Kinh tế – xã hội 9 tháng năm 2022 của nước ta diễn ra trong bối cảnh triển vọng kinh tế thế giới trở nên khó khăn hơn khi xung đột quân sự giữa Nga và
U-crai-na kéo dài; lạm phát duy trì ở mức cao, nhất là ở châu Âu và Mỹ; xu hướng tăng lãi suất, thu hẹp chính sách tiền tệ, tài khóa ở nhiều quốc gia; thời tiết dễn biến bất thường ở một số khu vực trên thế giới… Tăng trưởng kinh tế thế giới được các tổ chức quốc tế dự báo giảm so với các dự báo đưa ra trước đó[1]. Trong nước, với quyết tâm phục hồi và phát triển kinh tế, tạo đà hoàn thành mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2022 và giai đoạn 2021-2025 theo Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội. Kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo; chính sách tiền tệ, tài khóa điều hành chủ động, linh hoạt và hiệu quả;môi trường đầu tư kinh doanh cải thiện tích cực; an sinh xã hội được đảm bảo, góp phần phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, tạo sự tin tưởng, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, kinh tế – xã hội 9 tháng năm 2022 của nước ta khởi sắc trên hầu hết các lĩnh vực,nhiều ngành đã khôi phục mạnh mẽ và đã trở lại mức tăng trưởng trước khi dịch Covid-19 xuất hiện. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý III và 9 tháng năm 2022 như sau:
(1) Hoạt động sản xuất kinh doanh phục hồi nhanh ở cả ba khu vực kinh tế.Trong 9 tháng năm 2022, GDP tăng 8,83% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của 9 tháng trong giai đoạn 2011-2022[2].Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,99%, đóng góp 4,04% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,44%, đóng góp 41,79%; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của nền kinh tếvới tốc độ tăng 10,69%. Khu vực dịch vụ tăng 10,57%, đóng góp 54,17%; trong đó nhiều ngành dịch vụ thị trường tăng cao như bán buôn, bán lẻ tăng 10,24%; vận tải kho bãi tăng 14,2%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 41,7%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,05%.

(2) Sản lượng một số cây lâu năm chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước; chăn nuôi phát triển ổn định; nuôi trồng thủy sản phát triển khá.
Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm chủ yếu 9 tháng năm 2022 tăng khá như cao su tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; hồ tiêu tăng 2,9%; cam tăng 10,1%;bưởi tăng 6%; chuối tăng 4,7%;nhãn tăng 3,5%; xoài tăng 3,3%.
Chăn nuôi lợn và gia cầm hồi phục do dịch bệnh được kiểm soát tốt, chủ động được nguồn giống và nhu cầu thị trường tăng cao. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 9/2022tăng 8,8% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số gia cầm tăng 3,8%;tổng số bòtăng 3,4%.
Nuôi trồng cá tra và tôm phát triển khá do giá cá tra nguyên liệu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng trong những tháng gầnđây và nhu cầu thị trường thế giới tăng cao; giá tôm nuôi ở mức cao và ổn định, người nuôi có lãi. Sản lượng cá tra quý III/2022 đạt 367 nghìn tấn, tăng 10,1%; tôm đạt 329,2 nghìn tấn, tăng 9%. Tính chung 9 tháng, sản lượng cá tra đạt 1.139,5 nghìn tấn, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước; tôm đạt 777,6 nghìn tấn, tăng 10,4%.
(3) Ngành công nghiệptiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng cao trong tám tháng liên tiếp, tháng 9/2022ước tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ sốIIP của ngành chế biến chế tạo tăng 12,5%. Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số IIP tăng 9,6%;nhiều ngành công nghiệp trọng điểm tăng trưởng cao[3].

