Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2023 tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, là tháng thứ hai liên tiếp ghi nhận tăng trưởng dương.

Trong tháng Mười, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 61,62 tỷ USD, tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước (trong đó xuất khẩu tăng 5,9%; nhập khẩu tăng 5,2%). Tính chung 10 tháng năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 557,95 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa 10 tháng năm 2023 ước tính xuất siêu kỷ lục 24,61 tỷ USD.

 

 

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 10/2023 ước đạt 32,31 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,49 tỷ USD, tăng 5,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 23,82 tỷ USD, tăng 5,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 5,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 15,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 3%.

Trong tháng 10 năm 2023 có có 7 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 67,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 02 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 33,1%), trong đó điện tử, máy tính và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 5,6 tỷ USD, chiếm 17,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 4,6 tỷ USD, tăng 16,7%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,3 tỷ USD, tăng 30,7%. Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 của một số mặt hàng nông, thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 700 triệu USD, tăng 129,7%; gạo đạt 433 triệu USD, tăng 27% (mặc dù lượng giảm 1,8% nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng do giá xuất khẩu tăng); hạt điều đạt 328 triệu USD, tăng 25,7% (lượng tăng 37,8%); sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 134 triệu USD, tăng 30,3% (lượng tăng 17,5%). Ngoài ra, còn một số mặt hàng xuất khẩu đạt tốc độ tăng dương trong tháng 10 như: Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 980 triệu USD, tăng 33,2%; chất dẻo nguyên liệu đạt 172 triệu USD, tăng 29,6%; sơ, sợi dệt đạt 391 triệu USD, tăng 27%; clanke và xi măng đạt 108 triệu USD,  tăng 14,8%; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 170 triệu USD, tăng 13,5%; sắt thép đạt 477 triệu USD, tăng 10,4%; sản phẩm từ chất dẻo đạt 430 triệu USD, tăng 7,6%; sản phẩm từ sắt thép đạt 350 triệu USD, tăng 1,9%.

Nhìn chung, trong tổng số 34 mặt hàng xuất khẩu chính có 15 mặt hàng ghi nhận tăng so với cùng kỳ năm trước, là động lực để đưa xuất khẩu đạt mức tăng so với cùng kỳ năm trước.


Về nhập khẩu
, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2023 ước đạt 29,31 tỷ USD, tăng 2,9% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,36 tỷ USD, tăng 3,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,95 tỷ USD, tăng 2,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 5,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 8,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,5%.

Trong tháng 10 năm 2023 có 4 mặt hàng nhập khẩu đạt giá trị trên 1 tỷ USD, chiếm 47,3% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó các sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước là điện tử, máy tính và linh kiện đạt 8,2 tỷ USD, tăng 26,4%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 3,5 tỷ USD, tăng 2,4%; vải đạt 1,2 tỷ USD, tăng 8%. Ngoài ra, nhiều mặt hàng khác cũng đạt tốc độ tăng cao như: Sữa và sản phẩm sữa đạt 120 triệu USD, tăng 55,9%; xăng dầu đạt 815 triệu USD, tăng 44,8%; ngô đạt 398 triệu USD, tăng 35,4%; sắt thép đạt 989 triệu USD, tăng 35,2%; hạt điều đạt 173 triệu USD, tăng 29,8%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 500 triệu USD, tăng 24,7%.

Trong 10 tháng năm 2023, hoạt động xuất, nhập khẩu vẫn còn gặp nhiều khó khăn, giá trị kim ngạch vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên đà giảm đã chậm lại. Tính chung 10 tháng năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 557,95 tỷ USD, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2023 sơ bộ giảm 11,2% so với cùng kỳ năm trước).

Trong 10 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 291,28 tỷ USD, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 77,09 tỷ USD, giảm 4,1%, chiếm 26,5% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 214,19 tỷ USD, giảm 8,1%, chiếm 73,5%. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 266,67 tỷ USD, giảm 12,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 95,08 tỷ USD, giảm 10,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 171,59 tỷ USD, giảm 13,3%.

Trong 10 tháng năm 2023 có 33 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 07 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 66,2%); có 41 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 91,4% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 03 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 43,4%).

Về cơ cấu 10 tháng năm 2023, trong nhóm hàng xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 257,42 tỷ USD, chiếm 88,3%; trong nhóm hàng nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước đạt 250,12 tỷ USD, chiếm 93,8%.

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2023, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 78,6 tỷ USD, giảm 15,8% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 49,4 tỷ USD, là thị trường duy nhất đạt mức tăng 4,7%; xuất khẩu sang EU đạt 36,2 tỷ USD, giảm 8,9%; xuất khẩu sang ASEAN đạt 27 tỷ USD, giảm 6,2%; xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 19,9 tỷ USD, giảm 3,6%; xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 19,2 tỷ USD, giảm 4,2%.

Về thị trường nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2023,Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 89,8 tỷ USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu từ Hàn Quốc đạt 43,3 tỷ USD, giảm 18,3%; nhập khẩu từ ASEAN đạt 33,5 tỷ USD, giảm 14,8%; nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 17,6 tỷ USD, giảm 10,6%; nhập khẩu từ EU đạt 12,6 tỷ USD, giảm 1,4%; nhập khẩu từ Hoa Kỳ đạt 11,5 tỷ USD, giảm 6,5%.

Trong 10 tháng năm 2023, xuất siêu sang Hoa Kỳ ước đạt 67,1 tỷ USD giảm 17,2% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU ước đạt 23,7 tỷ USD, giảm 12,4%; xuất siêu sang Nhật Bản 1,6 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 317 triệu USD); nhập siêu từ Trung Quốc 40,5 tỷ USD, giảm 23,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 23,4 tỷ USD, giảm 27,6%; nhập siêu từ ASEAN 6,5 tỷ USD, giảm 38,2%.


Cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ tháng Chín xuất siêu 2,2 tỷ USD; 9 tháng xuất siêu 21,61 tỷ USD; tháng Mười ước tính xuất siêu 3 tỷ USD. Tính chung 10 tháng năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu kỷ lục 24,61 tỷ USD, gấp 2 lần mức xuất siêu của cả năm 2022 (cùng kỳ năm trước xuất siêu 9,56 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 17,99 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 42,6 tỷ USD.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm