Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2002, trong những tháng vừa qua Chính phủ và các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể và đồng bộ. Nhờ vậy, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng diễn biến kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm vẫn có những mặt tích cực và tiến bộ. Trên cơ sở số liệu thực hiện 5 tháng và ước tính tháng 6, Tổng cục Thống kê khái quát tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng như sau:
A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2002 tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4%, góp phần làm tăng tổng sản phẩm trong nước 6 tháng được 0,9%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,4%, đóng góp 3,4%; khu vực dịch vụ tăng 5,9%, đóng góp 2,4%.
Do kinh tế tăng trưởng và công tác thu có tiến bộ nên tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng ước tính đạt 53% dự toán cả năm và tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các khoản thu từ sản xuất kinh doanh đều đạt trên dưới 50% dự toán cả năm và tăng hơn cùng kỳ năm trước: Thu từ kinh tế Nhà nước đạt 48,5% và tăng 8,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 52,3% và tăng 14,5%; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 49,2% và tăng 7,5%; thu từ xuất nhập khẩu đạt 51,9% và tăng 24,8%; thu từ dầu thô đạt 60,6%, nhưng chỉ bằng 92,5% cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng ước tính đạt 46,9% dự toán cả năm và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 45,7% và tăng 17,2%; chi cho giáo dục và đào tạo đạt 52,2% và tăng 7%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 50,4% và tăng 4,7%; chi cho y tế đạt 51,6% và tăng 4,7%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 55,1% và tăng 2,7%; chi văn hoá thông tin đạt 51,9% và tăng 7%. Bội chi ngân sách 6 tháng ước tính gần bằng 12,7% tổng số thu; bằng 11,3% tổng số chi và được bù đắp bằng nguồn vay, trong đó vay trong nước bù đắp 55,5% tổng mức bội chi; vay nước ngoài bù đắp 44,5% còn lại.
Trong 6 tháng đầu năm, giá cả không có biến động bất thường. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 tăng 1,1%; tháng 2 tăng 2,2%; tháng 3 giảm 0,8%; tháng 4 giữ mức giá tháng trước; tháng 5 tăng 0,3% và tháng 6 tăng 0,1%. Tính chung 6 tháng giá tiêu dùng tăng 2,9%, trong đó giá lương thực, thực phẩm tăng 5,7%; giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng giảm trên dưới 1%. Nếu so với cùng kỳ năm trước thì chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2002 tăng 4,2%, chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm tăng 9,1% (Giá lương thực tăng 13,1%; giá thực phẩm tăng 8,9%). Giá lương thực, thực phẩm tăng đang khuyến khích nông dân mở rộng sản xuất, tăng cường đầu tư thâm canh nâng cao số lượng và chất lượng nông sản hàng hoá.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
a. Nông nghiệp
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm là gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch lúa đông xuân. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, vụ đông xuân này cả nước đã gieo cấy được 3032,7 nghìn ha, bằng 99,2% vụ đông xuân 2001, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1177,2 nghìn ha, bằng vụ đông xuân trước; các địa phương phía Nam 1855,5 nghìn ha, bằng 98,7%.
Thời tiết năm nay ở phía Bắc tương đối thuận; mặt khác hệ thống kênh mương được kiên cố hoá; nhiều địa phương, nhất là các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng đã tăng diện tích gieo cấy giống lúa mới cho năng suất cao. Do vậy, vụ đông xuân này của phía Bắc tiếp tục đạt sản lượng khá. Đến trung tuần tháng 6 đã thu hoạch được 985 nghìn ha với năng suất ước tính đạt 54,7 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha so với vụ đông xuân 2001. (Đồng bằng sông Hồng đạt 59,4 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha; Bắc Trung Bộ đạt 52,9 tạ/ha, tăng 3,4 tạ/ha; miền núi phía Bắc đạt 45,5 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha). Sản lượng lúa đông xuân phía Bắc ước tính đạt 6,44 triệu tấn, tăng 22 vạn tấn so với vụ đông xuân trước.
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân ở phía Nam tuy giảm 1,3%, nhưng do đẩy mạnh thâm canh nên năng suất ước tính đạt 54,1 tạ/ha, tăng 4,9 tạ/ha so với vụ đông xuân 2001 và sản lượng có thể đạt trên 10 triệu tấn, tăng 79 vạn tấn so với vụ đông xuân trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 8,5 triệu tấn, tăng 71 vạn tấn.
