1. Sản xuất nông nghiệp
a. Nông nghiệp
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng này là tiếp tục gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch lúa đông xuân. Tính đến 15 tháng 4, các địa phương phía Bắc đã cơ bản kết thúc gieo cấy lúa đông xuân, đạt 1157 nghìn ha, bằng 98% diện tích lúa đông xuân 2003. Một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng tiếp tục chuyển đổi diện tích lúa đông xuân cho năng suất thấp sang trồng các loại cây khác hiệu quả hơn hoặc nuôi trồng thuỷ sản.
Cũng đến trung tuần tháng 4, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1680,6 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 92,6% diện tích gieo cấy và bằng 100,8% cùng kỳ năm trước, riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch xong, đạt 1462,6 ha, bằng 99,6% cùng kỳ năm 2003. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 58,4 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó Cần Thơ 67,1 tạ/ha, tăng 5,1 tạ/ha; Tiền Giang 59,8 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha; An Giang 65,1 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha.
Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam còn gieo sạ được 701 nghìn ha lúa hè thu, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 655 nghìn ha, bằng 94,2%.
Đến ngày 15 tháng 4 cả nước đã gieo trồng được 434,7 nghìn ha ngô, bằng 107,2% cùng kỳ năm 2003; 138,2 nghìn ha khoai lang, bằng 90,7%; 135,6 nghìn ha sắn, bằng 95,5%; 177,5 nghìn ha lạc, bằng 107,8%; 80,6 nghìn ha đậu tương, bằng 123,4%; 16,1 nghìn ha thuốc lá, bằng 75,9%; riêng mía do ảnh hưởng của nắng hạn nên chỉ đạt 21,6 nghìn ha, bằng 66,9%.
Trong ngành chăn nuôi, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định trích 245,3 tỷ đồng từ dự phòng ngân sách trung ương năm 2004 để hỗ trợ kinh phí cho các tỉnh, thành phố trong việc phòng, chống dịch cúm gia cầm và khôi phục phát triển sản xuất sau dịch.
b. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trong tháng 4 tập trung chủ yếu vào các hoạt động như: Trồng và chăm sóc rừng trồng mới, quản lý và bảo vệ rừng hiện có, duy trì công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Thời tiết khô hạn đã ảnh hưởng đến kết quả một số hoạt động lâm nghiệp trong tháng này, diện tích rừng trồng tập trung bằng 99% cùng kỳ năm trước, diện tích khoanh nuôi tái sinh bằng 99,3%, số cây trồng phân tán bằng 99,6%, đặc biệt đã xảy ra 324 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 1504 ha, trong đó có vụ cháy 200 ha rừng tràm 2 năm tuổi ở Kiên Giang.
Tính chung 4 tháng đầu năm nay, diện tích rừng trồng tập trung cả nước bằng 98,8% cùng kỳ năm 2003, diện tích rừng được chăm sóc bằng 99,7%, sản lượng gỗ khai thác bằng 99,8%, số cây trồng phân tán bằng 99,6%.
c. Thuỷ sản
Trong tháng 4, thời tiết nhìn chung thuận cho hoạt động khai thác thuỷ sản, có nhiều loại thuỷ sản đã xuất hiện trên biển như: Cá ngừ đại dương, cá cơm, cá mực… nên sản lượng khai thác biển đạt khá. Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản tập trung chủ yếu vào thả giống thuỷ sản và thu hoạch cá lồng, bè. Do nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm tương đối lớn, gây ra dịch bệnh nên một phần diện tích nuôi tôm sú của các tỉnh phía Nam bị thiệt hại, trong đó Bạc Liêu thiệt hại 2366 ha; Kiên Giang 3000 ha; Sóc Trăng 4169 ha; Khánh Hoà 400 ha. Sản lượng thuỷ sản tháng 4 ước tính đạt 235 nghìn tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 67 nghìn tấn, tăng 8,1% (cá tăng 11,8%, tôm tăng 6,3%); sản lượng thuỷ sản khai thác 168 nghìn tấn, tăng 5,7%, riêng sản lượng khai thác biển đạt 156 nghìn tấn, tăng 6,1%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2004, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 920,4 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó cá 671,5 nghìn tấn, tăng 4,1%, tôm 85,7 nghìn tấn, tăng 7,2%, thuỷ sản khác 163,2 nghìn tấn, tăng 3,3%.
2. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp 4 tháng ước tính đạt 114 nghìn tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 41,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% (trung ương quản lý đạt 28,1 nghìn tỷ, tăng 15,2%; địa phương quản lý tăng 7,5%), khu vực ngoài quốc doanh tăng 21,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,1%. Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2004 tăng trưởng cao và ổn định so với cùng kỳ năm trước.
Một số địa phương có qui mô lớn về sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt tốc độ tăng 4 tháng cao so với cùng kỳ là: Hải Phòng tăng 17,1%; Hà Tây tăng 18,7%; Hải Dương tăng 16,5%; Vĩnh Phúc tăng 21,9%; Thanh Hoá tăng 17%; Hà Nội tăng 15,4%; Đà Nẵng tăng 19,1%; Khánh Hoà tăng 23,9%; Bình Dương tăng 32%; Đồng Nai tăng 18,2%; Cần Thơ (mới tách) tăng 24,5%,… Riêng thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất cả nước (chiếm 1/4 giá trị sản xuất công nghiệp) chỉ tăng 13,3%.
Một số sản phẩm công nghiệp có tỷ trọng lớn vẫn giữ được mức tăng cao như: Than khai thác ước đạt 8,1 triệu tấn, tăng 32,4%; dầu thô khai thác đạt 6,6 triệu tấn, tăng 12,5%; thủy sản chế biến tăng 19,9%; quần áo may sẵn tăng 22,6%; giấy bìa tăng 29,2%; xà phòng các loại tăng 19,6%; gạch xây tăng 20,6%; gạch lát tăng 21,3%; máy công cụ tăng 31,6%; tivi tăng 30,9%; xe máy các loại tăng 37%; xe đạp tăng 110,1%; điện tăng 14%… Bên cạnh những sản phẩm tăng cao và ổn định, trong 4 tháng qua do giá nhập khẩu một số nguyên liệu đầu vào cao, khó khăn về thị trường, tiêu thụ sản phẩm nên còn một số sản phẩm tăng chậm hoặc giảm so với cùng kỳ như xi măng tăng 8,4%; vải lụa tăng 10,2%, đường mật tăng 5,8%; thuốc trừ sâu tăng 2,1%; các sản phẩm quạt dân dụng, ô tô các loại, động cơ điện tăng không đáng kể; thép cán giảm 0,3%; động cơ diezen giảm 24,4%, máy biến thế giảm 14,3%…
3. Đầu tư và xây dựng
Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 4 tháng đầu năm 2004 ước thực hiện 10833,8 tỷ đồng, đạt 29,2% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý ước thực hiện 4092,5 tỷ đồng, đạt 31,4% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 1841,5 tỷ đồng, đạt 37,9% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 460 tỷ đồng, đạt 29,4%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 87,2 tỷ đồng, đạt 21,5%; Bộ Văn hoá Thông tin 73,3 tỷ đồng, đạt 27,5%. Vốn đầu tư do địa phương quản lý ước thực hiện 6741,3 tỷ đồng, đạt 28,0% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội 667,8 tỷ đồng đạt 26,8%; thành phố Hồ Chí Minh 1197,3 tỷ đồng, đạt 19,3%; Hải Phòng 302,8 tỷ đồng, đạt 33,1%; Quảng Nam 151 tỷ đồng, đạt 29,4%; Đồng Nai 123,8 tỷ đồng, đạt 18,8%…
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài: 4 tháng đầu năm có 141 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 474,1 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tuy số dự án giảm 23%, nhưng số vốn tăng 23,4%. Ngành công nghiệp, xây dựng có 90 dự án với số vốn đăng ký 272,3 triệu USD, chiếm 63,8% về số dự án và 57,6% về vốn đăng ký. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 20 dự án với số vốn đăng ký 94,4 triệu USD, chiếm 14,2% về số dự án và 19,9% về vốn đăng ký. Các ngành dịch vụ có 31 dự án với số vốn đăng ký 106,7 triệu USD, chiếm 22% về dự án và 22,5% về vốn đăng ký.
Các tỉnh, thành phố phía Nam có 95 dự án với vốn đăng ký là 209,2 triệu USD, chiếm 67,4% về số dự án và 44% về vốn đăng ký, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 49 dự án với vốn 49,1 triệu USD; Bình Dương 21 dự án với 92,3 triệu USD; Đồng Nai có 10 dự án với gần 24,3 triệu USD… Các tỉnh phía Bắc có 46 dự án với vốn đăng ký 264,9 triệu USD, chiếm 32,6% về dự án và 56% về vốn, trong đó Hà Nội có 20 dự án với 29,1 triệu USD, Vĩnh Phúc 6 dự án với 23,5 triệu USD, Thái Nguyên 3 dự án với 147,7 triệu USD, Hải Dương có 3 dự án với 4,7 triệu USD, Quảng Ninh 3 dự án với 11,6 triệu USD…
Theo đối tác đầu tư, Ca-na-đa đứng đầu về vốn đăng ký với 5 dự án và 150 triệu USD, tiếp theo là Đài Loan 24 dự án và 106,2 triệu USD, Hàn Quốc 40 dự án và 69,4 triệu USD, Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 8 dự án và 27,1 triệu USD, Nhật Bản 10 dự án và 26,1 triệu USD, Mỹ 6 dự án và 22,6 triệu USD, Ôx-trây- li-a 3 dự án và 20,6 triệu USD, Trung Quốc 16 dự án và 17,5 triệu USD…
4. Vận tải
Vận chuyển hành khách 4 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 311,8 triệu lượt hành khách và gần 13,8 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,1% về lượt hành khách và tăng 8,9% về lượt hành khách.km. Vận chuyển hàng hoá ước đạt trên 85,4 triệu tấn và 18 tỷ tấn.km, tăng 4,4% về tấn và tăng 5,8% về tấn.km, trong đó bằng đường sắt tăng 16% và 14%, đường bộ tăng 4,2% và 5,4%, đường biển 4,9% và 5,1%, đường sông 3,4% và 6,9%, hàng không 16,4% và 12,8%.
Hoạt động vận tải tiếp tục đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đi lại của dân cư. Các địa phương đang tích cực triển khai thực hiện Chỉ thị 01/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh hoạt động vận tải hành khách liên tỉnh như qui định điểm dừng, điểm đón trả khách trên các tuyến đường liên tỉnh; tăng cường quản lý bến xe, trạm nghỉ trên tuyến quốc lộ 1A… Tuy nhiên, tình hình an toàn giao thông vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và đáng quan tâm.
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội 4 tháng 2004 ước tính đạt khoảng 117,5 nghìn tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó kinh tế Nhà nước đạt 19,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6%; kinh tế cá thể đạt 74,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4%…
Trong các ngành, thương nghiệp chiếm 81,6% tổng mức bán lẻ, tăng 19,4%; khách sạn nhà hàng chiếm 12,1%, tăng 6,5%; dịch vụ chiếm 5,5% tăng 5,3% và du lịch chiếm 0,8%, tăng 3,2%.
Giá tiêu dùng tháng 4/2004 tăng 0,5% so với tháng trước, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,9% (Lương thực tăng 1,8%; thực phẩm tăng 0,6%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,4%, dược phẩm y tế tăng 1,2% văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,5%; giáo dục tăng 0,1%. So với tháng 12 năm 2003, giá tiêu dùng tháng 4/2004 tăng 5,4%, trong đó giá tiêu dùng của các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu đều tăng (trừ giáo dục giảm 3,1%) như: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 9,5% (Lương thực tăng 8,4%; thực phẩm tăng 10,6%); nhóm dược phẩm, y tế tăng 5,6%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 4,8%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,9%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,7%.
Giá vàng tháng 4/2004 tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 4,8% so với tháng 12/2003; giá đô la Mỹ giảm 0,1% và tăng 0,5%.
Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 7,4 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt 5,8 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 8,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,4 tỷ USD, tăng 28,4%. Tốc độ tăng xuất khẩu 4 tháng năm nay không cao so với mức tăng của 4 tháng năm trước, nhưng bình quân mỗi tháng đạt 1,8 tỷ USD cao hơn mức bình quân của các năm trước và lượng xuất khẩu nhiều mặt hàng tăng cao hơn cùng kỳ. Xuất khẩu dầu thô tăng 17,1% về kim ngạch và 11,7% về lượng; than tăng 42,6% và 36,8%; cà phê tăng 29,2% và 35,4%. Kim ngạch xuất khẩu giày dép tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước; dệt may tăng 3,5%; gạo tăng 33,5%; điện tử máy tính tăng 15,7%; sản phẩm gỗ tăng 75,3%; dây điện và cáp điện tăng 45,6%; xe đạp và phụ tùng xe đạp tăng 83,7%…
Kim ngạch nhập khẩu 4 tháng đầu năm nay ước tính đạt 8,7 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 5,6 tỷ USD, tăng 4,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 3,1 tỷ USD, tăng 15,4%.
Đáng lưu ý là từ đầu năm đến nay giá một số loại nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới tăng mạnh, nên mặc dù lượng nhập khẩu tăng không đáng kể, thậm chí có mặt hàng giảm, song kim ngạch nhập khẩu lại tăng cao như: Sắt thép lượng nhập khẩu giảm 6,8% nhưng kim ngạch tăng 20,9%, tương tự phân bón giảm 3,8% và tăng 15,1%; bông giảm 3,4% và tăng 25,8%; chất dẻo lượng chỉ tăng 9,5%, nhưng kim ngạch tăng tới 29,6%, sợi tăng 1,4% về lượng và tăng 13% về kim ngạch. Nhập khẩu máy móc thiết bị giảm 17,7%. Nhập siêu 4 tháng đầu năm nay ước tính 1285 triệu USD, bằng 17,4% kim ngạch xuất khẩu.
Khách quốc tế đến Việt Nam 4 tháng đầu năm năm 2004 ước tính đạt 934 nghìn lượt người, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch 501,3 nghìn lượt người (chiếm 53,7% tổng số khách) tăng 8,3%; vì công việc 158,8 nghìn lượt người, tăng 10,6%; thăm thân nhân 164,5 nghìn lượt người, tăng 10,8%; mục đích khác 109,4 nghìn lượt người, giảm 2,9%.
6. Thu, chi ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước 4 tháng đầu năm ước tính đạt 32,4% dự toán cả năm và tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước. Các khoản thu nội địa đạt 32,9% dự toán năm, trong đó các khoản thu chủ yếu đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 35% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp đạt 35,5%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 35,4%; các khoản thu về nhà đất đạt 38,2%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 30,1%. Thu từ dầu thô đạt 37,1%. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 28,3%, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 25,8%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm nay ước tính đạt 28,7% dự toán cả năm và tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó chi thường xuyên đạt 34% dự toán cả năm; chi cho đầu tư phát triển đạt 24,8%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 33,8% dự toán cả năm; chi cho y tế đạt 33,6%; chi cho văn hoá thông tin đạt 34,1%; chi cho hoạt động thể dục thể thao đạt 33,1%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 34,4%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 33,7%. Ngoài việc đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chi theo dự toán, ngân sách Nhà nước trung ương đã sử dụng gần 250 tỷ đồng của ngân sách dự phòng để chi cho việc phòng, chống dịch cúm gia cầm và khôi phục, phát triển đàn gia cầm sau dịch; chi 900 tỷ đồng hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu để ổn định giá bán trong nước… Bội chi ngân sách 4 tháng đầu năm ước tính bằng 15,7% mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó chủ yếu được bù đắp bằng nguồn vay trong nước.