(4) Hoạt động thương mại, dịch vụ tăng trưởng mạnh mẽ.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2022 đạt 4.170,2 nghìn tỷ đồng tăng 21% so với cùng kỳ năm trước và là mức tăng cao so với cùng kỳ trong vòng nhiều năm trở lại đây; tăng 14,2% so với 9 tháng năm 2019 – năm trước khi xảy ra dịch Covid-19[4].
Hoạt động vận tải trong tháng Chín tiếp tục đạt kết quả tích cực cả về vận tải hành khách và hàng hóa. Trong đó, vận chuyển hành khách gấp 4 lần và luân chuyển hành khách gấp 5,7 lần so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa tăng 52,6% về vận chuyển và tăng 60,4% về luân chuyển. Tính chung 9 tháng năm 2022, hoạt động vận tải hành khách tăng 40,7% và luân chuyển tăng 59,4% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 24,4% và luân chuyển tăng 31%.
Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Chín đạt 431,9 nghìn lượt người, giảm 11,2% so với tháng trước và gấp 45,4 lần so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam đã mở cửa du lịch, các đường bay quốc tế được khôi phục trở lại. Tính chung 9 tháng năm 2022, khách quốc tế đến nước ta đạt 1.872,9 nghìn lượt người, gấp 16,4 lần so với cùng kỳ năm trước.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng Chín ước đạt 58,74 tỷ USD, giảm 11% so với tháng trước và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 558,52 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,3%; nhập khẩu tăng 13%[5].
Cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng năm 2022 ước tính xuất siêu 6,52 tỷ USD.

(5) Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội của Quốc hội và Chính phủ đúng hướng và hiệu quả, tạo niềm tin cho nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp. Trong 9 tháng năm 2022, cả nước có 112,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.272,3 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 758,1 nghìn lao động, tăng 31,9% về số doanh nghiệp, tăng 6,4% về vốn đăng ký và tăng 16,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước.
Số doanh nghiệp tham gia thị trường 9 tháng năm 2022 đạt 163,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 38,6% so với cùng kỳ năm trước; 112,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 24,8%.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý IV/2022 cho thấy, có 48,7% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý III/2022 (quý III/2022 so với quý II/2022 có 38,6%); 46,8% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất sẽ tăng (quý III/2022 so với quý II/2022 có 39,1%).
(6) Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 9 tháng năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 2.130,3 nghìn tỷ đồngtăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước;vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 8,35 tỷ USD, tăng 29,9%, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế Việt Nam ngày càng tăng.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam đạt 15,43 tỷ USD, tăng 16,3%, mức cao nhất so với 9 tháng các năm từ2018 đến nay.
Hình 5: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng các năm 2018-2022

(7) Lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 2,73% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 3,85% của cùng kỳ năm 2020 và cao hơn mức tăng 1,82% của cùng kỳ năm 2021.Lạm phát cơ bảnbình quân 9 tháng năm 2022 tăng 1,88%.
Hình 6: Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 9, quý III và 9 tháng
các năm giai đoạn 2018-2022(%)

(8) Số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng.
Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong 9 tháng năm 2022 ước tính đạt 50,5 triệu người, tăng 1.460 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương ước tính đạt 7,5 triệu đồng/tháng, tăng 805 nghìn đồng.
Tính đến ngày 22/9/2022, gói hỗ trợ theo Nghị quyết 11/NQ-CP đã giải ngân khoảng 3.539 tỷ đồng, hỗ trợ cho hơn 5 triệu người lao động tại 120.295 doanh nghiệp.
[1]Ngân hàng Thế giới dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022 chỉ đạt 2,8%, giảm so với mức dự báo 4,1% tại thời điểm đầu năm 2022. Fitch Ratings điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần trăm so với dự báo 2,9% tại thời điểm tháng 6/2022. Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhận định tăng trưởng toàn cầu năm 2022 đạt 3,2%, thấp hơn 0,4 điểm phần trăm so với dự báo tại thời điểm tháng 4/2022.
[2]Tốc độ tăng GDP 9 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2011-2022 lần lượt là: 6,20%; 5,34%; 5,26%; 6,11%; 6,85%; 6,40%; 6,49%; 7,35%; 7,30%; 2,19%; 1,57%; 8,83%.
[3]Sản xuất đồ uống tăng 31,9%; sản xuất trang phục tăng 22,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 18,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 17,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 16,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,9%; sản phẩm thuốc lá và sản xuất phương tiện vận tải khác cùng tăng 11,4%.
[4] Tốc độ tăng/giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng các năm 2018-2022 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 11,4%; 12,2%; -0,7%; -5%;21%.
[5]Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2021 đạt 485,2 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 240,9 tỷ USD, tăng 18,9%; nhập khẩu đạt 244,3 tỷ USD, tăng 31,4%.
TIN KHÁC
Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)