Như vậy, tính chung năng suất vụ lúa đông xuân này của cả nước đạt 54,4 tạ/ha, tăng 3,7 tạ/ha và sản lượng ước tính đạt 16,48 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn so với vụ đông xuân 2001. Nếu tính cả 1,16 triệu tấn ngô thì sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân năm nay đạt 17,64 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn so với vụ đông xuân trước. Tuy sản lượng lúa đông xuân năm nay cao hơn vụ đông xuân 2001 nhưng lương thực hàng hoá không lớn do những năm vừa qua đẩy mạnh xuất khẩu lương thực (Lượng gạo xuất khẩu năm 1999 là 4,5 triệu tấn; năm 2000: 3,5 triệu tấn và năm 2001: 3,7 triệu tấn), trong khi sản lượng lúa cả năm 2001 lại giảm 56 vạn tấn, trong đó hai vụ cuối năm là vụ hè thu và vụ mùa giảm trên 46 vạn tấn nên lượng lúa dự trữ của Nhà nước cũng như dự trữ và tồn đọng trong dân chuyển sang năm nay không còn nhiều như các năm trước.
Cùng với việc khẩn trương thu hoạch lúa đông xuân cuối vụ, các địa phương còn đẩy mạnh gieo cấy lúa hè thu, gieo trồng ngô, khoai lang, sắn, rau đậu và cây công nghiệp ngắn ngày. Tính đến trung tuần tháng 6 cả nước đã gieo cấy được 1,7 triệu ha lúa hè thu, bằng 93% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1,4 triệu ha, bằng 93%; 382,4 nghìn ha ngô, bằng 105,4%; 185 nghìn ha khoai lang, bằng 93,4%; 213 nghìn ha sắn, bằng 125,3%; 88,5 nghìn ha đậu tương, bằng 111,5%; 180,8 nghìn ha lạc, bằng 102,5%; 63,2 nghìn ha mía, bằng 167,6% và 24,3 nghìn ha thuốc lá, bằng 106,9%.
Do trồng trọt, nhất là sản xuất lương thực đạt kết quả khá, tạo thêm nguồn thức ăn cho chăn nuôi và giá thực phẩm tăng nên đã khuyến khích nông dân đầu tư phát triển chăn nuôi, trước hết là chăn nuôi gia súc và gia cầm. Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/4/2002, đàn lợn cả nước có 12,6 triệu con, tăng 650 nghìn con so với thời điểm 1/4/2001.
b. Lâm nghiệp
Kết quả sản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm đạt thấp. Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước tính chỉ tăng 0,1% so với 6 tháng đầu năm 2001; sản lượng gỗ khai thác tăng 0,1%; diện tích rừng trồng tập trung giảm 1%; diện tích trồng cây phân tán giảm 1,3%.
Tồn tại lớn nhất trong sản xuất lâm nghiệp vẫn là tình trạng vi phạm lâm luật, chặt phá rừng và cháy rừng. Trong 6 tháng vừa qua cả nước đã xảy ra 555 vụ cháy rừng, làm cháy 10253 ha rừng, trong đó có 7962 ha rừng tràm ở Kiên Giang và Cà Mau. Diện tích rừng bị chặt phá cũng lên tới 2563 ha, trong đó Đắk Lắk 925 ha, Gia Lai 158 ha, Lâm Đồng 113 ha, Kon Tum 98 ha và Bình Phước 375 ha.
c. Thuỷ sản
Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tiếp tục phát triển. Sản lượng thuỷ sản trong 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1226,5 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 888 nghìn tấn cá, tăng 3,2%; 115,5 nghìn tấn tôm, tăng 13,2%. Trong tổng sản lượng thuỷ sản nêu trên, sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 333,6 nghìn tấn, chiếm 27,2% và tăng 11,8% so với 6 tháng đầu năm 2001; thuỷ sản khai thác tự nhiên 892,9 nghìn tấn, chiếm 72,8% và tăng 2,7%.
Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tăng nhanh chủ yếu là do ngư dân ven biển đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ, đồng thời chương trình đánh bắt hải sản xa bờ ở một số địa phương bước đầu đã phát huy hiệu quả. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 730 nghìn ha, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Đánh bắt xa bờ đã tăng lên, chiếm 40% sản lượng hải sản khai thác 6 tháng vừa qua.
3. Sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm ước tính tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,2% (Trung ương quản lý tăng 12%; địa phương quản lý tăng 9,7%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,7% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 0,7%; các doanh nghiệp khác tăng 20,3%). Như vậy, tốc độ tăng 6 tháng của khu vực doanh nghiệp Nhà nước (chiếm xấp xỉ 40% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp) vẫn ổn định ở mức trên 11%; khu vực ngoài quốc doanh (chiếm 23,9%) có tốc độ tăng cao nhất, chủ yếu do tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp và vốn đầu tư, sản xuất và tiêu thụ lại năng động; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 36,1%) 6 tháng đầu năm nay tăng trưởng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ những năm gần đây, chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác giảm.
Một số tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có quy mô công nghiệp lớn 6 tháng đầu năm nay đạt tốc độ tăng trên mức tăng bình quân của cả nước là: Hà Nội tăng 24,8%; Hải Phòng tăng 24,9%; Hà Tây tăng 19,1%; Hải Dương tăng 51,9%; Quảng Ninh tăng 15%; Thanh Hoá tăng 16,1%; Đà Nẵng tăng 19,1%; Khánh Hoà tăng 28,2%; Bình Dương tăng 33%; Đồng Nai tăng 16,1%.
Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và đời sống 6 tháng đầu năm nay tiếp tục duy trì được tốc độ tăng tương đối cao so với 6 tháng đầu năm 2001 là: Điện tăng 16,9%; than tăng 28,2%; thuỷ sản chế biến tăng 19,1%; quần áo may sẵn tăng 24,3%; xà phòng tăng 16,2%; xi măng tăng 29,5%; gạch lát tăng 22,2%; thép cán tăng 27%; động cơ diezen tăng 16,9%; máy biến thế tăng 39,5%; quạt điện dân dụng tăng 26,3%; tivi lắp ráp tăng 36,3%; ô tô lắp ráp tăng 53%; xe máy lắp ráp tăng 46,6%; xe đạp tăng 39,7%. Bên cạnh đó, cũng có những sản phẩm tăng chậm hoặc giảm sút so với 6 tháng đầu năm 2001 như: Sữa hộp chỉ tăng 3,7%; đường mật tăng 5,5%; phân hoá học tăng 3,8%; quần áo dệt kim giảm 3,4%; thuốc trừ sâu giảm 6,3%; thuốc viên chữa bệnh giảm 11,2%. Sản lượng dầu thô khai thác 6 tháng ước tính cũng giảm 3,2% (giảm 270 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm 2001.
Từ diễn biến 6 tháng đầu năm vừa qua có thể thấy rõ một số thuận lợi cũng như khó khăn nổi bật trong sản xuất công nghiệp hiện nay là: Luật doanh nghiệp cùng với những chủ trương, chính sách khác như chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách ưu đãi các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu… đã làm cho sản xuất công nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng doanh nghiệp và qui mô đầu tư vốn, thu hút thêm lao động (đặc biệt tăng nhanh ở khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hộ công nghiệp nhỏ). Thị trường xuất khẩu hàng công nghiệp cũng đang được mở rộng thêm do nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Nhờ vậy, những mặt hàng xuất khẩu như thuỷ sản chế biến, hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ (gốm, sứ, sơn mài, chạm trổ) đang mở rộng được thị phần ở thị trường Mỹ và Đông Âu.
Tuy nhiên, khó khăn vẫn còn lớn. Các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng xuất khẩu hiện nay chủ yếu là qui mô nhỏ, kiến thức, kinh nghiệm và công tác nắm bắt thông tin về thị trường thế giới còn rất thiếu, điều kiện kỹ thuật, công nghệ còn thấp. Ngoài ra, tình hình buôn lậu và gian lận thương mại tuy được các cấp, các ngành quan tâm nhưng khắc phục còn chậm cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất các mặt hàng cùng loại của các cơ sở công nghiệp trong nước.
4. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 6 tháng đầu năm 2002 ước tính đạt gần 10,3 nghìn tỷ đồng, bằng 47,2% kế hoạch năm, trong đó trung ương quản lý 6,4 nghìn tỷ đồng, bằng 48,5%; địa phương quản lý gần 3,9 nghìn tỷ đồng, bằng 45,2%.
Trong 6 tháng vừa qua nhiều công trình, dự án quan trọng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như: Nhà máy thuỷ điện Yaly; tổ máy 2 thuỷ điện Hàm Thuận; tổ máy 1 thuỷ điện Đa Mi. Trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đã làm mới, sửa chữa và nâng cấp 952 km đường bộ, 348 km đường sắt và hoàn thành nhiều cầu lớn như cầu Phả Lại, cầu Tân Đệ, cầu Qúi Cao, cầu Trung Hà, cầu Non Nước, cầu Sa Cát, cầu An Lễ, cầu Châu Tiến. Ngoài ra, còn thông xe kỹ thuật 16 cầu lớn, 87 cầu loại trung bình trên đường Hồ Chí Minh. Từ đầu năm đến hết tháng 6 đã đắp được gần 2 triệu m3 đê, đạt 99% kế hoạch năm. Xây dựng nhà ở và các khu đô thị mới ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang được đẩy mạnh. Riêng thành phố Hồ Chí Minh từ đầu năm đến nay đã cấp 5086 giấy phép xây dựng và giấy cho phép sửa chữa nhà ở với tổng diện tích nhà ở lên tới 835,7 nghìn m2.
Thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, 6 tháng vừa qua cả nước đã huy động được 5172 tỷ đồng làm mới và nâng cấp trên 10 nghìn km đường giao thông nông thôn và 815 chiếc cầu trên các tuyến hương lộ với tổng chiều dài 16,3 km. Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải, đến nay cả nước vẫn còn 304 xã vùng sâu, vùng xa chưa có đường ô tô đến trung tâm xã.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ 01/01- 20/6/2002 đã cấp giấy phép cho 263 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 473,5 triệu USD. So với cùng kỳ năm trước tăng 12,8% về số dự án, nhưng giảm 55,6% về vốn đăng ký, trong đó ngành công nghiệp và xây dựng có 211 dự án với số vốn đăng ký 398,1 triệu USD, chiếm 80,2% về số dự án và 84,1% về vốn đăng ký.
