Ngay từ đầu vụ, điều kiện thời tiết diễn biến bất lợi cho sản xuất lúa đông xuân như rét đậm, rét hại kéo dài ở các tỉnh miền Bắc, nắng hạn xảy ra ở các tỉnh miền Nam. Trước tình hình đó, các địa phương đã chủ động điều chỉnh thời vụ, chuyển đổi cây trồng, đảm bảo nguồn nước tưới cho gieo cấy, chăm sóc lúa, đồng thời tập trung phòng chống rét, nắng hạn nên cây lúa vẫn phát triển ổn định.

Theo kết quả tổng hợp từ các địa phương, diện tích gieo cấy lúa đông xuân 2024 cả nước đạt 2.954,0 nghìn ha, tăng 1,2 nghìn ha so với vụ đông xuân 2023. Tại các địa phương phía Bắc, diện tích gieo trồng lúa đông xuân 2024 đạt 1.059,8 nghìn ha, giảm 8,2 nghìn ha, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 471,4 nghìn ha, giảm 5,7 nghìn ha; vùng Trung du và miền núi phía Bắc đạt 241,3 nghìn ha, giảm 1,7 ha;  vùng Bắc Trung Bộ đạt 347,2 nghìn ha, giảm 0,8 nghìn ha. Một số tỉnh diện tích lúa đông xuân giảm như: Hà Nội giảm 1.534 ha , trong đó 563 ha chuyển sang đất phi nông nghiệp, 393 ha chuyển trồng cây hằng năm khác cho kinh tế cao hơn, 94 ha chuyển trồng cây lâu năm, 295 ha chuyển nuôi trồng thủy sản; Bắc Ninh giảm 801 ha, trong đó 555 ha chuyển sang đất phi nông nghiệp, 107,1 ha chuyển trồng cây hằng năm khác, 9,2 ha chuyển trồng cây lâu năm, 119 ha không sản xuất do người dân đi làm tại các khu công nghiệp cho thu nhập tốt hơn; Thái Bình giảm 920 ha; Hà Nam giảm 880 ha; Bắc Ninh giảm 801 ha chủ yếu do xây dựng khu công nghiệp; Bắc Giang giảm 550 ha; Hà Giang giảm 141,3 ha chủ yếu là đất lúa do bị thu hồi để làm đường; Thừa Thiên Huế giảm 145 ha, trong đó 23 ha chuyển sang đất phi nông nghiệp, 113,3 ha chuyển trồng cây hằng năm khác, 1,5 ha chuyển trồng cây lâu năm và 2 ha không sản xuất.

Tại các địa phương phía Nam, nhờ có cảnh báo về tình trạng nắng hạn từ đầu năm nên các địa phương đã chủ động chuyển đổi những diện tích lúa có khả năng thiếu nước tưới trong vụ đông xuân sang cây trồng khác. Nhờ ngay từ đầu vụ sản xuất, các địa phương đã có chủ trương chủ động ứng phó hạn mặn, hạn chế tác hại do hạn mặn đối với sản xuất cây trồng; kiểm tra các hệ thống thủy lợi, đáp ứng tốt công tác vận hành đưa nước kịp thời những nơi có độ mặn cao. Ngành nông nghiệp đã khuyến cáo người dân cần xuống giống đúng thời vụ, tránh xuống giống tự phát, tập trung theo lịch thời vụ nhằm né mặn, sâu bệnh, các đợt rầy nâu di trú, tăng cường sử dụng giống lúa không lẫn tạp, có nguồn gốc rõ ràng. Diện tích gieo trồng lúa đông xuân 2024 toàn miền sơ bộ đạt 1.894,2 nghìn ha, tăng 9,4 nghìn ha so với vụ đông xuân 2023. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.487,7 nghìn ha, tăng 9 nghìn ha so vụ đông xuân trước do giá lúa từ cuối năm 2023 đang ở mức cao, người dân cố gắng gieo cấy tối đa diện tích. Một số địa phương có diện tích gieo trồng lúa đông xuân tăng là: Long An tăng 10,6 nghìn ha; Sóc Trăng tăng 7,5 nghìn ha; Bạc Liêu tăng 1,8 nghìn ha. Tuy nhiên, một số địa phương có diện tích lúa giảm nhiều: Tiền Giang giảm 3,3 nghìn ha chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp như xây dựng cụm công nghiệp, xây dựng đường cao tốc, chuyển sang trồng hoa màu và cây ăn quả như sầu riêng, mít, thanh long, bưởi…. cho giá trị kinh tế cao hơn; Cần Thơ giảm 2,2 nghìn ha do hầu hết quận, huyện chuyển đổi mạnh từ cây lúa và màu qua cây ăn trái, một số vùng trong có diện tích đất gò, nền đất khó giữ nước hoặc diện tích đất trồng lúa không hiệu quả chuyển đổi sang cây lâu năm, cây hàng năm khác; Vĩnh Long giảm 1,6 nghìn ha chủ yếu chuyển đổi sang trồng màu và một số loại cây ăn quả cho hiệu quả kinh tế cao như mít, sầu riêng, bưởi da xanh, một phần do chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tăng cao nên người dân giảm diện tích.

Tính đến trung tuần tháng 6, các địa phương cơ bản hoàn tất công tác thu hoạch lúa đông xuân, đạt 2.875,8 nghìn ha, chiếm 97,4% diện tích gieo trồng và bằng 99,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch được 978,2 nghìn ha, chiếm 92,3% diện tích gieo trồng và bằng 97,0% so với cùng kỳ năm trước; các địa phương phía Nam đã hoàn tất thu hoạch lúa đông xuân.

Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân của cả nước ước đạt với 68,8 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước. Các địa phương phía Bắc ước đạt 64,8 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha; trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 66,9 tạ/ha; tăng 0,4 tạ/ha; vùng Trung du và miền núi phía Bắc đạt 58,5 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; vùng Bắc Trung Bộ đạt 66,1 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha. Các địa phương phía Nam đạt 71,1 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt năng suất cao nhất cả nước với 72,3 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha. Một số địa phương có năng suất lúa đông xuân tăng cao so với vụ đông xuân năm 2023 là Trà Vinh đạt 67,0 tạ/ha, tăng 6,0 tạ/ha; Khánh Hòa đạt 69,2 tạ/ha, tăng 5,4 tạ/ha; Quảng Bình đạt 64,7 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha; Sóc Trăng đạt 70,1 tạ/ha, tăng 2,1 tạ/ha. Tuy nhiên, một số tỉnh do ảnh hưởng nắng nóng và thiếu nước tưới cuối vụ nên năng suất giảm: Bến Tre giảm 2 tạ/ha; Long An giảm 1,7 tạ/ha; An Giang giảm 1,1 tạ/ha; Bình Phước giảm 1,3 tạ/ha.

Biểu: Diện tích, năng suất, sản lương lúa đông xuân năm 2024

Diện tích
(Nghìn ha)
Năng suất
(Tạ/ha)
Sản lượng
(Nghìn tấn)
Cả nước

2954.0

68.8

20321.9

Tăng so với vụ ĐX trước

1.2

0.4

132.5

Đồng bằng sông Hồng

471.4

66.9

3153.9

Tăng so với vụ ĐX trước

-5.7

0.4

-18.7

Trung du và miền núi phía Bắc

241.3

58.5

1412.1

Tăng so với vụ ĐX trước

-1.7

0.3

-0.9

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

579.3

66.9

3878.0

Tăng so với vụ ĐX trước

-0.4

1.5

64.0

Tây Nguyên

94.2

67.2

633.2

Tăng so với vụ ĐX trước

-0.9

0.5

-0.7

Đông Nam Bộ

80.3

61.1

490.0

Tăng so với vụ ĐX trước

0.9

0.8

11.2

Đồng bằng sông Cửu Long

1487.7

72.3

10754.6

Tăng so với vụ ĐX trước

9.0

0.1

77.6

 

Kết quả sản xuất lúa vụ đông xuân năm nay đạt khá với sản lượng ước đạt 20,32 triệu tấn, tăng 132,5 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm trước. Miền Bắc ước đạt 6,86 triệu tấn, tăng 2,8 nghìn tấn; chủ yếu ở vùng Bắc Trung Bộ do năng suất của vùng này tăng so với vụ đông xuân năm trước, sản lượng lúa đông xuân của vùng đạt 2,3 triệu tấn, tăng 22,4 nghìn tấn (Thanh Hóa tăng 8,9 nghìn tấn; Hà Tĩnh tăng 8,9 nghìn tấn; Quảng Bình tăng 5,5 nghìn tấn; Thừa Thiên Huế tăng 3,3 nghìn tấn). Trong khi đó, vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 3,15 triệu tấn, giảm 18,7 nghìn tấn chủ yếu do giảm diện tích gieo trồng (Hà Nội giảm 7,9 nghìn tấn; Hưng Yên giảm 4,6 nghìn tấn; Hà Nam giảm 5,7 nghìn tấn; Bắc Ninh giảm 3,2 nghìn tấn; Hải Phòng giảm 1,8 nghìn tấn); vùng Trung du và miền núi phía Bắc đạt gần 1,41 triệu tấn, giảm 0,9 nghìn tấn cũng do giảm diện tích gieo trồng (Điện Biên giảm 2,5 nghìn tấn; Sơn La giảm 1,5 nghìn tấn; Tuyên Quang giảm 1,4 nghìn tấn; Hòa Bình giảm 0,8 nghìn tấn).

Miền Nam sản lượng ước đạt 13,46 triệu tấn, tăng 129,7 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm trước do tăng cả năng suất và diện tích gieo trồng. Trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 10,75 triệu tấn, tăng 77,6 nghìn tấn (Sóc Trăng tăng 87,6 nghìn tấn; Trà Vinh tăng 34,9 nghìn tấn; Long An tăng 30,5 nghìn tấn; Bạc Liêu tăng 13,7 nghìn tấn; Kiên Giang tăng 13,4 nghìn tấn); vùng Đông Nam Bộ đạt 490 nghìn tấn, tăng 11,2 nghìn tấn cũng do tăng cả về diện tích và năng suất (Tây Ninh tăng 4,8 nghìn tấn; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 4,4 nghìn tấn; Đồng Nai tăng 1,8 nghìn tấn).

Những năm gần đây diện tích gieo trồng lúa đông xuân vẫn đang có xu hướng giảm, mặc dù vụ lúa đông xuân là vụ chính trong năm. Nguyên nhân do một phần diện tích chuyển sang đất phi nông nghiệp để xây dựng, mở rộng, phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng hạ tầng giao thông …) trên địa bàn nông thôn; một phần diện tích lúa kém hiệu quả tiếp tục chuyển đổi sang trồng cây khác hoặc nuôi thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao và một phần người dân không tiến hành sản xuất do thiếu lao động và thu nhập từ trồng lúa thấp hơn các ngành khác. Tuy nhiên, các ban ngành đã có chủ trương khuyến khích người dân mở rộng sản xuất, tích cực áp dụng các phương pháp mới như trồng lúa hữu cơ, sử dụng giống lúa có chất lượng và năng suất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh. Nhờ vậy mà kết quả sản xuất vụ đông xuân đạt khá, năng suất lúa và sản lượng tăng so với năm trước.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm