1. Sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/1, cả nước đã gieo cấy được 2471,5 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,9% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 689,6 nghìn ha, bằng 98,3%; các địa phương phía Nam gieo sạ 1781,9 nghìn ha, bằng 100,5%, riêng đồng bằng sông Cửu Long đạt 1484,8 nghìn ha, bằng 100,9%.

Cùng thời gian này, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 275,2 nghìn ha lúa mùa, đạt trên 60% diện tích xuống giống và bằng 71,6% cùng kỳ năm trước, năng suất trên diện tích thu hoạch tăng từ 0,5 đến 1,0 tạ/ha. Các địa phương phía Bắc đã thu hoạch trên 60% diện tích gieo trồng cây vụ đông, trong đó ngô 75%, đậu tương 90%, khoai tây 80%.

Tiến độ gieo trồng cây vụ xuân nhìn chung nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước. Cả nước gieo trồng được 278,2 nghìn ha ngô, bằng 104,4%; 88 nghìn ha khoai lang, bằng 96,1%; 115,7 nghìn ha lạc, bằng 98,6%; 97,7 nghìn ha đỗ tương, bằng 184,7% và 258,3 nghìn ha rau, đậu các loại, bằng 101,3%.

Hiện nay, các địa phương đang tập trung chăm sóc đàn gia súc, gia cầm, chuẩn bị nguồn thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết. Đàn gia súc phát triển tốt và duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, trong đó loại gia súc lớn đang phát triển nhanh tại một số tỉnh miền núi nhờ chủ trương hỗ trợ trồng cỏ và thực hiện chuyển một phần diện tích cây trồng năng suất thấp sang trồng cây lấy thức ăn cho chăn nuôi.

Đến nay, dịch cúm gia cầm đã được khống chế trên phạm vi cả nước, nhiều địa phương đã công bố hết dịch. Tuy nhiên, để đảm bảo dịch không tái phát, công tác tiêm phòng 2 mũi vắc xin vẫn tiếp tục được triển khai tại các tỉnh.

Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp tháng này chủ yếu tập trung vào chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có, nghiệm thu diện tích rừng trồng mới và chuẩn bị đất, giống cây phục vụ cho công tác trồng rừng trong năm. Sản lượng gỗ khai thác ước tính bằng 100,9% cùng kỳ năm trước.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 1 ước tính đạt 292,1 nghìn tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó cá tăng 7,7%; tôm tăng 9,7%; thuỷ sản khác tăng 1,4%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tăng khá do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán và cung cấp nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, đặc biệt sản lượng cá nuôi tăng cao nhờ mô hình nuôi cá bè phát triển và một phần diện tích nuôi tôm vùng đồng bằng sông Cửu Long được chuyển sang nuôi cá đã vào mùa thu hoạch. Sản lượng nuôi trồng ước tính đạt 101 nghìn tấn, tăng 17%, trong đó cá tăng 21,6%; tôm tăng 11,3%. Sản lượng khai thác đạt 191,1 nghìn tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 174,7 nghìn tấn, tăng 3%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 1 năm 2006 ước tính đạt 37,3 nghìn tỷ đồng, giảm 12,8% so với tháng 12 năm 2005, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều giảm: kinh tế Nhà nước giảm 13,7%; kinh tế ngoài Nhà nước giảm 7,7% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm 14,6%, giảm nhiều nhất trong các khu vực kinh tế. So với tháng 1/2005, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,7%, trong đó kinh tế Nhà nước tăng 5,1%; kinh tế ngoài Nhà nước tăng 21,5%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,2%.

Giá trị sản xuất tháng 1 năm nay giảm so với tháng 12 năm trước và tăng thấp so với cùng kỳ, chủ yếu do yếu tố mùa vụ. Số ngày sản xuất trong tháng 1 năm nay ít hơn số ngày sản xuất tháng 12 năm 2005 là 3 ngày (1 ngày nghỉ Tết dương lịch và 2 ngày nghỉ Tết Nguyên đán) và ít hơn tháng 1 năm trước 2 ngày. Sản xuất công nghiệp tháng 12 năm trước cũng như tháng 12 hàng năm thường cao hơn các tháng khác trong năm vì cần hoàn thành các đơn hàng và kế hoạch sản xuất còn lại của năm và chuẩn bị hàng hoá cung ứng phục vụ cho đón năm mới, theo qui luật cung cầu. Thêm nữa, một số mặt hàng xuất khẩu trong tháng này chưa ký được hợp đồng xuất khẩu gối đầu từ năm trước hoặc phải chờ hạn ngạch nên phải dãn tiến độ sản xuất. Ngoài ra, còn một số sản phẩm liên quan đến xây dựng cũng thường không tăng cao ở tháng sát Tết hoặc tháng Tết.

Về sản phẩm, nhìn chung những mặt hàng phục vụ Tết và hàng hoá tiêu dùng của dân cư tăng mạnh so với tháng Một năm trước như: thuỷ sản chế biến tăng 26,3%, sữa hộp tăng 17,2%; bia tăng 20,6%; quần áo dệt kim tăng 21,1%, quần áo may sẵn tăng 17,3%. Sản phẩm phục vụ cho sản xuất tăng ở mức độ cao  như  than sạch khai thác tăng 15,2%; ; thuốc trừ sâu tăng 29,9%; sứ vệ sinh tăng 40,2%; máy công cụ tăng 56,9%. Bên cạnh đó các sản phẩm như xi măng, giấy, điện và các sản phẩm lắp ráp chỉ tăng ở mức độ vừa phải hoặc tăng thấp như vải lụa tăng 8,1%; giấy bìa các loại tăng 7,7%, xi măng tăng 11,7%; ô tô lắp ráp tăng 8,1%, xe máy lắp ráp tăng 3,4% và điện tăng 8,3%. Dầu thô khai thác tháng này vẫn đạt mức sản xuất thấp hơn tháng 12 năm trước và giảm 8,3% so với tháng 1/2005; khí đốt thiên nhiên giảm 15,9%; đường mật giảm 15,5% (tuy sản lượng tháng này đã tăng 15% so với tháng 12/2005); phân hoá học giảm 11,8%; thép cán giảm 9,1%; động cơ diesel giảm 7,3%; động cơ điện giảm 23,1%; ti vi lắp ráp giảm 8,3% và xe đạp giảm 15%.

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh, thành phố trung ương vẫn duy trì được mức tăng khá so với tháng 1/2005 như: Hà Nội tăng 20,4%; Hải Phòng tăng 22%; Vĩnh Phúc tăng 17,6%; Quảng Ninh tăng 16%; Đà Nẵng tăng 18,3%; Bình Dương tăng 26,6%; Đồng Nai tăng 17,2%; Cần Thơ tăng 19,3%; riêng công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,2% và Bà Rịa- Vũng Tàu tăng 7,8%.

  1. Đầu tư

Thực hiện kế hoạch vốn đầu tư XDCB phần vốn ngân sách Nhà nước tháng 1/2006 ước tính đạt 3627,6 tỷ đồng, bằng 6,5% kế hoạch cả năm; trong đó các đơn vị trung ương 1150,8 tỷ đồng, bằng 6,6%; các đơn vị địa phương 2476,8 tỷ đồng, bằng 6,4%.

Nhìn chung, ước tính thực hiện vốn đầu tư tháng 1/2006 của các Bộ ngành và địa phương đạt thấp so kế hoạch năm; riêng Bộ Giao thông Vận tải có khối lượng vốn thực hiện tháng 1/2006 ước tính đạt 538,8 tỷ đồng, bằng 8,1% so kế hoạch cả năm 2006; tuy nhiên chủ yếu vẫn là thực hiện các dự án chuyển tiếp. Trong tháng 1/2006, kế hoạch vốn đầu tư năm 2006 chưa triển khai kịp đến các chủ đầu tư, chủ dự án nên các dự án mới của 2006 chưa có điều kiện khởi công; vốn thực hiện trong tháng một phần do thực hiện kế hoạch tạm giao hoặc thực hiện các dự án đầu tư chuyển tiếp từ cuối năm 2005.

Tháng 1/2006 cũng là thời gian các chủ dự án đầu tư tiến hành các thủ tục thanh, quyết toán khối lượng đầu tư của năm 2005 và đang tích cực chuẩn bị hoàn tất các thủ tục cần thiết cho công tác triển khai các dự án mới của năm 2006, nhằm có cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thực hiện tiến độ giải ngân của các dự án ngay từ những ngày đầu, tháng đầu quý I/2006.

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài:

Từ 01/01/2006 đến 20/01/2006 đã có 58 dự án mới được cấp phép, với vốn đăng ký 419 triệu USD; có 11 lượt dự án được tăng vốn, với vốn tăng thêm 25 triệu USD; thực hiện vốn đầu tư là 242 triệu USD.

  1. Thương mại, giá cả, dịch vụ

Thị trường trong nước tháng Một năm nay tương đối sôi động, do chuẩn bị Tết Nguyên đán sẽ đến vào những ngày cuối tháng. Mức độ mua sắm của người dân tăng lên, nguồn cung tăng. Nhà nước đã có các văn bản chỉ đạo, điều hành thị trường; tăng cường các khâu kiểm tra, kiểm soát thị trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; chống hàng giả, hàng kém chất lượng và hàng quá hạn sử dụng… nhằm ổn định thị trường, đảm bảo nguồn cung phục vụ Tết và các lợi ích của người tiêu dùng. Nguồn cung dồi dào, nhất là các mặt hàng lương thực chế biến, thực phẩm, đồ dùng gia đình… Sức mua của dân cư tăng do sản xuất phát triển và người lao động thường nhận được các khoản tiền thưởng sau khi kết thúc năm. Bên cạnh đó, hệ thống các siêu thị và trung tâm thương mại phát triển, hệ thống chợ được củng cố và tăng cường quản lý thuận lợi và khuyến khích việc mua sắm của người dân.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá tiêu dùng và doanh thu dịch vụ tháng 1/2006 ước tính đạt 46316 tỷ đồng, tăng 6% so với tháng 12 năm trước và tăng 24,8% so với tháng 1/2005, trong đó kinh tế Nhà nước chiếm 12,3% tổng mức và tăng 10,6%; kinh tế cá thể chiếm 61,6% và tăng 27,3%, kinh tế tư nhân chiếm 22,6% và tăng 26,9%. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp chiếm tới 82,1% tổng mức, tăng 24,7%; khách sạn, nhà hàng chiếm 11,5%, tăng 22,2%; dịch vụ chiếm 5,6%, tăng 30,2%; du lịch lữ hành có tỷ trọng nhỏ (0,8%), tăng 33,6%.

Chính phủ và các Bộ, ngành chức năng đã chỉ đạo và điều hành thị trường hàng hoá và dịch vụ phục vụ Tết khá sớm và đồng bộ, nhằm ổn định giá. Giá tiêu dùng tháng 01 năm 2006 tăng 1,2% so với tháng 12 năm 2005, tương đương với mức tăng giá tiêu dùng 1,1% trong tháng 1/2005. Giá tháng 1 năm nay của tất cả các nhóm hàng đều tăng, nhưng với mức độ khác nhau, tăng mạnh hơn ở các nhóm hàng hoá tiêu dùng trong dịp Tết: giá nhóm lương thực, thực phẩm tăng 1,7% (lương thực tăng 2,1%, thực phẩm tăng 1,4%); giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,2%; các nhóm hàng khác đều tăng nhưng ở mức dưới 1% như may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,9%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,8%; dược phẩm, y tế tăng 0,5%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,8%…; bưu chính viễn thông giữ ở giá không đổi. Mặc dù nguồn cung dồi dào, giá các sản phẩm công nghiệp trên thị trường trong nước vẫn có chiều hướng tăng lên, do giá nhập khẩu nhiều loại vật tư cho sản xuất trong nước vẫn tăng hoặc đứng ở mức cao.

Giá vàng tiếp tục tăng 4% so với tháng trước và tăng 18,3% so với tháng 1/2005; nhưng đã thấp hơn mức tăng kỷ lục 7,5% của tháng 12/2005; trong khi đó giá đô la Mỹ giữ ở mức giá tháng trước và chỉ tăng 0,9% so với tháng 01/2005.

Trị giá xuất khẩu hàng hoá tháng 1/2006 ước tính đạt 2,8 tỷ USD, tăng 16% so với tháng 1/2005, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 1200 triệu USD, tăng 15,7%, đóng góp 6,7 điểm phần trăm vào tăng xuất khẩu; xuất khẩu dầu thô 640 triệu USD, tăng 13,7%, đóng góp 3,2 điểm phần trăm; xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô 960 triệu USD, tăng 18%, đóng góp 6,1 điểm phần trăm.