Nếu phân theo tỉnh, thành phố thì các dự án tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố phía Nam với 209 dự án và 362,2 triệu USD vốn đăng ký, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 87 dự án và 72,1 triệu USD; Bình Dương 54 dự án và 90 triệu USD; Đồng Nai 34 dự án và 108 triệu USD. Các tỉnh phía Bắc có 54 dự án với số vốn đăng ký 111,3 triệu USD, chỉ chiếm 20,5% về số dự án và 23,5% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 11 dự án với vốn đăng ký 37,6 triệu USD, Hải Phòng có 10 dự án với 19,7 triệu USD, Quảng Ninh 6 dự án với 11,3 triệu USD…
Các nước và vùng lãnh thổ có nhiều dự án và vốn đăng ký lớn là: Đài Loan 68 dự án với số vốn đăng ký 98,3 triệu USD; Hàn Quốc 62 dự án và 127,5 triệu USD; Malaixia 12 dự án và 44,9 triệu USD; Nhật Bản 11 dự án và 39,8 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 19 dự án và 24,6 triệu USD; Liên bang Nga 3 dự án và 17,5 triệu USD; CHND Trung Hoa 13 dự án và 16 triệu USD; Irắc 1 dự án và 12 triệu USD; Mỹ 13 dự án với 12,9 triệu USD…
5. Vận tải và bưu chính, viễn thông.
Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm ước tính đạt 425,4 triệu lượt hành khách và 15,6 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 3,2% về khối lượng vận chuyển và tăng 6% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 80,8 triệu tấn và 25 tỷ tấn.km, tăng 5,5% về tấn và tăng 5,7% về tấn.km.
Hoạt động vận tải 6 tháng đầu năm nhìn chung tăng trưởng ổn định, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống. Chất lượng phục vụ được nâng lên. Sau một thời gian chạy thử, từ đầu tháng 6 ngành đường sắt đã chính thức đưa tầu Thống Nhất tuyến Bắc-Nam 30 giờ vào khai thác với toa xe mới, trang thiết bị, tiện nghi đầy đủ nhưng không tăng giá vé so với tầu 32 giờ. Lộ trình tầu Hà Nội-Lào Cai cũng được rút xuống chỉ còn 7 giờ 45 phút. Ngoài ra, ngành đường sắt còn tổ chức một số đôi tầu du lịch đi Trung Quốc. Để hạn chế ùn tắc giao thông đô thị, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh tiến độ thực hiện chương trình tăng cường hệ thống xe buýt. Đến nay, Hà Nội đã có 16 tuyến xe buýt với 200 xe hoạt động; thành phố Hồ Chí Minh có 21 tuyến và bán vé tháng để hành khách được đi trên tất cả 21 tuyến, không hạn chế số lần đi trong tháng.
Hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển. Đến cuối tháng 6 năm 2002 cả nước đã có 4685,5 nghìn máy điện thoại, tăng 520 nghìn chiếc so với cùng kỳ năm trước và số sử dụng internet là 84,4 nghìn thuê bao. Doanh thu bưu chính, viễn thông 6 tháng đạt trên 8,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.
6. Thương mại và du lịch.
Hoạt động thương nghiệp trong nước những tháng đầu năm phát triển khá, lượng hàng hoá trên thị trường tương đối phong phú, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của sản xuất và đời sống. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm ước tính đạt trên 135 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thương nghiệp Nhà nước đạt 23,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,1% và tăng 10,2%; ngoài quốc doanh 109,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 81% và tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,9% và giảm 12,6%. Trong 6 tháng vừa qua, hầu hết các lĩnh vực kinh doanh thương nghiệp dịch vụ trong nước đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh doanh thương nghiệp tăng 12,3%; khách sạn, nhà hàng tăng 13%; hoạt động dịch vụ tăng 15%; du lịch lữ hành tăng 42,4%; các cơ sở sản xuất trực tiếp bán lẻ tăng 10,6%.
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2002 ước tính đạt gần 7,3 tỷ USD, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 3,8 tỷ USD, giảm 10,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 3,5 tỷ USD, bằng mức xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2001. Hoạt động xuất khẩu 6 tháng đầu năm giảm sút trước hết là do giá của nhiều mặt hàng xuất khẩu tiếp tục giảm, đồng thời khối lượng xuất khẩu một số mặt hàng cũng đạt thấp. Tình hình xuất khẩu của một số mặt hàng cụ thể như sau:
Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tháng 5 đạt 175 triệu USD, tăng 18% so với tháng 4 và ước tính tháng 6 đạt 185 triệu USD, tăng 5,7% so với tháng 5. Ước tính 6 tháng đầu năm đạt 816 triệu USD, giảm 2,4% so cùng kỳ năm trước và đạt 41% so với kế hoạch cả năm. Trong 5 tháng đầu năm, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc vẫn là các thị trường tiêu thụ nhiều thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam (Mỹ chiếm 27,5% và Nhật Bản chiếm 26,2% tổng trị giá thuỷ sản xuất khẩu 5 tháng). Riêng thị trường EU, Việt Nam chỉ xuất khẩu được gần 20 triệu USD, giảm 60% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là do xuất khẩu tôm giảm.
Nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tốc độ xuất khẩu thuỷ sản trong thời gian qua là: (1) Giá thị trường thế giới giảm, đặc biệt là giá tôm; (2) Sản lượng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu giảm; (3) Sự áp dụng các biện pháp phi thuế quan, tạo rào cản đối với hàng nhập khẩu vào EU, Mỹ, Nhật ngày càng chặt chẽ. Ngoài ra, việc tranh chấp thương mại về thương hiệu sản phẩm cá da trơn giữa Mỹ với Việt Nam cũng có ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu thuỷ sản những tháng vừa qua.
Là một ngành mũi nhọn tạo việc làm và đóng góp đáng kể vào thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, ngành dệt may đã xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2005 đạt trị giá xuất khẩu 4 tỷ USD và đạt 10 tỷ USD vào năm 2010. Để thực hiện được mục tiêu này, ngành dệt may đang xúc tiến các hoạt động mở rộng thị trường nước ngoài, trong đó có việc mở thêm 3 văn phòng đại diện tại Mỹ. Mặt khác, ngành cũng đang triển khai xây dựng một số cụm công nghiệp trọng điểm dệt may ở nhiều địa phương trên địa bàn cả nước: Cụm công nghiệp dệt may Hưng Yên đã triển khai xây dựng từ năm 2000 và dự kiến sẽ hoạt động vào cuối năm 2003; cụm công nghiệp dệt sợi nhuộm đang được xây dựng tại Đà Nẵng; cụm công nghiệp Bình An (Bình Dương) và cụm công nghiệp Nhơn Trạch (Đồng Nai) cũng sẽ xây dựng các nhà máy giặt mài và may xuất khẩu. Ước tính kim ngạch xuất khẩu 6 tháng của ngành dệt may đạt 990 triệu USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu sang EU chiếm 25%, Nhật Bản 26% và Mỹ 13,4%.
Với trị giá xuất khẩu ước tính trong 6 tháng đầu năm là 877 triệu USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước, giày dép đang là mặt hàng có tỷ lệ đóng góp cao nhất, góp phần hạn chế mức suy giảm tổng trị giá xuất khẩu. Thị trường lớn nhất tiêu thụ giày dép Việt Nam vẫn là EU, chiếm khoảng 72% tổng số, tăng trên 30% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu giày dép sang Mỹ chiếm thị phần trên 8%, tăng 50% so với cùng kỳ năm trước. Tuy giữ được tốc độ tăng trưởng tương đối cao nhưng hàng giày dép Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì thế ổn định. Sở dĩ như vậy vì hoạt động của ngành này phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu nhập khẩu. Mặt khác, năng lực thiết kế mẫu mã cũng hạn chế, chưa theo kịp sự thay đổi thị hiếu trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, thiết bị máy móc chậm đổi mới nên năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành sản phẩm cao. Tất cả các yếu tố này đã làm cho sức cạnh tranh của giày dép Việt Nam kém hơn rất nhiều so với giày dép Trung Quốc, Đài Loan. Theo đánh giá của Bộ Thương mại, chí phí sản xuất 1 đôi giày của Việt Nam cao gấp 2 lần của Trung Quốc.
Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước tính đạt 8,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 5,4 tỷ USD, giảm 3,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 3 tỷ USD, tăng 38,4%. Trong 6 tháng đầu năm, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu là nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất trong nước đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước. So với 6 tháng đầu năm 2001, sắt thép nhập khẩu tăng 22,3% về lượng và tăng 16,9% về giá trị; phân bón tăng 39% và tăng 29,6%; chất dẻo tăng 24,2% và tăng 14,5%; sợi dệt tăng 43,8% và tăng 35,3%. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 22,4%; hoá chất tăng 10%; sản phẩm hoá chất tăng 23,3%; thuốc trừ sâu tăng 38,3%.
Tuy nhiên, trong 6 tháng cũng có một số mặt hàng giá trị nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá trị nguyên liệu và phụ liệu dệt, may, da giảm 2,2%. Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu tuy chỉ bằng 95,2% cùng kỳ năm trước nhưng khối lượng nhập khẩu vẫn tăng 7,6% do giá nhập khẩu giảm. Riêng mặt hàng xe máy, do Nhà nước có biện pháp quản lý tốt việc nhập khẩu cùng với sự nỗ lực tăng nhanh tỷ lệ nội địa hoá, giảm giá bán của các doanh nghiệp sản xuất xe máy trong nước nên 6 tháng đầu năm nhập khẩu xe máy dạng linh kiện lắp ráp và xe máy nguyên chiếc đã giảm đáng kể. Do xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng nên nhập siêu 6 tháng lên tới trên 1,1 tỷ USD, bằng 15,9% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 0,5 tỷ USD.
