- Sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp
Trong tháng 2 sản xuất nông nghiệp gặp một số khó khăn: Khô hạn ở Bắc Bộ và miền núi, mưa lũ xảy ra tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, sâu bệnh phát triển trên cây lúa ở hầu hết các tỉnh phía Nam.
Tính đến 15/2, cả nước gieo cấy được 2658,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 107,4% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 844,3 nghìn ha, tăng 20,3%; các địa phương phía Nam 1814,6 nghìn ha, bằng 102,4%. Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ 1488,5 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 101,2% và xuống giống được 40,9 nghìn ha lúa hè thu, bằng 65%.
Cũng đến trung tuần tháng 2, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 322,8 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 88,6% cùng kỳ năm trước, năng suất lúa trên diện tích đã thu hoạch đạt thấp so với cùng kỳ.
Tiến độ gieo trồng cây màu vụ xuân nhanh hơn cùng kỳ năm trước, cả nước gieo trồng được 275,3 nghìn ha ngô, bằng 103,3%; 97,1 nghìn ha khoai lang, bằng 99,5%; 41,8 nghìn ha sắn, bằng 117,7%; 125,2 nghìn ha lạc, bằng 106,7%; 64,7 nghìn ha đậu tương, bằng 122,3%; 25,3 nghìn ha mía trồng mới, bằng 125% và 271 nghìn ha rau đậu, bằng 106,6%.
Chăn nuôi trong tháng nhìn chung ổn định, trong đó tổng đàn bò ở các địa phương tăng từ 5 – 11% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn giảm nhẹ do nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Dịch cúm gia cầm trên cả nước đến nay đã được khống chế, sản phẩm thịt và trứng gia cầm được phép lưu thông trên thị trường. Nhiều hộ bắt đầu khôi phục lại đàn gia cầm, nhu cầu về con giống tăng. Tuy nhiên, một số địa phương chưa cho phép chăn nuôi lại hoặc người dân lo sợ dịch cúm tái phát, chuyển đầu tư sang sản xuất kinh doanh ngành nghề khác nên tổng đàn gia cầm đạt thấp, công tác phòng chống dịch bệnh vẫn tiếp tục được thực hiện.
Lâm nghiệp
Trong tháng, các địa phương bắt đầu triển khai trồng rừng tập trung và bảo vệ, chăm sóc diện tích rừng hiện có. Diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 16,2 nghìn ha, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây trong dịp Tết đạt 25,2 triệu cây, tăng 1,2%; sản lượng gỗ khai thác 179 nghìn m3, bằng 99,9%.
Do công tác bảo vệ rừng thực hiện tốt nên tuy thời tiết đang hanh khô, nguy cơ cháy rừng ở mức cao nhưng chỉ xảy ra một số vụ cháy rừng nhỏ với diện tích bị cháy khoảng 61 ha.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2006, diện tích rừng trồng tập trung đạt 24,4 nghìn ha, bằng 99,7% cùng kỳ năm trước; trồng cây phân tán 40,4 triệu cây, bằng 100,2%; sản lượng gỗ khai thác 369 nghìn m3, bằng mức cùng kỳ.
Thuỷ sản
Tháng 2 năm nay, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 276,8 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 207,6 nghìn tấn, tăng 7%; tôm đạt 22,5 nghìn tấn, tăng 7,1%. Sản lượng nuôi trồng đạt 80,8 nghìn tấn, tăng 9,7%, trong đó sản lượng cá 56,5 nghìn tấn, tăng 10,8%; sản lượng tôm 12,8 nghìn tấn, tăng 11,3%. Thời tiết trong tháng thuận lợi cho hoạt động khai thác, số lượng tàu thuyền ra khơi nhiều, sản lượng khai thác ước tính đạt 196 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 180 nghìn tấn, tăng 5%.
Tính chung 2 tháng đầu năm nay, tổng sản lượng thuỷ sản đạt 568,9 nghìn tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 181,8 nghìn tấn, tăng 13,6%; khai thác 387,1 nghìn tấn, tăng 3,1%.
- Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 2/2006 ước tính đạt 37,85 nghìn tỷ đồng, bằng 92,4% so với tháng trước, do số ngày sản xuất trong tháng Hai ít hơn và nghỉ Tết Nguyên đán; tăng 23,7% so với tháng 2/2005. Trong tháng Hai, một số sản phẩm tăng cao so với cùng kỳ 2005 như: than sạch khai thác; khí đốt thiên nhiên; ga hoá lỏng; thuỷ sản chế biến; đường mật các loại; vải lụa thành phẩm; quần áo dệt kim; quần áo may sẵn; xi măng; gạch lát; động cơ điện.
