1. Tình hình sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, các địa phương phía Nam đang tập trung thu hoạch lúa đông xuân đại trà, năng suất ước tính đạt 54,6 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng ước đạt 10 triệu tấn, giảm 14,9 vạn tấn. Riêng đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch xong với năng suất bình quân 56,5 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha và sản lượng đạt 8,5 triệu tấn, giảm 16,5 vạn tấn so với vụ đông xuân năm 2002 (Tiền Giang năng suất bình quân 58,7 tạ/ha, giảm 2,6 tạ/ha và sản lượng đạt 52,2 vạn tấn, giảm 3,2 vạn tấn; Kiên Giang 52,6 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha và sản lượng đạt 140,2 vạn tấn, tăng 5,5 vạn tấn).
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân của các địa phương phía Bắc ước đạt 1178 nghìn ha. Đến nay một số tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đã thu hoạch được 189 nghìn ha trà lúa sớm, chiếm 56% diện tích gieo cấy.
Cùng với thu hoạch lúa đông xuân, tính đến ngày 15/5 các địa phương phía Nam còn gieo xạ được 1213,2 nghìn ha lúa hè thu, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long 1093,1 nghìn ha, tăng 4,3% (trong đó, An Giang 212 nghìn ha; Đồng Tháp 178 nghìn ha…)
Cũng đến trung tuần tháng 5, cả nước còn gieo trồng được 490,8 nghìn ha ngô, bằng 111,7% cùng kỳ năm trước; 160,2 nghìn ha khoai lang, bằng 87,2%; 177,5 nghìn ha sắn, bằng 118,9%; 170,3 nghìn ha lạc, bằng 101,9%; 71,8 nghìn ha đậu tương, bằng 104,4%; 21,6 nghìn ha thuốc lá, bằng 93,9%; 34,3 nghìn ha mía, bằng 58,7% và 365,9 nghìn ha rau đậu, bằng 103,6%.
2. Sản xuất công nghiệp
Công nghiệp tháng 5 trên địa bàn của một số tỉnh, thành phố cả nước tăng không đồng đều. Các tỉnh thành phố như Hà Nội, Hà Tây, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Cần Thơ tiếp tục tăng khá hơn mức tăng của công nghiệp 4 tháng. Bên cạnh đó mức tăng công nghiệp tháng 5 của một số tỉnh, thành phố lại thấp hơn mức tăng 4 tháng như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu, Hải Phòng, Hải Dương, Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
Tính chung 5 tháng đầu năm giá trị sản xuất công nghiệp ước tính tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,9% (Trung ương quản lý tăng 11,8%; địa phương quản lý tăng 12%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,4% (dầu mỏ và khí đốt tăng 9%; các doanh nghiệp khác tăng 20,8%). Các tỉnh, thành phố có mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp cao hơn mức tăng 15,6% của công nghiệp cả nứơc là Hà Nội tăng 29,3%; Hà Tây tăng 25%; Phú Thọ tăng 20,1%; Thanh Hoá tăng 18,8%; Đà Nẵng tăng 17,9%; Khánh Hòa tăng 22%; Bình Dương tăng 34,6%; Đồng Nai tăng 17,2%; Cần Thơ tăng 21,1%. Một số tỉnh, thành phố có mức tăng trưởng thấp hơn tốc độ tăng bình quân của cả nước như: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 14,9%; Hải Dương tăng 12,1%; Quảng Ninh tăng 12,3%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 9,1%… Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ là thuỷ sản chế biến tăng 21,7%; quần áo may sẵn tăng 61,3%; giấy bìa tăng 18,1%; phân hoá học tăng 18,1%; xi măng tăng 14,6%; thép cán tăng 22,7%; máy công cụ tăng 17,6%, động cơ diesel tăng 111,2%; động cơ điện tăng 29,2%; quạt điện dân dụng tăng 50,8%; các sản phẩm lắp ráp tăng 17-40,3%; điện tăng 14,6% và dầu thô tăng 7,4%.
3. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 5 tháng đầu năm 2003 ước đạt gần 9 nghìn tỷ đồng, đạt 40,5% kế hoạch năm. Vốn trung ương quản lý thực hiện gần 5 nghìn tỷ đồng, đạt 42,3% kế hoạch, trong đó Bộ Giao thông Vận tải thực hiện được 2,4 nghìn tỷ đồng (chiếm 48% tổng vốn trung ương quản lý) đạt 47,3%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện được 671 tỷ đồng, đạt 38%, Bộ Y tế thực hiện 141,1 tỷ đồng đạt 30%, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện 90 tỷ đồng, đạt 40%. Vốn địa phương quản lý thực hiện 4 nghìn tỷ đồng, đạt 38,4% kế hoạch.