Khách quốc tế đến nước ta trong 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1,3 triệu lượt người, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch 719 nghìn lượt người, tăng 17,2%; vì công việc 213 nghìn lượt người, tăng 13,2%; thăm thân nhân 217 nghìn lượt người, tăng 6,3% và mục đích khác 149 nghìn lượt người, giảm 1,6%. Một số nước có lượng khách đến nước ta tương đối lớn trong 6 tháng qua là: Trung Quốc 352 nghìn lượt người, chiếm 27,1% tổng số khách; Mỹ 133 nghìn lượt người, chiếm 10,3%; Nhật Bản 124 nghìn lượt người, chiếm 9,6%…
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động và việc làm
Tình hình giải quyết việc làm ở khu vực thành thị cũng như nông thôn đang từng bước được cải thiện. Ngành nghề phát triển do ngày càng có thêm nhiều tổ chức kinh tế – xã hội cùng tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo, cho vay vốn, tạo việc làm và tư vấn đào tạo nghề. Một số địa phương đã khôi phục và mở rộng các ngành nghề sử dụng nhiều lao động như may và sản xuất giày da xuất khẩu, hướng dẫn và phục vụ du lịch.
Nét mới trong vấn đề giải quyết việc làm 6 tháng đầu năm nay là đã thí điểm tổ chức Hội chợ việc làm tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho các chủ doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với những người có nhu cầu làm việc. Tính chung trong 6 tháng đầu năm các địa phương trong cả nước đã giải quyết việc làm được cho 24,2 vạn người vào làm việc trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (chưa kể số người được sắp xếp việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản), trong đó 18,5 vạn người có việc làm ổn định.
2. Đời sống các tầng lớp dân cư
Do sản xuất phát triển và giá cả ổn định nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung tiếp tục được cải thiện. Nhiều doanh nghiệp duy trì và phát triển được sản xuất nên có thêm điều kiện tăng lương và chi các khoản thu nhập ngoài lương cho người lao động. Do vậy, thu nhập bình quân mỗi tháng trong 6 tháng đầu năm của một lao động trong khu vực Nhà nước đã đạt 968,5 nghìn đồng, tăng 8,6% so với thu nhập bình quân mỗi tháng cùng kỳ năm trước, trong đó lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1285,4 nghìn đồng/người/tháng, tăng 11,2%; lao động địa phương quản lý đạt 742 nghìn đồng/người/tháng, tăng 4,6%. Sáu ngành có mức thu nhập bình quân mỗi tháng trên 1 triệu đồng là: Công nghiệp khai thác mỏ 1750,3 nghìn đồng, tăng 15,3%; công nghiệp chế biến 1069,8 nghìn đồng, tăng 8,1%; điện nước 1852 nghìn đồng, tăng 21,9%; giao thông vận tải 1682,9 nghìn đồng, tăng 8,5%; tín dụng 1861 nghìn đồng, tăng 41% và tư vấn đầu tư 1582,7 nghìn đồng, tăng 13,8%.
Mặc dù hạn hán trên diện rộng nhưng tình trạng thiếu đói giáp hạt ở nông thôn chỉ xảy ra trong phạm vi hẹp và giảm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm chỉ có 1056 nghìn lượt hộ với 4861,6 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói giáp hạt, giảm 6,3% về số hộ và giảm 6,4% về số nhân khẩu so với 6 tháng đầu năm 2001. Tại thời điểm 20/6/2002, số hộ thiếu đói chỉ còn 65,2 nghìn hộ với 326,9 nghìn nhân khẩu, chỉ bằng 84,9% về số hộ và 86,1% về số nhân khẩu so với 20/6/2001. Để hỗ trợ các hộ trong diện thiếu đói khắc phục khó khăn, các địa phương đã huy động được nhiều nguồn trợ giúp với tổng số tiền trên 7,4 tỷ đồng và 8,4 nghìn tấn lương thực.