7. Một số vấn đề xã hội
a. Thiếu đói trong nông dân
Theo báo cáo cuả các địa phương, trong tháng tư, tính đến ngày 16/4/2004 có 120 nghìn lượt hộ với 562 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, giảm 45,8% về số hộ và giảm 42,2% số nhân khẩu thiếu đói so với cùng kỳ năm 2003. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2004, thiếu đói thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2003: Số hộ thiếu đói là 438 nghìn lượt hộ, chỉ bằng 52,9% cùng kỳ và số nhân khẩu thiếu đói là gần 1,9 triệu lượt người, bằng 52,2%. Thiếu đói trong nông dân những tháng đầu năm nay chủ yếu xảy ra ở các tỉnh Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 2,5 nghìn tấn lương thực và 5,7 tỷ đồng để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn.
b. Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 4/2004 có 7,7 nghìn người mắc bệnh sốt rét, trong đó 1 người đã chết; có 2,4 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 4 người chết và 90 trường hợp bị bệnh viêm não do vi rút, trong đó 8 trường hợp đã tử vong. Tính từ đầu năm đến nay, trong cả nước có 25,8 nghìn người mắc bệnh sốt rét, trong đó chết 5 người; 7,2 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó chết 14 người và 237 trường hợp bị bệnh viêm não do vi rút, trong đó 18 trường hợp đã tử vong. Ngoài ra, trong 4 tháng đầu năm nay có 863 trường hợp mắc bệnh thương hàn nhưng không có trường hợp nào bị tử vong.
Về ngộ độc thực phẩm: Trong tháng 4/2004, tại Nghệ An, Lạng Sơn và Bắc Kạn đã xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm với 66 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 7 trường hợp đã tử vong, nâng số người bị ngộ độc thực phẩm tính từ đầu năm đến nay lên 305 người, trong đó 16 trường hợp đã tử vong.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 4 đã phát hiện thêm 1316 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/4/2004 lên 79,9 nghìn người, trong đó có 12,4 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 7 nghìn người đã chết do AIDS.
c. Tai nạn giao thông
Tình hình an toàn giao thông những tháng đầu năm diễn biến phức tạp, số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng liên tiếp xảy ra và đặc biệt là số người chết do tai nạn giao thông tăng so với cùng kỳ năm 2003. Trong tháng 3/2004, đã xảy ra trên 1,4 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết gần 1 nghìn người và làm bị thương 1,3 nghìn người. Số vụ tai nạn tháng 3/2004 giảm 273 vụ so với cùng kỳ năm trước nhưng số người chết tăng 79 người. Tính chung 3 tháng đầu năm 2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra gần 5 nghìn vụ tai nạn giao thông làm chết 3,3 nghìn người và làm bị thương trên 4,7 nghìn người. So với 3 tháng đầu năm 2003, số vụ tai nạn giao thông giảm 26,2%; số người bị thương giảm 37,3%, nhưng số người chết tăng 5,1%. Bình quân mỗi ngày trong 3 tháng đầu năm nay đã có 36 trường hợp bị tử vong do tai nạn giao thông. Tai nạn giao thông xảy ra trong 3 tháng đầu năm nay chủ yếu là tai nạn giao thông đường bộ: chiếm tới 96,9% số vụ; 97% số người chết và 98,6% số người bị thương. Phân tích trên 1,2 nghìn vụ tai nạn giao thông trong tháng 3 cho thấy 78,1% số vụ tai nạn do người tham gia giao thông gây ra, trong đó gần 30% số vụ tai nạn do chạy quá tốc độ quy định; khoảng 11% do tránh, vượt sai quy định; 16% do đi sai phần đường; 11,2% do thiếu quan sát và 7,5% do say rượu, bia…
d. Thiệt hại do thiên tai
Trong 4 tháng đầu năm 2004, tại Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Điện Biên, Nghệ An, Lâm Đồng, Tây Ninh và Bình Phước đã xảy ra tình trạng mưa to, gió lốc, lũ quét và mưa đá, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, thiên tai đã làm 7 người chết; 33 người bị thương; 700 ha lúa, hoa màu bị ngập, hư hại; 175 ngôi nhà bị sập đổ và gần 3,3 nghìn nhà bị tốc mái. Ước tính thiệt hại do thiên tai khoảng 12 tỷ đồng.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