5 tháng đầu năm 2003 thời tiết tương đối thuận lợi, các bộ, địa phương đã tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm như: các công trình đê điều, thuỷ lợi; công trình phục vụ SEA GAME 22; công trình giao thông và dự án xây dựng cụm tuyến dân cư vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long. Riêng các công trình bồi trúc đê điều của một số tỉnh như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bình Định… đến nay đã cơ bản hoàn thành kế hoạch trước mùa mưa lũ.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 20/5/2003 đã có 235 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký gần 633 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước số dự án tuy có giảm 14%, nhưng số vốn đăng ký tăng 30%. Trong đó ngành công nghiệp, xây dựng có 186 dự án với số vốn đăng ký 403,9 triệu USD, chiếm 79% về số dự án và 63,8% về vốn đăng ký. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 11 dự án với số vốn đăng ký 18,6 triệu USD, chiếm 4,7% về số dự án và 3 % về vốn đăng ký.
Các dự án tập trung phần lớn vào các tỉnh, thành phố phía Nam, trong đó thành phố Hồ Chí Minh có 61 dự án với số vốn đăng ký là 176,3 triệu USD; Bình Dương 45 dự án với số vốn 89 triệu USD; Đồng Nai có 22 dự án với số vốn gần 60,6 triệu USD. Các tỉnh phía Bắc có 64 dự án với số vốn 192,8 triệu USD, chiếm 27,4% về dự án và 30,5% về vốn. Trong đó Hà Nội có 13 dự án với 12,3 triệu USD, Hải Phòng 15 dự án với 75,4 triệu USD, Vĩnh Phúc 10 dự án với 39,1 triệu USD, Phú Thọ có 4 dự án với 13,3 triệu USD, Hải Dương có 5 dự án với 11,6 triệu USD, Quảng Ninh 2 dự án với 11,2 triệu USD…
Theo đối tác đầu tư và theo số vốn đăng ký, BritishVirgin Islands 9 dự án với 148,2 triệu USD; Đài Loan 68 dự án (đứng đầu về số dự án) với 123,3 triệu USD; Hàn Quốc 58 dự án với 86,4 triệu USD; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 17 dự án với 73,5 triệu USD; Singapo 8 dự án với 35,7 triệu USD; Trung Quốc 17 dự án với 32,8 triệu USD; Mỹ 7 dự án với 22,6 triệu USD; Nhật Bản 10 dự án với 15,2 triệu USD…
4. Vận tải
Vận chuyển hành khách 5 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 371,5 triệu lượt hành khách và 13,2 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,6% về khối lượng vận chuyển và tăng 2,6% về khối lượng luân chuyển. Trong các ngành vận tải hành khách, vận chuyển hành khách bằng đường không 5 tháng giảm cả về số khách và số hành khách.km (số hành khách vận chuyển chỉ đạt 93,8% so với 5 tháng 2002 và số hành khách luân chuyển chỉ bằng 94,2%). Vận chuyển hàng hoá đạt trên 70,1 triệu tấn và 20,9 tỷ tấn.km, tăng 4,7% về khối lượng vận chuyển và 1,1% về khối lượng luân chuyển. Hàng hoá luân chuyển bằng đường biển (chiếm khoảng 73% tổng số hàng hoá luân chuyển) chỉ đạt 99,7% cùng kỳ năm trước, do ảnh hưởng chiến tranh ở Irắc.
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội 5 tháng đầu năm ước tính đạt 123,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 20,3 nghìn tỷ đồng (chiếm 16,4% tổng mức) tăng 5,3%; khu vực kinh tế tập thể đạt 1,1 nghìn tỷ (chiếm 0,9%) tăng 21,5%; khu vực kinh tế cá thể đạt 80,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 65,4%), tăng 9,2%; khu vực kinh tế tư nhân đạt 19,1 nghìn tỷ (chiếm 15,4%) tăng 20,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,3 nghìn tỷ (chiếm 1,9%) chỉ tăng 7,4% (mức tăng của 4 tháng đầu năm là 14%).
Giá tiêu dùng tháng 5/2003 giảm 0,1% so với tháng trước, trong đó nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng giảm 0,5%; lương thực, thực phẩm và văn hoá, thể thao, giải trí đều giảm 0,3% (riêng lương thực giảm 0,9%). Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng hoá có mức tăng đáng kể như: Dược phẩm, y tế tăng 1,3%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,5%. Các nhóm còn lại tăng giảm không đáng kể.
So với tháng 12/2002, giá tiêu dùng tháng 5/2003 tăng 2,4% với hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu đều tăng, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm; đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giầy dép; phương tiện đi lại, bưu điện; đồ dùng và dịch vụ khác tăng từ 2,0% đến 2,1%; nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 2,9%; tăng cao nhất là dược phẩm, y tế tăng 13,7%.
Giá vàng tháng 5/2003 tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 6,1% so với tháng 12/2002; giá đô la Mỹ không tăng so với tháng trước nhưng tăng 0,5% so với tháng 12/2002.
Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 31,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 3,8 tỷ USD, tăng 20,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 4,1 tỷ USD, tăng 43,5%. Một số mặt hàng chiếm tỷ trọng kim ngạch lớn xuất khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2002 là: Dầu thô tăng 40,7% (lượng xuất khẩu chỉ tăng 4,7%) và đóng góp vào mức tăng xuất khẩu chung là 26%; hàng dệt, may tăng 70,7% và đóng góp 30,6%; giày dép tăng 21,8% và đóng góp 8,5%; điện tử, máy tính tăng 39,4% và đóng góp 4%; gạo tăng 28,5% (lượng xuất khẩu tăng tới 47,4%) và đóng góp 4,2%; cà phê tăng 53% (lượng xuất khẩu giảm 19,9%); cao su tăng 34,8% (lượng xuất khẩu giảm 14%); hạt điều tăng 34,2%. So với cùng kỳ năm trước, ngoài một số mặt hàng xuất khẩu được giá như dầu thô, cà phê, cao su thì mặt hàng gạo bị giảm giá và một vài mặt hàng giá giảm nhiều như rau quả, hạt tiêu, lạc.
Kim ngạch nhập khẩu 5 tháng đầu năm nay ước tính đạt hơn 10 tỷ USD, tăng 38,8% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu trên 6,6 tỷ USD, tăng 38,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu gần 3,4 tỷ USD, tăng 39,9%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 49,2%, đóng góp 23,9% vào mức tăng chung; xăng dầu tăng 43,8% (chủ yếu do giá nhập tăng), đóng góp 11,8%; sắt thép tăng 88,1% (lượng nhập chỉ tăng 23,9%), đóng góp 14,1%; nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 29,8%, đóng góp 6,8 %; vải tăng 67,8%, đóng góp 7,9%; phân bón tăng 32,6%; hoá chất tăng 28,1%; chất dẻo tăng 28,7% (lượng nhập chỉ tăng có 1,5%); tân dược tăng 30,6%; sản phẩm hoá chất tăng 34,6%. Nhập siêu 5 tháng đầu năm nay tăng khá cao, ước tính đạt 2107 triệu USD, bằng 26,7% kim ngạch xuất khẩu (nhập siêu cùng kỳ năm 2002 ở mức 962 triệu USD, chiếm 16,3% kim ngạch xuất khẩu), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2827 triệu USD (bằng 28,3% kim ngạch xuất khẩu); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 720 triệu USD.
Khách quốc tế đến nước ta tháng 5 giảm nhiều so với mức tăng của 3 tháng đầu năm 2003 và so với tháng 5 năm 2002, mặc dù Việt Nam đã được Tổ chức Y tế Thế giới công bố là đã khống chế được dịch SARS. Do vậy, lượng khách quốc tế đến nước ta 5 tháng đầu năm 2003 giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước: Lượng khách ước tính đạt 967,5 nghìn lượt người, giảm 10,3%, trong đó khách đến với mục đích du lịch 505,7 nghìn lượt người (chiếm 52,3% tổng số khách) giảm 15,2%; vì công việc 166,9 nghìn lượt người, giảm 5,6%; thăm thân nhân 160,9 nghìn lượt người, giảm 11,2%; mục đích khác 134 nghìn lượt người, tăng 7,8%.
6. Ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách 5 tháng ước tính đạt 42,4% dự toán cả năm và tăng 10,4% so với cùng kỳ 2002. Các khoản thu chủ yếu của ngân sách đều đạt tương đối cao: Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 43,8% dự toán cả năm và tăng 23,3% so với cùng kỳ; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 44,2% và tăng 26,1%; thu từ dầu thô đạt 48,4% và tăng 8,5%; thu từ xuất nhập khẩu (đã trừ hoàn thuế GTGT) đạt 40,9% và tăng 4,8%. Riêng thu từ doanh nghiệp nhà nước tuy tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước nhưng mới đạt 36,7% dự toán cả năm.
