1. Sản xuất nông nghiệp.
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp trong tháng 8 là gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thu hoạch lúa hè thu. Tính đến ngày 15/8/2003, cả nước đã gieo cấy được 1496,5 nghìn ha lúa mùa, bằng 102,9% cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1224,7 nghìn ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước; trong đó vùng đồng bằng sông Hồng 590,1 nghìn ha, bằng 99,1%, vùng Bắc Trung Bộ 195,1 nghìn ha, bằng 95,9%; các địa phương phía Nam gieo cấy 271,8 nghìn ha, bằng 117,2%.
Thời tiết không thuận do hạn hán kéo dài từ giữa tháng 7 đến đầu tháng 8 đã làm khô hạn 20 nghìn ha lúa mùa và trên 4000 ha ngô của một số địa phương vùng Bắc Trung Bộ, trong đó diện tích lúa bị hạn nặng là 8,8 nghìn ha.
Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương phía Nam tiếp tục thu hoạch lúa hè thu chính vụ. Tính đến trung tuần tháng 8, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1147,6 nghìn ha, bằng 107,2% cùng kỳ năm trước và chiếm 53,5% diện tích gieo cấy; trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long 1043 nghìn ha, bằng 106,8% và chiếm 56,5% (An Giang thu hoạch 212 nghìn ha, chiếm 82%; Đồng Tháp 188 nghìn ha, chiếm 81%; Tiền Giang 102 nghìn ha, chiếm 76%).
Cũng đến thời điểm này cả nước đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ gieo trồng các loại cây trồng khác như: Diện tích gieo trồng ngô đạt 740,7 nghìn ha, bằng112,7% cùng kỳ năm trước; khoai lang 187 nghìn ha, bằng 92,7%; sắn 294,6 nghìn ha, bằng 118,6%. Diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm và rau đậu các loại đạt 970,3 nghìn ha, bằng 97,5% cùng kỳ năm trước; trong đó lạc 206 nghìn ha, bằng 100,6%; đậu tương 121,6 nghìn ha, bằng 102%; thuốc lá 22 nghìn ha, bằng 88%; rau đậu 525,7 nghìn ha, bằng101,2%.
2. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 8 ước tính đạt 26,6 nghìn tỷ, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,6% (Trung ương quản lý tăng 10,6%; địa phương quản lý tăng 13,3%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,9% (dầu mỏ và khí đốt tăng 7,7%; các doanh nghiệp khác tăng 22,8%).
Một số tỉnh và thành phố có giá trị sản xuất công nghiệp lớn có tốc độ tăng cao so với tháng 8/2002 và cao hơn mức tăng 7 tháng là Hải Phòng tăng 29,1%; Quảng Ninh tăng 20,8%; Hải Dương tăng 31,4%; Đà Nẵng tăng 33,5%; Bình Dương tăng 36,9%; Đồng Nai tăng 19,9%. Công nghiệp trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh thành phố như Hà Tây, Thanh Hoá, Khánh Hoà tuy tốc độ tăng có thấp hơn mức tăng 7 tháng, nhưng vẫn đạt mức cao hơn mức tăng 16,3% của công nghiệp tháng 8 cả nước. Riêng công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh chỉ tăng 11,8% so với cùng kỳ, Bà Rịa- Vũng Tàu chỉ tăng 7,6%.
Qui mô sản xuất công nghiệp thường xuyên được mở rộng cả về số lượng doanh nghiệp mới, cả về đầu tư thêm vốn mở rộng sản xuất đã làm cho khối lượng những sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp tháng 8 giữ được tốc độ tăng cao so với cùng kỳ và tương đối ổn định như thuỷ sản chế biến, xi măng, điện, động cơ diesel, quạt điện dân dụng, ti vi lắp ráp, ô tô lắp ráp… Một số sản phẩm tháng 8 tuy có tốc độ tăng thấp hơn nhiều so với mức tăng 7 tháng, nhưng vẫn là những sản phẩm có tốc độ tăng cao so với tháng 8 năm 2002 là quần áo may sẵn tăng 30,8%; quần áo dệt kim tăng 25,4%; động cơ điện tăng 13,1%. Các sản phẩm có tốc độ tăng tháng 8 so với cùng kỳ tương đối thấp là thép cán tăng 3,6%; giấy bìa tăng 4,6%; phân hoá học tăng 5,3%. Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ là máy công cụ giảm 50%; xe đạp hoàn chỉnh giảm 24%; xe máy giảm 5,2%; thuốc viên giảm 5,8%; than giảm 3,1%…
Trong tháng 8, một số sản phẩm có mức tăng sản lượng thấp hơn mức tăng 7 tháng là do: (1) tháng 8 là tháng thứ 2 Việt Nam tham gia thực hiện cắt giảm thuế theo lộ trình AFTA (bắt đầu thực hiện từ 1 tháng 7) nên sự cạnh tranh của các mặt hàng nhập khẩu cùng loại có ảnh hưởng tới sản xuất một số mặt hàng sản xuất trong nước như: Tivi, giấy bìa, đường, phân hoá học, thuốc chữa bệnh, sứ vệ sinh, bột ngọt; (2) Một số sản phẩm sản xuất có tính chất mùa vụ như than khai thác giảm 3% do bắt đầu mùa mưa, đường mật giảm do hết mùa nguyên liệu; (3) Do rào cản phi thuế của các thị trường lớn ảnh hưởng đến các mặt hàng xuất khẩu như thuỷ sản chế biến (cá tra, cá ba sa, tôm…)
Tính chung 8 tháng giá trị sản xuất công nghiệp ước tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,3%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,4% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,8%.
3. Đầu tư
Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung thực hiện trong 8 tháng được 17059,5 tỷ đồng, đạt 75,5% kế hoạch năm. Vốn trung ương quản lý đạt 9981,3 tỷ đồng đạt 84,1%, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 87,8%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 95,3%, Bộ Y tế đạt 63,4%, Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 62%, Bộ Thuỷ sản đạt 61,7%, Bộ Văn hoá Thông tin đạt 60,2%, Bộ Công nghiệp đạt 52,8%, Bộ Xây dựng 45,6%.
Vốn địa phương quản lý 7078,2 tỷ đồng, đạt 65,9% hoạch năm. Có 25 tỉnh thành phố đạt từ 70% kế hoạch năm trở lên là: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, Gia Lai, Kom Tum, Lâm Đồng, Bình Thuận, Bình Phước, Long An, Tiền Giang, An Giang… Đạt dưới 70% kế hoạch năm có 36 tỉnh, thành phố, trong đó có 6 tỉnh, thành phố mới đạt dưới 50% kế hoạch năm: Tuyên Quang, Lào Cai, thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
Việc xây dựng các cụm tuyến dân cư chống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long đang có khó khăn trong qui hoạch và nguồn vốn. Nguyên nhân chủ yếu là các ngành, địa phương chưa phối hợp tốt trong việc lồng ghép các chương trình kinh tế-xã hội với việc xây dựng hạ tầng cơ sở ở địa phương.
Khó khăn trong công tác đầu tư và xây dựng nổi lên hiện nay vẫn là công tác giải phóng mặt bằng chậm và tình trạng nợ đọng vốn đối với nhà thầu đã làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công nhiều công trình trọng điểm.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 20/8/2003 có 385 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 1059,1 triệu USD. So với cùng kỳ năm trước giảm 6,8% về số dự án nhưng tăng 37,3% về vốn đăng ký. Theo ngành kinh tế, các dự án tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 256 dự án và 634,3 triệu USD, chiếm 66,5 % về số dự án và 59,9% về vốn đăng ký.
Các dự án tiếp tục tập trung vào các tỉnh miền Đông Nam Bộ, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 115 dự án với 206,1 triệu USD, Bình Dương 72 dự án với 146,6 triệu USD, Bà Rịa-Vũng Tàu 6 dự án với 131,1 triêu USD, Đồng Nai 34 dự án với 104,9 triệu USD. Ở các tỉnh phía bắc, Hải Phòng có 18 dự án đứng đầu về số vốn đăng ký với 91,6 triệu USD, Hà Nội 29 dự án với 63,9 triệu USD, Vĩnh Phúc 9 dự án với 46 triệu USD, Phú Thọ 11 dự án với 43,6 triệu USD, Quảng Ninh 6 dự án với 24,2 triệu USD…
Theo đối tác, có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư, trong đó Đài Loan đứng đầu với số vốn đăng ký 213,2 triệu USD, tiếp theo là quần đảo Virgin thuộc Anh 172,7 triệu USD; Hàn Quốc 153,8 triệu USD, Oxtrâylia 107,7 triệu USD, Hồng Kông 94,2 triệu USD, Nhật Bản 68,4 triệu USD, Trung Quốc 51 triệu USD…
4. Vận tải
Vận chuyển hành khách 8 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 581,7 triệu lượt hành khách và gần 25,9 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 4,5% về khối lượng vận chuyển và 3,0% về khối lượng luân chuyển. Trong các loại vận chuyển hành khách, vận chuyển hành khách bằng đường hàng không chỉ bằng 91,9% số hành khách vận chuyển 8 tháng 2002 và chỉ bằng 90% số hành khách luân chuyển. Nguyên nhân hành khách vận chuyển bằng hàng không đạt thấp là do khách quốc tế vào Việt Nam giảm tới gần 20%, trong đó khách vào du lịch giảm 29,6% và vào thăm người thân, thăm bạn bè giảm 16,7% so với 8 tháng năm 2002.
Vận chuyển hàng hoá đạt 166,5 triệu tấn và 36,3 tỷ tấn.km, tăng 6,3% về khối lượng và 3,0% về khối lượng luân chuyển. Trong các loại đường vận chuyển, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển chỉ tăng 2,8% và khối lượng luân chuyển bằng đường biển (chiếm 68,9% tổng khối lượng luân chuyển) chỉ tăng 1,5%.
Nhìn chung, 8 tháng qua ngành vận tải đã đáp ứng được nhu cầu về vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân. Riêng hai thành phố lớn là Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh số người đi xe buýt tiếp tục tăng đồng thời tình hình trật tự an toàn giao thông cũng ngày càng tốt hơn.
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 8 tháng năm nay ước tính đạt 201 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực kinh tế Nhà nước (chiếm 16,8% tổng mức) tăng 8,8%; khu vực kinh tế tập thể tăng 23,4%; khu vực kinh tế cá thể (chiếm 64,8%) tăng 9,4%; khu vực kinh tế tư nhân (chiếm 15,7%) tăng 21,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7,8%. Trong các ngành kinh doanh, trừ ngành du lịch doanh thu giảm 9,9% còn các ngành khác đều tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước: Thương nghiệp (chiếm 81,1%) tăng 10,8%; khách sạn, nhà hàng tăng 13,6%; dịch vụ tăng 14,5%.
So với tháng trước giá tiêu dùng tháng 8/2003 không có biến động lớn, chỉ giảm 0,1%. Giá tiêu dùng của các nhóm hàng giảm là thực phẩm giảm 0,4%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,3%; phương tiện đi lại, bưu điện; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,1%; Các nhóm hàng hoá và dịch vụ có giá tăng là dược phẩm, y tế và giáo dục tăng 0,3%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,2%; các nhóm còn lại tăng 0,1% so với tháng trước. Riêng giá hàng may mặc, giày dép mũ nón không thay đổi.