Tính chung 2 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 8%; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng 21,7% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,3%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của nền kinh tế 2 tháng đầu năm vẫn duy trì mức độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Than sạch khai thác tăng 21,8%; thủy sản chế biến tăng 14,8%; vải lụa các loại tăng 23,2%; quần áo dệt kim tăng 24,4%; quần áo may sẵn tăng 39,3%; xi măng tăng 15,5%; máy công cụ tăng 27,8%; động cơ điện tăng 62,6%… Một số sản phẩm tăng thấp so với cùng kỳ năm trước như: giấy bìa các loại tăng 8,2%; ti vi lắp ráp tăng 1,1%; xe máy lắp ráp tăng 6,4%; điện tăng 9,1%. Trong hai tháng đầu năm nay, một số sản phẩm giảm do nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng thấp, do yếu tố mùa vụ và một số đơn hàng xuất khẩu triển khai chậm: Dầu thô khai thác 2 tháng đạt 2,9 triệu tấn, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước; khí đốt thiên nhiên giảm nhẹ 0,7%; đường mật tăng 0,6%; thuốc lá bao giảm 3,7%; phân bón hóa học giảm 9,4%; thép cán giảm 4,2%; quạt điện dân dụng giảm 7,5%; động cơ diezen giảm 12,2%; riêng ô tô lắp ráp giảm mạnh tới 50,1%, do thị trường ô tô có nhiều biến động phức tạp và chủ trương nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng đã phần nào ảnh hưởng đến sản lượng trong nước.
Công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh, thành phố lớn đều có mức tăng trưởng khá cao trong hai tháng đầu năm nay: Hà Nội tăng 21,3%; Hải Phòng tăng 20%; Hà Tây tăng 16,3%; Quảng Ninh tăng 17,5%; Khánh Hoà tăng 15,6%; Bình Dương tăng 20,8%; Đồng Nai tăng 17,9%; Cần Thơ tăng 19,1%; riêng thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,1% và Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 5,6%.
- Đầu tư
Thực hiện kế hoạch vốn đầu tư XDCB phần vốn ngân sách Nhà nước tháng 2/2006 ước tính đạt 3,55 nghìn tỷ đồng, bằng 6,3% kế hoạch cả năm, trong đó các đơn vị Trung ương 1,4 nghìn tỷ đồng bằng 8%; các đơn vị địa phương 2,15 nghìn tỷ đồng, bằng 5,6%. Tỷ lệ thực hiện kế họach vốn đầu tư tháng 2/2006 nhìn chung đạt thấp, chủ yếu do nghỉ Tết Nguyên đán Bính Tuất. Trong các Bộ, ngành, chỉ có Bộ Giao thông Vận tải thực hiện được 11% kế hoạch vốn đầu tư cả năm, với 734 tỷ đồng, nhưng chủ yếu vẫn là thực hiện khối lượng các dự án chuyển tiếp từ năm 2005, các công trình mới đang trong giai đoạn đấu thầu và triển khai thủ tục; các Bộ, ngành khác thực hiện khoảng 6% kế hoạch cả năm.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2006, thực hiện vốn đầu tư XDCB thuộc vốn ngân sách Nhà nước ước tính đạt 7,2 nghìn tỷ đồng, bằng 12,8% kế hoạch cả năm, trong đó các đơn vị Trung ương 2,55 nghìn tỷ đồng, bằng 14,6% và các đơn vị địa phương 4,65 nghìn tỷ đồng, bằng 12%.
Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 15/2/2006 đã có 113 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1319,1 triệu USD, bình quân vốn đăng ký 1 dự án là 11,7 triệu USD. Ngoài ra, có 12 dự án được tăng vốn với số vốn tăng thêm 61,3 triệu USD. Dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép từ đầu năm đến 15/2/2006 chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp và xây dựng với 89 dự án và 981,1 triệu USD, chiếm 78,8% số dự án và 74,4% tổng vốn đăng ký, trong đó công nghiệp nặng 58 dự án và 901,4 triệu USD; công nghiệp nhẹ 25 dự án và 73,5 triệu USD; công nghiệp thực phẩm 4 dự án và 0,7 triệu USD; ngành xây dựng 2 dự án với vốn đăng ký 5,4 triệu USD. Lĩnh vực nông, lâm nghiệp có 2 dự án với số vốn 1,9 triệu USD; các lĩnh vực khác 22 dự án và 336,1 triệu USD.
