1. Khái niệm, phương pháp tính
Giá trị sản phẩm sản xuất và dịch vụ của trang trại là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản do trang trại tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm). Giá trị sản phẩm sản xuất và dịch vụ của trang trại được chia theo các loại hình hoạt động: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản.
a) Giá trị thu từ trồng trọt, bao gồm:
– Giá trị sản phẩm chính, giá trị sản phẩm phụ trồng trọt của trang trại đã thu hoạch trong 12 tháng qua;
– Giá trị các dịch vụ trồng trọt là kết quả các hoạt động trồng trọt do trang trại tổ chức làm cho bên ngoài được trả công bằng tiền hoặc hiện vật, bao gồm: Làm đất, gieo trồng; chăm sóc (tưới tiêu nước, phòng trừ sâu bệnh, làm cỏ, bón phân,..); thu hoạch (gặt hái,…); cho thuê máy nông nghiệp có người điều khiển; dịch vụ trồng trọt khác (ra hạt lúa, bông, lạc; phân loại, phơi, sấy, bảo quản,…).
b) Giá trị thu từ chăn nuôi, bao gồm:
– Giá trị sản phẩm gia súc, gia cầm và chăn nuôi khác bán giết thịt;
– Giá trị sản phẩm chăn nuôi không qua giết thịt: Gồm trứng gia cầm các loại, sữa tươi, kén tằm, mật ong,…;
– Giống gia súc, gia cầm, vật nuôi: Gồm các loại con giống gia súc, giống gia cầm, giống vật nuôi khác;
– Sản phẩm phụ chăn nuôi: Chỉ tính những sản phẩm phụ chăn nuôi được sử dụng; bao gồm phân trâu, bò, lợn, gia cầm, phân tằm,… thu được trong quá trình chăn nuôi và sản phẩm chăn nuôi tận thu như lông, sừng, xương, da,… của gia súc bị chết, giết thịt;
– Dịch vụ chăn nuôi là các hoạt động chăn nuôi do trang trại tổ chức làm cho bên ngoài, bao gồm thụ tinh nhân tạo, kiểm dịch động vật, thiến hoạn gia súc, gia cầm; dịch vụ chăn nuôi khác (phân loại và lau sạch trứng gia cầm,…).
c) Giá trị thu từ lâm nghiệp, bao gồm:
– Giá trị lâm sản khai thác và thu nhặt được từ rừng trồng và rừng tự nhiên như gỗ, củi, luồng, tre, vầu, nhựa thông, cánh kiến, măng, mộc nhĩ, nấm hương, các loại quả, các loại lá (lá dong, lá nón, lá cọ),…;
– Thu từ dịch vụ lâm nghiệp, bao gồm:
+ Giá trị thực tế thu được từ nhận khoán trồng rừng tập trung, chăm sóc rừng, khoanh nuôi tái sinh,… từ các nguồn kinh phí như: Nhà nước đầu tư, các dự án lâm nghiệp do các tổ chức trong và ngoài nước tài trợ và do tư nhân đầu tư. Không tính vào thu từ dịch vụ lâm nghiệp trong 12 tháng qua đối với những diện tích rừng mà chủ trang trại tự bỏ vốn ra đầu tư để trồng và nuôi rừng;
+ Giá trị thực tế thu được từ những công việc trang trại tổ chức làm cho bên ngoài như ươm cây giống lâm nghiệp, tưới tiêu phục vụ lâm nghiệp, bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh, phòng cháy, chữa cháy rừng, dịch vụ lâm nghiệp khác (đánh giá ước lượng trữ lượng rừng, quản lý lâm nghiệp, vận chuyển lâm sản đến bãi II – cửa rừng,…).
d) Giá trị thu từ thủy sản, bao gồm:
– Thu từ nuôi trồng thủy sản: Là giá trị thủy sản nuôi trồng thu được trong 12 tháng qua, bao gồm sản phẩm bán ra hoặc tiêu dùng, cho, biếu, tặng;
– Thu từ khai thác thủy sản: Là giá trị thủy sản khai thác thu được trong 12 tháng qua, bao gồm sản phẩm bán ra hoặc tiêu dùng, cho, biếu, tặng;
– Thu từ sản xuất giống thủy sản: Gồm giống cá, giống tôm, giống cua và giống thủy sản khác.
Công thức tính:
|
Giá trị sản phẩm sản xuất và dịch vụ của trang trại |
= | Giá trị sản phẩm sản xuất và dịch vụ cây hằng năm | + | Giá trị sản phẩm sản xuất và dịch vụ cây lâu năm | + | Giá trị sản phẩm sản xuất và dịch vụ chăn nuôi | + | Giá trị sản phẩm sản xuất và dịch vụ lâm nghiệp | + |
Giá trị sản phẩm sản xuất thủy sản |
2. Phân tổ chủ yếu
– Loại hình trang trại;
– Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3. Kỳ công bố: 5 năm.
4. Nguồn số liệu
– Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp;
– Điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ.
5. Đơn vị chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp
– Chủ trì: Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản;
– Phối hợp: Cục Thu thập dữ liệu và Ứng dụng công nghệ thông tin thống kê.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)