So với tháng 12/2002, giá tiêu dùng tháng 8/2003 tăng 1,7%. Hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu đều tăng, trong đó nhóm dược phẩm, y tế tăng tới 14,3%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 2,9%; các nhóm hàng khác tăng từ 0,8 đến 2,2%; riêng lương thực giảm 2,3% và văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,9%.
Giá vàng tháng 8/2003 tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 10% so với tháng 12/2002; giá đô la Mỹ tương ứng tăng 0,1% và tăng 0,9%.
Kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm 2003 ước tính đạt 13,3 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu 8 tháng của khu vực kinh tế trong nước xấp xỉ kim ngạch của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) nhưng chỉ tăng 18,3%, trong khi kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng tới 38,2%.
Hầu hết các mặt hàng chủ yếu có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2002. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng có tốc độ tăng cao và được lợi về giá là dầu thô, cà phê, cao su và hạt điều: kim ngạch xuất khẩu dầu thô tăng 27,7% (lượng xuất khẩu chỉ tăng 4,1%) và đóng góp vào mức tăng xuất khẩu chung là 19%; cà phê tăng 64,5% (lượng xuất khẩu giảm 6,1%) và đóng góp 4,3%; cao su tăng 41,7% (lượng xuất khẩu giảm 5,7%); hạt điều tăng 33,7% (lượng tăng 32%). Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may tăng 57,9% và đóng góp 33,2%; giày dép tăng 28,9% và đóng góp 12,3%; điện tử, máy tính tăng 31,5%.
Trong 8 tháng năm nay các sản phẩm gỗ; dây điện và dây cáp điện; sản phẩm nhựa; xe đạp và phụ tùng xe đạp là những mặt hàng xuất khẩu mới nổi có kim ngạch khoảng 100 triệu trở lên và có tốc độ tăng cao: Sản phẩm gỗ tháng 8 ước đạt 45 triệu USD, tính chung 8 tháng đạt 354 triệu USD và tăng 41,2% so với 8 tháng năm 2002; dây điện và dây cáp điện tháng 8 ước đạt 22 triệu USD, 8 tháng đạt 176 triệu USD và tăng 58,2%; sản phẩm nhựa tháng 8 đạt 16 triệu USD, 8 tháng đạt 115 triệu USD và tăng 19,1%; xe đạp và phụ tùng xe đạp 8 tháng đạt 95 triệu USD và tăng 27,1%. Riêng gạo xuất khẩu tuy tăng 23,5% về lượng nhưng kim ngạch chỉ tăng 4,9%; xuất khẩu chè giảm 26,3% về kim ngạch và giảm 22,9% về lượng; xuất khẩu rau quả giảm 28,4%.
Kim ngạch nhập khẩu 8 tháng năm 2003 ước tính đạt 16,2 tỷ USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu gần 10,5 tỷ USD, tăng 30,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 5,7 tỷ USD, tăng 38,8%.
Kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với 8 tháng năm trước ở hầu hết các mặt hàng chủ yếu là những mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước và cho sản xuất hàng xuất khẩu: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu trên 3,3 tỷ USD, tăng 41,4% và đóng góp vào tăng nhập khẩu chung là 24,1%; xăng dầu nhập khẩu trên 1,6 tỷ USD, tăng 25,3% và đóng góp 8,1%; sắt thép nhập gần 1,2 tỷ USD, tăng 45,7% và đóng góp 9%; nguyên phụ liệu dệt, may, da nhập gần 1,4 tỷ USD tăng 27,4% và đóng góp 7,2 %; điện tử, máy tính tăng 41,5%; vải tăng 50,3% và đóng góp 7,6%; phân bón tăng 26,6%; hoá chất tăng 27,2%; chất dẻo tăng 25,3%; sản phẩm hoá chất tăng 25,8%; ô tô và phụ tùng ô tô tăng 30,7%. Tuy nhiên, cũng ở những mặt hàng trên kim ngạch nhập khẩu 8 tháng tăng chủ yếu do yếu tố tăng giá vì nhiều mặt hàng có lượng tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như xăng dầu chỉ tăng 0,3%, chất dẻo tăng 6,6%, sắt thép giảm 0,4% (phôi thép giảm 11,6%); sợi dệt giảm 17,6%; bông giảm 13,7%.
Nhập siêu 8 tháng năm nay tăng cao, ước tính là 2915 triệu USD, bằng 21,9% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3882 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 967 triệu USD. Như vậy nhập siêu vẫn tiếp tục gia tăng ở khu vực kinh tế trong nước và đây sẽ là yếu tố làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và là thách thức lớn đối với nền kinh tế, nhất là khu vực kinh tế trong nước.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 8 tiếp tục tăng trở lại và tăng cao so với tháng trước, nhất là khách dến du lịch; ước tính tháng 8 lượng khách tăng 26% so với tháng trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch tăng 53,7%. Tuy vậy, ước tính chung 8 tháng lượng khách quốc tế đến Việt Nam mới đạt 1421 nghìn lượt người, giảm 19,4% so với cùng kỳ năm 2002, chủ yếu do khách đến với mục đích du lịch giảm 29,6%; thăm thân nhân giảm 16,7%. Khách đến vì công việc trong 8 tháng chỉ giảm 2,3% và vì mục đích khác tăng 1,6%.
6. Ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước Nhà nước tháng 8 ước thực hiện đạt 70,3% dự toán cả năm và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Thu nội địa (không kể dầu thô) đạt 68% so với dự toán và tăng 8,3% cùng kỳ, trong đó thu từ kinh tế quốc doanh đạt 62% dự toán và tăng 8,2%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 69,7% dự toán và tăng 13,1%; Thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 70,8% và tăng 13,8%. Thu từ dầu thô đạt 85,8% dự toán cả năm và tăng 20,7% so với cùng kỳ. Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu (phần cân đối ngân sách) đạt 64,1% dự toán cả năm và tăng 8,7%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 8 tháng ước thực hiện đạt 64% dự toán và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 61,2% dự toán và tăng 4,3%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội đạt 66,4% và tăng 4,7%. Các khoản chi trong chi phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội có mức tăng cao so với cùng kỳ là chi giáo dục, đào tạo tăng 6,3%; chi y tế tăng 5,9%; chi khoa học công nghệ và môi trường tăng 8,9%; chi văn hoá thông tin tăng 5,2%, chi sự nghiệp kinh tế tăng 7%.
Do sản xuất kinh doanh đạt tốc độ tăng khá nên thu ngân sách Nhà nước đã đáp ứng được nhu cầu các khoản chi ngân sách quan trọng. Bội chi ngân sách Nhà nước luỹ kế 8 tháng bằng 46,1% mức bội chi cả năm Quốc hội quyết định và được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và ngoài nước.
Bên cạnh những thuận lợi, tình hình kinh tế và thu ngân sách cũng phát sinh một số khó khăn, đó là: (1) Sản xuất và tiêu thụ một số sản phẩm như thép, giấy… đang gặp khó khăn. Giá phôi thép nhập khẩu tăng cao nhưng lượng thép xây dựng tiêu thụ chậm dẫn đến tồn kho tăng; giá giấy nhập khẩu khi thực hiện AFTA sẽ càng rẻ hơn giấy sản xuất trong nước sẽ tác động đến tiêu thụ giấy được sản xuất trong nước; (2) Giá xăng dầu nhập khẩu vẫn duy trì ở mức cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nhập khẩu.
7. Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong dân
Theo báo cáo của 29 tỉnh, thành phố, đến thời điểm 21/8/2003, có 51,5 nghìn hộ với 24 vạn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm trên 0,4% số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp. Mặc dù thiếu đói trong tháng 8 tăng khoảng 9,8% so với tháng trước, nhưng so với tháng 8 năm 2002 số hộ thiếu đói đã giảm 18,9%. Để hỗ trợ các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các địa phương đã trợ giúp cho các hộ thiếu đói gần 6,6 nghìn tấn lương thực và 12,3 tỷ đồng, riêng tháng 8 là 166 tấn lương thực và 613 triệu đồng.
Tình hình dịch bệnh
Trong tháng 8 có gần 14 nghìn lượt người bị sốt rét, tăng 65,8% so với tháng trước, trong đó 2 người đã tử vong. Tính từ đầu năm đến 19/8/2003, trong cả nước có 82,2 nghìn người bị sốt rét, trong đó 19 người đã tử vong. Một số tỉnh có số người bị sốt rét cao là Lai Châu, Quảng Nam, Quảng Trị, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Gia Lai và Cà Mau. Cũng trong tháng 8, có trên 2,6 nghìn người bị sốt xuất huyết, tăng 28,8% so với tháng trước, trong đó 5 người đã chết. Số người bị sốt xuất huyết từ đầu năm đến 19/8/2003 là 17,2 nghìn người, trong đó 39 trường hợp đã tử vong. Một số tỉnh có số người bị sốt xuất huyết cao là Tiền Giang, Bến Tre và Kiên Giang.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Trong tháng 8 đã phát hiện thêm 1510 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 262 bệnh nhân AIDS, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/8/2003 lên 70,1 nghìn người, trong đó có trên 10,7 nghìn bệnh nhân AIDS và khoảng 6 nghìn người chết do AIDS. Trong tháng cũng đã xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm với 224 người bị ngộ độc, nâng số người bị ngộ độc tính từ đầu năm đến nay là 2640 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 27 người đã tử vong.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 7/2003, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1653 vụ tai nạn giao thông làm chết 986 người và làm bị thương 1697 người. Tai nạn giao thông trong tháng 7 tuy xảy ra nhiều hơn tháng trước nhưng giảm so với tháng 7 năm 2002: số vụ tai nạn giảm 27,3%, số người bị thương giảm 29,9%, riêng số người chết tăng 4,9%. Tính chung 7 tháng năm 2003, trong cả nước đã xảy ra 12,3 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 7 nghìn người và làm bị thương 12,9 nghìn người.
Trong tổng số tai nạn giao thông, tai nạn xảy ra trên đường bộ chiếm 96,1% với 1589 vụ, làm chết 954 người và làm bị thương 1674 người. Nguyên nhân tai nạn chủ yếu vẫn là do người tham gia giao thông chưa thực hiện nghiêm luật giao thông như chạy quá tốc độ quy định, đi sai phần đường, do tránh, vượt sai quy định…
Thiệt hại thiên tai
Từ ngày 19/7 đến ngày 5/8/2003 đã xảy ra tình trạng mưa to, lũ quét, gió lốc và bão ở Hà Giang, Lai Châu, Hoà Bình, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây, Phú Thọ, Yên Bái, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An, Đắk Lắk, Bến Tre, Bình Thuận, Đồng Nai, Đồng Tháp, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau gây thiệt hại về người và tài sản. Thiên tai đã làm 23 người chết, 48 người bị thương, 4 người mất tích; 5,4 km đê, kè bị sạt lở cuốn trôi; 142 cầu bị hư hỏng; 50 thuyền đánh cá bị vỡ, chìm; trên 14 nghìn ha lúa bị ngập, hư hại, trong đó mất trắng 4 nghìn ha; hàng vạn ha mầu, cây công nghiệp, cây ăn quả bị hư hại; hàng nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi… Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 130 tỷ đồng.
Ngay sau khi xảy ra lụt, bão và thiên tai, các địa phương đã thực hiện ngay công tác cứu hộ, cứu nạn, đồng thời đã có các biện pháp trợ giúp các gia đình bị ảnh hưởng nặng khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống và sản xuất.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