Xuất khẩu tháng Một ảnh hưởng nhẹ do thị trường Trung Quốc gián đoạn vào dịp Tết.

Ngoài dầu thô, trong tháng 1 năm nay các mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn đạt kim ngạch 100 triệu USD trở lên và tăng so với cùng kỳ năm trước, nhưng với mức độ tăng khác nhau: dệt may 370 triệu USD, tăng 3,4%; giày dép 300 triệu USD, tăng 7,4%; thuỷ sản 220 triệu USD, tăng 16,4%; điện tử máy tính 130 triệu USD, tăng 16,8%; sản phẩm gỗ 120 triệu USD, tăng 22%; cà phê 110 triệu USD, tăng 37,6%. Xuất khẩu gạo tháng 1 ước tính đạt 200 nghìn tấn, tương đương với kim ngạch 50 triệu USD, giảm 19,5% về lượng và giảm 21,6% về kim ngạch so với tháng 1 năm trước. Xuất khẩu gạo đã ký được hợp đồng với In-đô-nê-xia và một số nước khác, tuy nhiên, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước nên mức xuất khẩu tháng 1 chưa cao. Xuất khẩu các mặt hàng nông sản khác nhìn chung đều tăng so với cùng kỳ năm trước về kim ngạch và lượng xuất khẩu tăng (trừ cà phê lượng xuất khẩu giảm 16,8% và lạc giảm 7,9%). Đáng chú ý là, trong tháng 1 năm nay, xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp nhẹ như xe đạp, đồ chơi, dầu thực vật đã tăng đáng kể sau nhiều tháng cuối năm 2005 liên tục giảm: xe đạp và phụ tùng xe đạp tăng 11,7%; dầu mỡ động thực vật tăng 89,6%; đồ chơi trẻ em tăng 9,2%.

Nhập khẩu tháng 1/2006 ước tính đạt 3,15 tỷ USD, tăng 10,8% so với tháng 1/2005 và bằng 7,4% kế hoạch năm 2006, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 2020 triệu USD, tăng 6,8% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1130 triệu USD, tăng 18,7%. Như vậy, ngay từ tháng Một năm nay, tốc độ nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã gia tăng đáng kể so với  mức tăng của khu vực kinh tế trong nước, cao hơn gần 12 điểm phần trăm. Kim ngạch nhập khẩu hầu hết các mặt hàng, cả máy móc, thiết bị và nguyên, nhiên, vật liệu đều đều tăng so với tháng 1/2005. Nhập khẩu của nhiều mặt hàng tăng, chủ yếu do tăng giá như: nhập khẩu xăng dầu 440 triệu USD, tương đương 950 nghìn tấn, tăng 48,7% về kim ngạch nhưng lượng chỉ tăng 1,8%; chất dẻo 109 triệu USD, tương đương 80 nghìn tấn, tăng 13,2% về kim ngạch, lượng chỉ tăng 3%; nhập khẩu phân bón tăng 37% về kim ngạch, lượng tăng 21,7%; giấy các loại kim ngạch tăng 35,4%, lượng tăng 3,5%… Bên cạnh đó, giá một số mặt hàng trên thị trường thế giới có dấu hiệu giảm,  nên mặc dù lượng nhập tăng, nhưng kim ngạch giảm hoặc tăng thấp so với tháng 1/2005 như: ô tô nguyên chiếc; xe máy nguyên chiếc; sắt, thép.

Nhập siêu tháng 1/2006 là 350 triệu USD, bằng 12,5% kim ngạch xuất khẩu, giảm so với tháng 1/2005 cả về số tuyệt đối và tỷ lệ so với xuất khẩu (tháng 1/2005 là 430 triệu USD và 17,8%).

Vận tải

Vận chuyển hàng hoá tháng 1/2006 ước tính đạt 27,6 triệu tấn và 7488,8 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,8% vế tấn và tăng 7,2% về tấn.km. Trong các ngành vận tải, vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ và vận tải của các địa phương tăng cao hơn mức tăng chung. Vận chuyển của địa phương tăng 8,2% về tấn và 7,9% về tấn.km so với tháng 1 năm trước do các địa phương tập trung vận chuyển hàng hoá phục vụ Tết. Vận tải đường sắt tăng 19% về tấn.km và tăng 2% về tấn, chủ yếu tăng vận chuyển trên tuyến đường dài như đường sắt Bắc- Nam.

Vận chuyển hành khách tháng 1/2006 ước tính đạt 110,2 triệu lượt hành khách và 4585,3 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,8% về số lượt khách và tăng 9,8% về lượt khách.km. Vận chuyển hành khách do các đơn vị trung ương thực hiện tăng 4,5% về lượt khách và tăng 11,7% về lượt khách.km. Vận chuyển hành khách trên các loại đường đều tăng so với tháng 1/2005, nhưng với mức độ khác nhau, trong đó vận chuyển hành khách bằng đường bộ và đường hàng không tăng tương đối cao hơn so với các ngành vận tải khách và tăng nhanh hơn mức tăng chung cả về lượt khách và lượt khách.km. Vận chuyển hành khách bằng đường bộ ước tính đạt 94,6 triệu lượt người và 2985 triệu lượt người.km, tăng 8,5% về lượt người và 9,4% về lượt người.km; các con số tương ứng của vận chuyển hành khách bằng hàng không là 586 nghìn khách, 1013 triệu khách.km, tăng 10,9% và tăng 13,9%.

Vận tải hành khách tháng 1 khá sôi động do nhu cầu đi lại của nhân dân tăng, nhất là những ngày chuẩn bị nghỉ Tết. Để phục vụ hành khách đi lại trong dịp Tết Bính Tuất – 2006 được thuận lợi, ngành vận tải đường sắt đã chuẩn bị tốt kế hoạch tổ chức chạy tàu, cho chạy thêm các tàu dự bị từ TN11 đến TN22 trên tuyến đường sắt Thống nhất. Tại các thành phố lớn, ngành giao thông vận tải đã thành lập Ban chỉ đạo phục vụ Tết, lên kế hoạch điều hành và giải toả xe; xác định những tuyến tăng khách trong dịp Tết, nhất là các tuyến đến các khu vui chơi giải trí, hội chợ; cải tiến trong các khâu bán vé, giữ chỗ; tăng cường quản lý ở các bến… Công tác giữ gìn an ninh trật tự, chống phe vé được đẩy mạnh, tăng cường công tác bảo vệ tại khu vực ga, bến xe. Vận tải tháng Một đáp ứng tương đối tốt nhu cầu đi lại của dân cư và phục vụ sản xuất.

Tuy nhiên, do nhu cầu hành khách đi lại tăng quá cao (nhất là chiều từ thành phố Hồ Chí Minh ra Bắc) nên trong những ngày nhà ga bắt đầu bán vé tàu tết, lượng hành khách chờ đợi tại Ga Sài Gòn vẫn rất đông (mỗi ngày có tới hơn 1000 lượt người) và vì thế nạn phe vé chợ đen cũng vẫn còn, gây bức xúc cho hành khách đi tàu cũng như cho công luận xã hội.

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 1/2006 ước tính đạt 349 nghìn lượt người, tăng 15,9% so với tháng 1/2005, trong đó khách đến du lịch, nghỉ ngơi chiếm gần 60%, tăng 12,5%; khách đến vì công việc tuy chỉ chiếm 14,3% tổng số khách nhưng đã đạt mức tăng kỷ lục 60,7%; khách vào thăm người thân và bạn bè tăng 13,8%; riêng khách đến ngoài các mục đích trên giảm 2,9%.

Trong số khách vào Việt Nam tháng này, 9 nước và vùng lãnh thổ có số khách trên 1 vạn người là Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Cam-pu-chia, Pháp Ca-na-đa và Ôx-trây-lia, chiếm ba phần tư (75%) số khách đến. Trong đó, khách đến từ Mỹ chiếm 12,7% số khách và tăng 47,3% so với tháng 1/2005; từ Hàn Quốc 11,1%, tăng 53%; từ Nhật Bản 8,4% và tăng 36,2%; từ Ôx-trây-lia 6,2%, tăng 46,2%; từ  Cam-pu-chia 5,3%,  tăng 10%; từ Pháp 3,2%, tăng 20,4%, từ Ca-na-đa 2,9%, tăng 38,7%; riêng số khách đến từ Trung Quốc chiếm gần 20%, nhưng giảm 16,9%, tiếp tục xu hướng giảm so với cùng kỳ ở một số tháng cuối năm 2005; khách đến từ Đài Loan giảm 6,5%. Bên cạnh đó khách đến từ Nga khoảng 5 nghìn người và tăng 68,5% so với tháng 1/2005.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 1/2006 ước tính đạt 7,6% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 8,3%, thu dầu thô 6,8%, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 6,8% và thu viện trợ 4%. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa đạt khoảng 8% dự toán cả năm: thu từ kinh tế quốc doanh đạt 8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 9,7%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài không kể dầu thô 8,8%; riêng các khoản thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 7,3% và các khoản thu về nhà đất đạt 6,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 1/2006 ước tính đạt 7,1% dự toán cả năm, (thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với mức hoàn thành kế hoạch thu), trong đó chi cho đầu tư phát triển đạt 6,8% (chi đầu tư xây dựng cơ bản 7,3%), chi thường xuyên 7,3%; chi trả nợ và viện trợ 8,1%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt mức phổ biến khoảng 7% kế hoạch chi cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo 6,7% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 9,8%; chi sự nghiệp kinh tế 7,4%; chi quản lý hành chính 7,1%. Bội chi ngân sách Nhà nước tháng 1/2006 khoảng 10% dự toán cả năm và 90% thâm hụt được bù đắp từ nguồn trong nước.

  1. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân:

Trong tháng có 76,9 nghìn lượt hộ với 318,3 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,6% tổng số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp. So với cùng kỳ năm trước, tuy số hộ thiếu đói tăng nhưng số nhân khẩu bị thiếu đói giảm gần 2%. Thiếu đói trong tháng Một chủ yếu xảy ra ở các địa phương thuộc vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ là những vùng chịu ảnh hưởng của thời tiết xấu trong những tháng cuối năm 2005, đặc biệt là ảnh hưởng của bão số 6 và số 7.

Tình hình dịch bệnh:

Trong tháng 1/2006 có 3,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét (2 người đã tử vong); 1,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 26 trường hợp mắc bệnh thương hàn và 8 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút nhưng không có trường hợp nào tử vong. So với cùng kỳ năm trước, số người mắc bệnh sốt rét giảm 50,3%; số người mắc bệnh sốt xuất huyết giảm 3,1%. Riêng số mắc bệnh thương hàn tăng 5 trường hợp. Ngoài ra, trong tháng cũng đã xảy ra 6 vụ với trên 270 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 1 người đã tử vong. Để bảo đảm sức khoẻ cho nhân dân và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Bính Tuất, Bộ Y tế đã triển khai một số đoàn kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại 16 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 1/2006 đã phát hiện thêm 366 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số trường hợp nhiễm HIV trong cả nước đến 17/01/2006 lên 104,3 nghìn người, trong đó có 17,4 nghìn bệnh nhân AIDS và 10,1 nghìn người đã chết do AIDS.

Về bệnh viêm phổi cấp do virus cúm tuýp A-H5N1, hơn 2 tháng qua nước ta đã không phát hiện thêm trường hợp nào nghi nhiễm bệnh, đồng thời ngành Y tế cũng đã chủ động đề ra các biện pháp phòng chống dịch bệnh, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.

Tai nạn giao thông:

Tháng 12/2005 (từ 21/11-20/12) trong cả nước đã xảy ra 1180 vụ tai nạn giao thông, làm chết 982 người và làm bị thương 867 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 14,9%; số người chết giảm 3,8%; số người bị thương giảm 27,8%, nhưng so với tháng 11/2005 thì tai nạn lại tăng 45 vụ; số bị chết tăng 36 người và số bị thương tăng 18 người. Tính chung cả năm 2005, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 14,4 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 11,4 nghìn người và làm bị thương 11,9 nghìn người. So với năm 2004, số vụ tai nạn giao thông đã giảm 3,2 nghìn vụ (-18,3%); số người chết giảm 0,8 nghìn người (-6,8%) và số người bị thương giảm 3,5 nghìn người (-22,8%). Tai nạn giao thông trong năm 2005 đã có những chuyển biến tích cực và giảm đáng kể cả số vụ, số người bị chết và bị thương. Tuy nhiên, tai nạn giao thông xảy ra vẫn ở mức cao, bình quân 1 ngày vẫn xảy ra khoảng 40 vụ tai nạn, làm chết 31 người và làm bị thương 33 người. Ngoài ra, trong năm qua cũng đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, làm chết và làm bị thương nhiều người.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