Trong các địa phương, thành phố thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu cả nước cả về số dự án và vốn đăng ký với 40 dự án (chiếm 35,4%) và 645,4 triệu USD (chiếm 48,9%); Hà Nội 9 dự án và vốn đăng ký 415 triệu USD; Đồng Nai 21 dự án và 98,9 triệu USD.
Có 15 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp phép đầu tư vào nước ta từ đầu năm đến 15/2/2006, trong đó Đặc khu Hành chính Hồng Công (Trung Quốc), Hàn Quốc và Nhật bản chiếm tới 98,1% số vốn đăng ký, trong đó Hồng Công 625 triệu USD, chiếm 47,4%; Hàn Quốc 388,7 triệu USD, chiếm 29,5% và Nhật Bản 279,8 triệu USD, chiếm 21,2%.
- Thương mại, giá cả và dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng 2 tháng đầu năm 2006 theo giá thực tế ước tính đạt 90,12 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường trong nước hai tháng đầu năm nay sôi động, giống như thời gian hai tháng năm trước, đều có tháng 1 chuẩn bị Tết Nguyên đán và tháng hai là tháng Tết nên nhu cầu mua sắm của dân cư tăng cao. Các khu vực kinh doanh thương mại, khách sạn nhà hàng, du lịch và dịch vụ đều có tổng mức tăng khá so với hai tháng đầu năm 2005, trong đó khu vực kinh tế cá thể chiếm 63,5% tổng mức, tăng 20% và khu vực kinh tế tư nhân chiếm 20,8% tăng 24,4%. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp chiếm 82,1% tổng mức, tăng 18,4%; khách sạn nhà hàng chiếm 11,6%, tăng 20,2%; dich vụ chiếm 5,6%, tăng 28,7% và du lịch tuy tỷ trọng nhỏ, chưa đến 1% nhưng tăng tới 32,9%. Nhu cầu du lịch của dân cư ngày càng tăng cao khi đời sống tăng. Kết hợp với thăm người thân, dự các lễ hội đầu xuân và thăm quan du lịch trong những ngày nghỉ dài đang trở thành nhu cầu của nhiều gia đình.
Giá tiêu dùng tháng 2/2006 tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 3,3% so với tháng 12/2005, đây là mức tăng giá bình thường nếu quan sát giá tiêu dùng tháng hai của một số năm gần đây.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 (%)
| 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | |
| Năm 2000 (gốc) = 100 | 108.6 | 113.0 | 123.3 | 133.8 |
| Tháng trước = 100 | 102.2 | 103.0 | 102.5 | 102.1 |
| Tháng 12 năm trước = 100 | 103.1 | 104.1 | 103.6 | 103.3 |
| Cùng tháng năm trước = 100 | 103.7 | 104.0 | 109.1 | 108.4 |
Giá tiêu dùng tháng hai ổn định và tăng theo xu hướng chung của các năm gần đây, do nguồn cung trên thị trường dồi dào, hàng hoá lưu thông thuận tiện giữa các vùng, miền theo qui luật cung cầu và sức mua tăng. Bên cạnh đó, có sự chỉ đạo điều hành sát sao thị trường hàng hoá và dịch vụ của Chính phủ và các Bộ, ngành chức năng.
So với tháng 1/2006, giá tiêu dùng tháng 2 của tất cả các nhóm hàng chính đều tăng (không kể phân nhóm giá bưu chính, viễn thông), trong đó giá nhóm lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng 3,2% (lương thực tăng 1,7% và thực phẩm tăng 3,7%, chủ yếu do tăng cầu các nhóm thực phẩm tiêu dùng truyền thống sử dụng trong ngày Tết); đồ uống và thuốc lá tăng 1,5%; dịch vụ văn hoá, thể thao, giải trí tăng 1,9%; các hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng khác tăng ở mức 0,1% đến 0,8%.
So với tháng 12/2005, giá tiêu dùng tháng 2/2006 tăng 3,3% với giá của tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng; tăng cao vẫn là các nhóm: giá lương thực, thực phẩm tăng 5% (lương thực tăng 3,8%; thực phẩm tăng 5,2%); đồ uống và thuốc lá tăng 2,7%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 2,1%.
