Giai đoạn 2020-2024 tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều biến động phức tạp, dịch bệnh Covid-19 bùng phát và diễn biến khó lường, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, xung đột quân sự Nga – Ukraina chưa có hồi kết, ngày càng gia tăng khiến cho chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, nguyên liệu đầu vào, giá cả hàng hóa gia tăng, điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động kinh tế – xã hội trong nước, trong đó phải kể đến sản xuất công nghiệp. Để đối mặt với những khó khăn hiện tại, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách phù hợp, vì vậy nền kinh tế đã có bước phục hồi tích cực; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát dần được kiểm soát, theo đó, sản xuất công nghiệp cũng có những tín hiệu tích cực.
Nhìn chung, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý I các năm 2020-2024 đều tăng (lần lượt là 5,6%; 5,7%; 6,8%; 5,7%), riêng quý I/2023 giảm 2,6% do kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, biến động khó lường, lạm phát các nước mặc dù hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao, đơn hàng giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm. Tuy nhiên, nhờ vào sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, cùng sự phối hợp của các bộ, ngành và địa phương nên sản xuất công nghiệp diễn biến theo xu hướng tích cực, đặc biệt kể từ quý III/2023. Những tháng đầu năm 2024, kinh tế – xã hội của nước ta vẫn duy trì xu hướng tích cực. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý I/2024 ước tính tăng 6,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,98%, đóng góp 1,73 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,97%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,99%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 5,84%, làm giảm 0,20 điểm phần trăm. Đây là tín hiệu tích cực, tạo lực đẩy, góp phần tăng trưởng kinh tế, thương mại, xuất khẩu cho những tháng tiếp theo của năm 2024.
Trong sản xuất công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo chiếm trên 74% giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp, đóng vai trò chủ chốt quyết định chủ yếu đến tốc độ tăng trưởng toàn ngành công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Chỉ số IIP của ngành chế biến, chế tạo quý I/2021 tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất so với cùng kỳ các năm 2020-2024 nhờ sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, người dân và doanh nghiệp thực hiện hiệu quả mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế. Trong đó, một số ngành công nghiệp trọng điểm tăng cao hơn so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Sản xuất kim loại tăng 36,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 6,5%. Ở chiều ngược lại, trong quý I/2023, tốc độ tăng chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,9% do thời gian này ngành công nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh tổng cầu thế giới suy giảm, số lượng đơn đặt hàng ở Việt Nam giảm mạnh. IIP quý I/2023 của một số ngành trọng điểm thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 10,9%; sản xuất trang phục giảm 9,3%; dệt giảm 7,4%; sản xuất kim loại giảm 7,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 7,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 5,4%.
Ngành khai khoáng là ngành đóng góp gần 16% trong giá trị tăng thêm của toàn ngành công nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, đóng góp của ngành vào GDP và lao động đang có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, công tác quản lý tài nguyên khoáng sản tại Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Chỉ số IIP ngành khai khoáng quý I các năm 2020-2024 đều giảm so với cùng kỳ năm trước (quý I các năm lần lượt giảm là 5,5%; 8,1%; 3%; 4,1%); riêng quý I/2022 tăng 2,8% chủ yếu do khai thác than và quặng kim loại tăng (tăng lần lượt là 4,8% và 4,2%). Tính đến năm 2022, nước ta có khoảng 5.000 mỏ và điểm quặng (900 mỏ đang khai thác), thuộc 48 loại khoáng sản khác nhau như: bauxit, đất hiếm, than, apatit, đá hoa trắng, titan-zircon, sắt, đồng, chì kẽm, mangan, cromit, antimon, kim loại hiếm… Ngoài ra, năm 2022 cả nước đã khai thác được 6.985 triệu tấn than và tập trung nguồn lực cho thi công 02 đề án thăm dò mỏ than Đồng Rì và Bảo Đại I, nhằm chuẩn bị nguồn tài nguyên trữ lượng cho quá trình phát triển mỏ các năm tiếp theo; đồng thời kết thúc sớm thi công đề án thăm dò mỏ than Quảng La.
Ngành điện luôn đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của dân cư. Chỉ số sản xuất của ngành điện quý I/2023 giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương giảm là: Ninh Bình giảm 31,8%; Trà Vinh giảm 29,3%; Hà Giang giảm 24,9%; Cao Bằng giảm 21,9%; Hải Phòng giảm 18,5%. Trong quý I/2024, tốc độ tăng chỉ số sản xuất của ngành điện đạt khá với mức tăng 12,1% do EVN đã tổ chức vận hành cao một số nhà máy thủy điện, hoàn thành đóng điện, đưa vào vận hành 22 công trình lưới điện từ 110 kV đến 500 kV… Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Khánh Hòa tăng 476,5%; Trà Vinh tăng 164,0%; Thanh Hóa tăng 41,3%; Hải Dương tăng 17,3%; Bắc Giang tăng 15,7%; Ninh Thuận tăng 13,5%. Khánh Hòa là địa phương có mức tăng chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện trong quý I/2024 ấn tượng nhất do trong thời gian này Nhà máy Nhiệt điện BOT Vân phong 1 vận hành thương mại tổ máy 1 và tổ máy 2 tiếp tục vận hành chạy thử nghiệm giúp cho chỉ số sản xuất của ngành này tăng mạnh. Đối với Trà Vinh, sản xuất và phân phối điện là ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh, chiếm tỷ trọng lớn trong GRDP. Nếu như trong quý I/2022 chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện của Trà Vinh giảm 30,34% nhưng đến quý I/2024 chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phổi điện gấp 2,64 lần so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do cùng kỳ năm trước ngành sản xuất nhiệt điện chỉ có Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 được vận hành, trong khi đó các Nhà máy còn lại không được huy động (đến tháng 4 và tháng 5/2023 các Nhà máy mới đồng loạt được huy động trở lại). Sản phẩm nhiệt điện quý I/2024 gấp 2,86 lần cùng kỳ năm trước; sản phẩm điện gió tăng 44,66% do cùng kỳ năm trước Nhà máy điện gió Hiệp Thạnh chỉ vận hành 3 tuabin, hiện nay là 18 tua bin; ngoài ra sản lượng điện gió ở các nhà máy khác cũng tăng do lưu lượng gió tốt; sản phẩm điện mặt trời tăng 3,49% .
Ngành cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải là ngành chiếm tỷ trọng thấp nhất trong 4 ngành công nghiệp cấp I và luôn duy trì tăng trưởng trong quý I các năm 2020-2024, trong đó đạt mức tăng cao nhất vào quý I/2021 (6,4%) và thấp nhất vào quý I/2022 (11,4%).
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp trong quý I của các năm 2020-2024 phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Để hoạt động sản xuất công nghiệp được thúc đẩy hơn nữa thì cần phải có những giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ sản xuất công nghiệp, tháo gỡ khó khăn và phát triển sản xuất. Một số giải pháp có thể đưa ra như sau:
– Do giá dầu thô, khí đốt trên thế giới vẫn ở mức cao, chi phí logistics tăng và nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho các doanh nghiệp tăng, do vậy doanh nghiệp rất cần chính phủ, các cấp, các ngành hỗ trợ doanh nghiệp về vốn trong quá trình phục hồi và khởi nghiệp, tiếp tục hạ lãi xuất cho vay và tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh;
– Chính phủ, các cấp, các ngành thúc đẩy giải ngân nhanh các gói cứu trợ doanh nghiệp kịp thời và hiệu quả. Đặc biệt tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn ưu đãi thuận lợi, nhanh chóng; kích cầu tiêu dung trong nước.
– Hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm như: tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu, hỗ trợ thuế, phí xuất khẩu, giảm chi phí logistics,…
– Đơn giản hóa thủ tục hành chính, giải ngân nhanh đầu tư công, tạo điều kiện thúc đẩy SXKD, đặc biệt là ngành xây dựng, công nghiệp phát triển, giải quyết việc làm, thu nhập của người lao động, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế;
– Đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả trong ngăn chặn hàng nhập lậu, chống chuyển giá, gian lận nhãn mác trong các doanh nghiệp;
– Tuyên truyền và đẩy mạnh chính sách tiêu dùng trong nước, kích cầu tiêu thụ trong nước “người Việt Nam tiêu dùng hàng Việt Nam”.

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)