Tổng chi ngân sách nhà nước 5 tháng đầu năm ước đạt 37,1% dự toán và tăng 16,2% so với cùng kỳ (sở dĩ mức tăng so với cùng kỳ cao là do các khoản chi mới phát sinh như chi thực hiện chế độ tiền lương mới), trong đó chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội (chi thường xuyên) đạt 41% và tăng 0,6%; chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 35,9% và tăng 6,5%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đều đạt khá và tăng so với cùng kỳ: Chi giáo dục- đào tạo đạt 40,3% và tăng 0,5%; chi y tế đạt 40,8% và tăng 0,5%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 42,4% và tăng 0,2%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 41,5% và tăng 3,4%; chi thực hiện chế độ tiền lương mới đạt 40,4%. Bội chi ngân sách 5 tháng bằng 19,9% mức bội chi ngân sách cả năm Quốc hội cho phép và được cân đối chủ yếu bằng nguồn vay trong nước.
7. Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong dân
Theo báo cáo của 34 tỉnh, thành phố, đến thời điểm 20/5/2003 có 191,7 nghìn lượt hộ với 890,5 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 1,5% số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp. Tình hình thiếu đói trong tháng 5 đã giảm cả về số hộ và số nhân khẩu so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, số hộ thiếu đói giảm 13,5% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 8,4%; so với cùng kỳ năm trước, số hộ thiếu đói giảm 24,7% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 23,6%. Để giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ gần 5,6 nghìn tấn lương thực và 7,2 tỷ đồng.
Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, trong tháng 5 có 8,7 nghìn người bị sốt rét, tăng 27,2% so với tháng trước, trong đó có 3 người chết (Gia Lai chết 2 người; Kon Tum 1 người). Cũng trong tháng 5 có 1,4 nghìn người bị sốt xuất huyết, tăng 3,6% so với tháng trước, trong đó có 2 người chết. Một số tỉnh có số người bị sốt xuất huyết cao là: Tiền Giang 261 người; Đồng Tháp 138 người; Bến Tre 129 người… Tính từ đầu năm đến ngày 19/5/2003, trong cả nước có 7 nghìn người bị sốt xuất huyết, trong đó có 13 người chết.
Về dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS), từ ngày 8/4/2003 đến nay trong cả nước không có bệnh nhân SARS mới và không còn bệnh nhân SASR nào đang điều trị tại bệnh viện. Ngày 28/4/2003, Tổ chức Y tế Thế giới công nhận Việt Nam đã khống chế được dịch SARS. Hiện nay, Bộ Y tế vẫn tiếp tục triển khai các biện pháp giám sát chặt chẽ dịch SARS, một trong những biện pháp đó là tăng cường giám sát đối với những người xuất nhập cảnh, nhất là những người đến từ vùng có dịch.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Trong tháng 5 đã phát hiện 1680 trường hợp nhiễm HIV, tăng 13,5% so với tháng trước, đưa tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/5/2003 lên 65,8 nghìn người, trong đó số bệnh nhân AIDS là gần 10,1 nghìn người và trên 5,6 nghìn người đã chết do AIDS. Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS vẫn tập trung vào nhóm có nguy cơ cao như tiêm chích ma tuý, gái mại dâm. Cũng trong tháng 5, tại Thanh Hoá, Kiên Giang, Quảng Nam, Bắc Kạn, An Giang, Phú Yên đã xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm với 266 người bị ngộ độc làm chết 1 người. Tính từ đầu năm đến 16/5/2003 trong cả nước đã có trên 1,7 nghìn người bị ngộ độc, trong đó có 14 ca tử vong.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 4/2003, cả nước đã xảy ra 1630 vụ tai nạn giao thông, làm chết 892 người và làm bị thương 1644 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 28,8%; số người chết giảm 7,8% và số người bị thương giảm 36%. So với tháng 3/2003, số vụ tai nạn giảm 4,1%; số người chết và bị thương giảm 1,7%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2003 trên phạm vi cả nước xảy ra 8,4 nghìn vụ tai nạn giao thông làm chết 4 nghìn người và làm bị thương 9,2 nghìn người, giảm 24% về số vụ; giảm 6,6% số người chết và giảm 26,7% số người bị thương so với 4 tháng đầu năm 2002. So với cùng kỳ năm 2002, bình quân mỗi ngày nước ta đã giảm được 22,1 vụ tai nạn giao thông; giảm 2,4 người chết và giảm 27,9 người bị thương.
Thiệt hại thiên tai
Trong tháng đã xảy ra tình trạng bão lốc, lốc xoáy kèm mưa đá ở nhiều tỉnh trong cả nước như: Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Gia Lai, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Tháp, An Giang gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 7 người chết, 2 người mất tích và 25 người bị thương; 3,4 nghìn ngôi nhà bị tốc mái, hư hại; trên 2 nghìn ha lúa, màu bị ngập, hư hại và nhiều công trình kinh tế- xã hội bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 13 tỷ đồng.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