Công tác đền ơn đáp nghĩa và giúp đỡ các gia đình neo đơn, gia đình chính sách tiếp tục được duy trì. Vào dịp Tết Nguyên đán hầu hết các địa phương đều đã tặng quà của Chủ tịch nước và của chính quyền, đoàn thể địa phương cho các đối tượng chính sách, các đơn vị nuôi dưỡng, điều trị thương bệnh binh, các đối tượng nghèo, đồng bào vùng bị thiên tai, các đối tượng già cả, cô đơn, trẻ em nghèo, đối tượng bị di chứng chiến tranh, bệnh tật. Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc cho vay vốn xoá đói giảm nghèo và xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương. Tỉnh Bạc Liêu 6 tháng đầu năm 2002 đã hoàn thành 80% kế hoạch xây dựng và bàn giao nhà tình nghĩa đến các đối tượng chính sách, đồng thời đã hỗ trợ xây dựng 2300 trong số 3000 căn nhà tình thương của năm 2002. Đến nay tổng quỹ xoá đói giảm nghèo của thành phố Hồ Chí Minh đã lên tới 135,6 tỷ đồng và 30 nghìn USD. Quỹ này đã cho 55966 hộ vay vốn, đồng thời xây dựng và trao tặng 141 căn nhà tình thương với tổng trị giá 905,5 triệu đồng. Ngân hàng phục vụ người nghèo của tỉnh Bình Dương đã nâng mức cho các hộ nghèo vay vốn lên 10 triệu đồng/hộ. Tỉnh Tây Ninh đã cấp 14 nghìn thẻ bảo hiểm y tế cho các hộ nghèo, đạt 91,8% kế hoạch đề ra. Tỉnh Thừa Thiên-Huế cũng đã cho 32 nghìn lượt hộ vay vốn với tổng dư nợ 185 tỷ đồng và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn với kinh phí 53 tỷ đồng.
3. Hoạt động văn hóa
Trong 6 tháng đầu năm 2002, hoạt động văn hoá thông tin tập trung vào kỷ niệm những ngày lễ lớn và tuyên truyền bầu cử Quốc hội khoá XI. Ngành Văn hóa Thông tin đã phối hợp với 188 đơn vị bầu cử của 61 tỉnh, thành phố tuyên truyền vận động bầu cử, đặc biệt là các điểm vùng sâu, vùng xa bầu cử sớm như huyện đảo Trường Sa, huyện Mường Tè… Một hoạt động văn hoá quan trong khác là ngành Văn hoá Thông tin và các ngành khác đã cùng với Thừa Thiên-Huế tổ chức thành công lễ hội Festival 2002 với 150 chương trình văn hoá trình diễn trên 17 sân khấu và 28 chương trình lễ hội cộng đồng. Các chương trình này đã có sự tham gia của 33 đoàn nghệ thuật với 1554 diễn viên, trong đó có 283 diễn viên của các đoàn nghệ thuật quốc tế của 9 quốc gia tham dự. Khách du lịch đến Huế vào dịp này khoảng 75 nghìn người, trong đó 18 nghìn lượt khách nước ngoài, gấp 3 lần Festival 2000.
4. Công tác giáo dục
Thi tốt nghiệp phổ thông các cấp đã được tiến hành trên phạm vi cả nước. Kết thúc năm học 2001-2002 cả nước có gần 1,9 triệu học sinh thi tốt nghiệp tiểu học, giảm 1,1% so với năm học trước; 1,3 triệu học sinh thi tốt nghiệp trung học cơ sở, tăng 10,5% và 709 nghìn học sinh thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tăng 9,2%. Theo kết quả sơ bộ, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 99,1%; tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 90,3%.
Việc thực hiện chương trình phổ cập giáo dục quốc gia cũng đang được các địa phương tiếp tục triển khai tích cực. Hầu hết các địa phương đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công nhận 10 địa phương đạt tiêu chuẩn này là: Hà Nội, Hải Phòng, Tuyên Quang, Nam Định, Hà Nam, Hà Tây, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên và Đà Nẵng.
5. Tình hình dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm
Trong 6 tháng đầu năm nay các bệnh gây dịch xẩy ra trên diện hẹp. Từ đầu năm đến ngày 20/6/2002, cả nước chỉ có gần 2,5 nghìn lượt người bị thương hàn; 63,4 nghìn lượt người sốt rét; 4,2 nghìn lượt người sốt xuất huyết và 385 nghìn lượt người bị tiêu chảy. Riêng số trường hợp nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Cũng tính đến ngày 20/6/2002, cả nước đã phát hiện 50856 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 7418 trường hợp đã chuyển thành bệnh nhân AIDS, trong đó có 4004 người đã chết do AIDS. Ngoài ra, từ đầu năm đến cuối tháng 6 cả nước còn xảy ra 2138 trường hợp ngộ độc thực phẩm, làm 50 người chết.
6. Tai nạn giao thông
Tai nạn giao thông tiếp tục gia tăng. Trong 5 tháng đầu năm trên địa bàn cả nước đã xảy ra 12 nghìn vụ, làm chết 5413 người và làm bị thương 14 nghìn người. Tai nạn giao thông 5 tháng vừa qua chủ yếu xảy ra trên đường bộ với 11678 vụ, làm chết 5250 người và làm bị thương 13,9 nghìn người. Ngoài ra, đường sắt cũng có 169 vụ, làm chết 76 người và làm bị thương 96 người; đường thuỷ có 159 vụ, làm chết 87 người và làm bị thương 18 người.
Khái quát lại, diễn biến kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2002 cho thấy hầu hết các ngành, các lĩnh vực then chốt đều có những mặt tiến bộ và vượt trội so với cùng kỳ các năm trước. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi bước đầu đã đem lại hiệu quả, góp phần ổn định và cải thiện đời sống dân cư, trước hết là đời sống nông dân. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, sản phẩm công nghiệp tồn kho ít. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm tăng 12,5%, chứng tỏ cầu trong nước đã tăng đáng kể.
