông nghiệp. Thiếu đói xảy ra chủ yếu ở các tỉnh thuộc các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Từ đầu năm đến nay, các địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói 3.503 tấn lương thực và 12,4 tỷ đồng.

2. Tình hình dịch bệnh

Tình hình dịch bệnh trong tháng 5-2001 có chiều hướng tăng hơn tháng trước. Theo số liệu của 12 tỉnh và thành phố, trong tháng 5-2001 có 1102 người mắc bệnh thương hàn, tăng 318 người so với tháng 4/2001; số người bị sốt rét của 41 tỉnh, thành phố là 23624 người, tăng 6382 người; sốt xuất huyết ở 24 tỉnh, thành phố là 1146 người, tăng 512 người. Trước tình hình này, Bộ Y tế đã cử nhiều đoàn chống dịch của Bộ và Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đến hỗ trợ các địa phương triển khai các biện pháp chống dịch và tổ chức tiêm phòng bổ sung mũi sởi thứ 2 cho các tỉnh có dịch. Ngoài ra, Bộ Y tế còn hỗ trợ cho Hà Giang 50 triệu đồng, Lào Cai 30 triệu đồng để thực hiện công tác chống dịch.
Cũng trong tháng 5-2001, đã phát hiện thêm 1322 trường hợp nhiễm HIV, nhiều hơn tháng trước 253 trường hợp, đưa tổng số người nhiễm HIV được phát hiện của cả nước tính đến 20/5/2001 lên 36081 người, trong đó có 5392 bệnh nhân AIDS (2918 người đã chết).

3. Tình hình chuẩn bị thi tốt nghiệp các cấp phổ thông
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phổ biến các môn thi, quy chế, kế hoạch thi và chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất cho kỳ thi tốt nghiệp phổ thông các cấp 2000-2001 và thi tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong cả nước.
Số phòng thi và số học sinh tham dự kỳ thi tốt nghiệp phổ thông dự kiến như sau:

Số phòng thi
(Nghìn phòng) Số học sinh dự thi (Nghìn học sinh)
Cấp tiểu học 77,2 1700
Cấp phổ thông cơ sở 47,0 1175
Cấp trung học phổ thông 24,4 609

4. Tai nạn giao thông

Theo số liệu của Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia, 4 tháng đầu năm 2001 cả nước đã xảy ra 8377 vụ tai nạn giao thông, tăng 302 vụ so với cùng kỳ năm trước, trong đó tai nạn giao thông đường bộ 8129 vụ, chiếm 97%; đường sắt 125 vụ, chiếm 1,5% và đường thuỷ 123 vụ, chiếm 1,5%. Từ đầu năm đến hết tháng 4 năm 2001, tai nạn giao thông đã làm 9594 người bị thương, tăng 8,3% và 3419 người bị chết, tăng 31% so cùng kỳ năm trước, trong đó số người bị thương do tai nạn giao thông đường bộ tăng 8,3%, đường sắt tăng 13,1%, đường thủy tăng 20,8%, số người chết do tai nạn giao thông đường bộ tăng 32,4%, đường sắt tăng 30,7 %, đường thủy tăng 2,5%.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