Giá vàng tiếp tục tăng 5,4% so với tháng trước, tuy vẫn thấp hơn mức tăng kỷ lục 7,5% của tháng 12/2005, nhưng nếu so sánh với tháng 2/2005, giá vàng đã tăng tới 27%. Ngược lại với xu hướng giá vàng, giá đô la Mỹ tháng 2/2006 chỉ nhích lên 0,1% so với tháng trước và tăng cùng tỷ lệ 0,1% so với tháng 12 năm trước; so với tháng 2/2005 cũng chỉ tăng 0,9%. Giá đô la Mỹ có xu hướng ổn định và tăng thấp, so với giá năm 2000 cũng chỉ tăng 12,1%.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 2/2006 ước tính đạt 2,5 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 1,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 800 triệu USD và xuất khẩu dầu thô 597 triệu USD. Tính chung hai tháng đầu năm nay, trị giá xuất khẩu đạt 5,57 tỷ USD, tăng 28,3% so với 2 tháng đầu năm 2005. Xuất khẩu 2 tháng đầu năm có sự khởi sắc là do kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2006 thực hiện trên 3 tỷ USD và tăng với mức cao so với những năm gần đây. Xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước 2 tháng đạt 2,37 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ, đóng góp 10,1 điểm phần trăm vào tăng kim ngạch chung; xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt kim ngạch 1,86 tỷ USD, tăng 33,2%, đóng góp 10,6 điểm phần trăm và dầu thô 1,34 tỷ USD, tăng 32,2%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm.
Kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đều tăng so với hai tháng đầu năm trước. Ngoài dầu thô, 2 mặt hàng chủ lực đạt kim ngạch trên 500 triệu USD là dệt may 867 triệu USD, tăng 45,4% và giày dép 582 triệu USD, tăng 30,9%. Dệt may tăng với tốc độ cao là do cơ chế điều hành hạn ngạch dệt may năm 2006 rõ ràng, thông thoáng và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp chủ động ký kết và triển khai hợp đồng. Các mặt hàng chủ lực khác đều có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD như: thuỷ sản 329 triệu USD, tăng 3,3%; sản phẩm gỗ 290 triệu USD, tăng 31,1%; cà phê 165 triệu USD, tăng 1,8%; cao su 157 triệu USD, tăng 83,5% và than đá 110 triệu USD, tăng 40%. Xuất khẩu gạo ước tính đạt 580 nghìn tấn, tăng nhẹ về lượng (+2,9%) và kim ngạch 158 triệu USD, tăng 3,8%; Xuất khẩu gạo chất lượng cao được khuyến khích sang các thị trường truyền thống như Nhật Bản, EU, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin và một số thị trường mới như I-rắc, Hàn Quốc… Giá cà phê trên thế giới tăng mạnh, nhưng nguồn cung trong nước giảm mạnh do mất mùa nên lượng xuất khẩu chỉ bằng 62,7% cùng kỳ năm trước.
Nhập khẩu 2 tháng năm 2006 ước tính đạt 5,4 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 14,7% kế hoạch năm 2006, trong đó nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 3,36 tỷ USD, giảm 3% so cùng kỳ và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2,04 tỷ USD, tăng 18,9%. Kim ngạch nhập khẩu tăng không cao, chủ yếu do kim ngạch giảm ở một số mặt hàng chính như máy móc, thiết bị, sắt thép, ô tô, xe máy.
Nhập khẩu máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng 773 triệu USD, giảm 8,1%. Nhập khẩu hầu hết các loại vật tư, nguyên liệu cho sản xuất trong nước biến động theo các chiều hướng khác nhau, trong đó nhập khẩu phân bón, chất dẻo, sợi dệt và lúa mỳ tăng mạnh cả về kim ngạch và lượng nhập khẩu. Nhập khẩu xăng dầu 760 triệu USD, tương ứng với 1634 nghìn tấn, tăng 19,7% về kim ngạch nhưng lượng giảm 16,1%; sắt thép kim ngạch giảm 35,2%, lượng giảm 25,3% (do cầu trong hai tháng đầu năm không cao, lượng nhập và sản xuất trong nước còn tồn đọng); phân bón kim ngạch tăng 44,1%, lượng nhập tăng 39,8%; bông kim ngạch giảm 12,9%, lượng giảm 17,8%…
Kim ngạch nhập khẩu ô tô giảm tới 15,7%, do Nghị định của Chính phủ cho phép nhập khẩu xe đã qua sử dụng, nên các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước tạm thời giảm nhập khẩu linh kiện. Nhập khẩu xe máy 75 triệu USD, giảm 20,9%, do cung trong nước tăng (cả chất lượng và khả năng cạnh tranh).