Do sản xuất kinh doanh phát triển nên thu ngân sách 6 tháng đầu năm đạt 53% dự toán cả năm và tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản phẩm trong nước 6 tháng tăng 6,7%, trong đó quý I tăng 6,6%; quý II tăng 6,8%, tuy chưa bằng mục tiêu đề ra cho cả năm là tăng 7-7,3% nhưng vẫn đứng vào hàng các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao của khu vực (Theo Tạp chí Nhà Kinh tế, xuất bản tại Xin-ga-po ngày 3/5/2002 thì trong quý I/2002 kinh tế Thái Lan chỉ tăng 2,1%; In-đô-nê-xi-a tăng 2,5%; Ma-lai-xi-a tăng 1,1%; Phi-lip-pin tăng 3,8%; Đài Loan tăng 0,9%; Trung Quốc tăng 7,6%; Hàn Quốc tăng 7,3%; Ấn Độ tăng 6,3%; Hồng Công giảm 0,9%; Xin-ga-po giảm 1,7%; Nhật Bản giảm 1,6%).
Tuy nhiên, khó khăn vẫn còn lớn, nổi bật là tình hình xuất khẩu sau 10 năm liên tục tăng trưởng thì từ giữa năm 2001 đã bắt đầu giảm sút. Riêng 6 tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước, nhập siêu 6 tháng lên tới 1154 triệu USD, bằng 101,7% mức nhập siêu của cả năm 2001. Sự suy giảm của xuất khẩu những tháng vừa qua do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có các nhóm nguyên nhân chủ yếu sau đây:
– Một là, nền kinh tế thế giới vẫn chưa ra khỏi tình trạng trì trệ, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ bị chững lại, nhất là từ sau sự kiện 11/9 ở Mỹ. Tình hình này đã tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu không chỉ của Việt Nam mà còn xảy ra đối với nhiều nước trong khu vực. Kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan năm 2000 tăng 18,2%, nhưng năm 2001 đã giảm 5,7% và 3 tháng đầu năm 2002 cũng chỉ tăng 2,9%. Ba chỉ tiêu tương ứng của Ma-lai-xi-a là tăng 16,2%; giảm 10,3% và giảm 4,3%; của Phi-lip-pin là tăng 8,8%; giảm 19,2% và tăng 0,5%. Kim ngạch xuất khẩu của Xin-ga-po năm 2000 tăng 20,2% nhưng năm 2001 đã giảm 11,7%. Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc từ mức tăng trưởng 27,7% trong năm 2000, giảm xuống chỉ còn tăng 12% trong 4 tháng đầu năm 2002. Tình hình nhập khẩu của các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới cũng có tình trạng giảm sút tương tự.
– Hai là, do cung hàng hoá và dịch vụ trên thị trường thế giới lớn hơn cầu nên nhiều loại hàng hoá xuất khẩu bị giảm giá, trong đó có các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước ta. Giá bán dầu thô bình quân 6 tháng đầu năm nay của nước ta so với cùng kỳ năm trước giảm 15,1%; giá cà phê giảm 17,8%; giá cao su giảm 10,8%; giá hạt điều giảm 13,5%; giá hạt tiêu giảm 15,6%; giá lạc nhân giảm 8,7%. Riêng sự giảm giá của 6 mặt hàng này đã làm mất khoảng 300 triệu USD, bằng 4% tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng vừa qua.
– Ba là, mặt hàng dầu thô xuất khẩu thường chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta, nhưng 6 tháng vừa qua không chỉ chịu tác động của giá bán thấp mà lượng dầu xuất khẩu cũng giảm 16,2 vạn tấn. Ngoài ra, gạo xuất khẩu đã giảm từ gần 2,2 triệu tấn 6 tháng đầu năm 2001 xuống chỉ còn 1,6 triệu tấn trong 6 tháng đầu năm nay; cà phê xuất khẩu giảm 18,3 vạn tấn; hàng điện tử giảm 89,4 triệu USD; hàng thuỷ sản giảm 19,7 triệu USD. Sự giảm sút về lượng của những mặt hàng xuất khẩu này ngoài nguyên nhân về sức cạnh tranh thấp, còn có nguyên nhân về tổ chức sản xuất, lưu thông và thu mua hàng xuất khẩu chậm đổi mới.
Mặc dù xuất khẩu đang đứng trước nhiều khó khăn, nhưng dự đoán những tháng cuối năm tình hình xuất khẩu có thể sẽ được cải thiện, một mặt do những tháng cuối năm 2001 xuất khẩu đã xuống thấp, nhưng quan trọng hơn là Chính phủ cũng như các cấp, các ngành đã và đang tích cực tìm biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu. Khắc phục được tình trạng giảm sút về xuất khẩu sẽ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội đã đề ra đầu năm.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