Vận tải
Vận chuyển hành khách 2 tháng đầu năm ước đạt 217,3 triệu lượt hành khách và 8,9 tỷ hành khách.km; so với cùng kỳ năm trước tăng 8% về lượt hành khách và tăng 8,2% về lượt hành khách.km. Vận tải hành khách bằng đường sắt giảm 4,3% về lượt hành khách và giảm 4,9% về lượt hành khách. km, một mặt do nhu cầu đi lại bằng đường sắt của người dân trên các tuyến đường dài thời gian sau Tết Nguyên đán giảm, mặt khác do một lượng hành khách chuyển sang đi ô tô, là phương tiện vận chuyển thuận tiện hơn đối với các điểm đến không quá xa. Trong khi đó, vận chuyển hành khách bằng đường hàng không tăng 10% về số lượt khách và tăng 11,3% về lượt khách.km; đường bộ tăng 9% và tăng 9,4%; đường biển tăng 6,7% và tăng 9,2%; đường sông tăng 2,9% và tăng 3,3%.
Vận chuyển hàng hoá 2 tháng đầu năm ước tính đạt 55,3 triệu tấn và 14 tỷ tấn.km; so với cùng kỳ năm trước tăng 7,8% về tấn và tăng 7,1% về tấn.km. Trong các ngành vận tải, vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ đạt mức tăng cao nhất cả về tấn và tấn.km: tăng 9% về tấn và tăng 9,3% về tấn.km; đường sông tăng 6,2% và tăng 6,4%; đường biển tăng 6% và tăng 6,6%; vận tải hàng hoá bằng đường sắt giảm 3% về khối lượng vận chuyển, nhưng tăng 11,5% về khối lượng luân chuyển, chủ yếu tăng vận chuyển hàng hoá trên các tuyến vận tải đường dài.
Hoạt động vận tải 2 tháng đầu năm diễn ra tương đối an toàn, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá trong sản xuất và nhu cầu đi lại của dân cư. Ngành vận tải đã trang bị phương tiện vận tải và tăng cơ sở vật chất; tăng thêm tuyến xe; tăng tuyến xe chất lượng cao phục vụ nhanh chóng, tiện lợi và đổi mới mạnh mẽ trong quản lý điều hành tại các bến xe, nhà ga và tăng cường đảm bảo trật tự an toàn cho hành khách.
Du lịch
Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 2/2006 ước tính đạt 336 nghìn lượt người, giảm 0,3% so với tháng trước, do số ngày tháng Hai ít hơn và nhu cầu đến cũng thay đổi, chủ yếu giảm số người đến du lịch và thăm thân nhân. Khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi trong tháng 02/2006 bằng 98,9% tháng trước; thăm thân nhân chỉ bằng 72,6%, trong khi đó khách đến vì công việc tăng 22,7%; khách đến vì các mục đích khác tăng 34,7% so với tháng trước.
Tính chung 2 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 673 nghìn lượt người tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến vì công việc 86,9 nghìn lượt người, tăng 38,6%; khách đến du lịch 396,1 nghìn lượt người, tăng 13,2%; thăm thân nhân 116,8 nghìn lượt người, tăng 11,4%. Việt Nam ngày càng thu hút khách du lịch đến từ châu Âu và châu Mỹ, phần lớn khách đến từ các nước này đều tăng so với cùng kỳ năm trước: khách đến từ Na Uy tăng 86,9%; từ Nga tăng 72,2%, từ Đan Mạch tăng 43,7%; từ Mỹ tăng 31,8%; từ Đức 24,5%; riêng khách đến từ Italia giảm 27%… Tuy nhiên, khách đến từ Hàn Quốc, Thái Lan và Campuchia vẫn tăng mạnh so với hai tháng đầu năm trước: Hàn Quốc tăng 57%; Campuchia tăng 64,7%; Thái Lan tăng 41,4%. Đáng chú ý là khách đến từ Trung Quốc giảm 31,9% và từ Đặc khu Hành chính Hồng Công (Trung Quốc) giảm 28%, do trong dịp Tết Nguyên đán người dân cả hai nơi này có xu hướng đi du lịch trong nước nhiều hơn.
Hoạt động du lịch trong nước diễn ra khá sôi động. Các lễ hội truyền thống, phong tục cổ truyền được tổ chức ở nhiều địa phương thu hút du khách tham quan. Đời sống của người dân ngày một nâng cao, nên đã chuyển từ xu hướng ăn tết sang vui chơi trong dịp Tết nhiều hơn, do vậy những ngày đầu năm âm lịch người dân dành nhiều thời gian cho việc đi thăm hỏi và tham quan, du lịch.
- Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước 2 tháng năm 2006 ước tính đạt 15% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 14,5%, thu dầu thô 15,4%, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 16,1% và thu viện trợ 8,8%. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa như: Thu từ doanh nghiệp ĐTNN (không kể dầu thô) 14,4% dự toán cả năm; từ thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh 16,8%; thu từ kinh tế quốc doanh 13,9%; các khoản thu về nhà, đất 12,5%….
Tổng chi ngân sách Nhà nước 2 tháng 2006 ước tính đạt 14,2% dự toán cả năm, trong đó chi cho đầu tư phát triển đạt 13,6% (chi đầu tư xây dựng cơ bản 14,3%), chi thường xuyên 15,3%; chi trả nợ và viện trợ 14,4%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt mức phổ biến khoảng 15% kế hoạch chi cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo 14,9% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 16,7%; chi sự nghiệp kinh tế 15,7%; chi quản lý hành chính 15,4%. Bội chi ngân sách Nhà nước 2 tháng 2006 khoảng 12,5% dự toán cả năm và 85,2% thâm hụt được bù đắp từ nguồn trong nước.
- Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong nông dân
Trong tháng 2 có 139,5 nghìn hộ với 607,4 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 1,2% tổng số hộ và 1,1% số nhân khẩu nông nghiệp. So với tháng trước, số hộ thiếu đói tăng 62,7 nghìn lượt hộ với số nhân khẩu thiếu đói tăng 289,1 nghìn lượt người, nhưng so với thời điểm cuối tháng 2/2005, số hộ thiếu đói giảm 23,3% (-44,4 nghìn lượt người) với số nhân khẩu thiếu đói giảm 21,3% (-164 nghìn lượt người). Thiếu đói tăng chủ yếu ở một số tỉnh ở Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ, do tình trạng hạn hán kéo dài và ảnh hưởng của bão số 6, số 7 trong năm 2005. Để hỗ trợ các đối tượng thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm trong năm 2005 các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân đã trợ giúp khoảng 3,5 nghìn tấn lương thực và hàng tỷ đồng.
Tình hình dịch bệnh
Trong tháng 2/2006 có 2,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 2,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và khoảng 120 trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút. Tính chung 2 tháng đầu năm, có 6,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 3,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và trên 230 trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút. Trong 2 tháng qua, cũng đã có gần 1 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 11 người đã tử vong.
Về tình hình bệnh cúm A-H5N1, trong tháng không có trường hợp nào nghi nhiễm bệnh. Như vậy, tính từ 14/11/2005 đến nay, đã hơn 3 tháng không có trường hợp mới nào mắc bệnh.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 2/2006 đã phát hiện thêm 352 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số trường hợp nhiễm HIV trong cả nước đến 20/2/2006 lên 104,7 nghìn người, trong đó có trên 17,4 nghìn bệnh nhân AIDS và 10,2 nghìn người đã chết do AIDS.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 1 (Từ 21/12/2005-21/1/2006), trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1489 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1261 người và làm bị thương 1264 người. So với tháng 12/2005, số vụ tai nạn tăng 26,2%; số người chết tăng 28,4% và số người bị thương tăng 45,8%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn tăng 10,6%; số người chết tăng 24,6% và bị thương tăng 6%. Như vậy, trong tháng 1 năm nay, tai nạn giao thông đã tăng đột biến cả số vụ, số người chết và bị thương so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 1 ngày, trên địa bàn cả nước xảy ra 48 vụ tai nạn, làm chết 41 người và bị thương 41 người. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Tuất vừa qua, số người chết do tai nạn giao thông cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Chỉ tính từ ngày 29 tháng Chạp đến ngày mùng 5 Tết, đã xảy ra 462 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 334 người và làm bị thương 573 người. So với Tết Ất Dậu, số vụ và số bị thương giảm, nhưng số người chết lại tăng 50 người. Ngoài ra, trong những ngày đầu năm nay đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, như vụ tai nạn tại km 86+400 trên quốc lộ 4D thuộc Tam Đường, tỉnh Lai Châu làm 8 người chết và 6 người bị thương; tai nạn tại km số 1420+800 Quốc lộ 1A thuộc Ninh Hòa, Khánh Hòa làm chết tại chỗ 3 người, bị thương 7 người.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