Tiền Giang là tỉnh đồng bằng, có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển nông nghiệp. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn với 37,1% (năm 2023). Diện tích đất sản xuất nông nghiệp đến cuối năm 2022 đạt 189,9 nghìn ha, chiếm gần 75% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh; trong đó diện tích trồng cây ăn 82,3 nghìn chiếm 43,4% diện tích đất nông nghiệp. Cây thanh long được xem là một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh. Tiền Giang cũng có Đề án phát triển thanh long góp phần giải quyết việc làm cho người lao động tại chỗ trong nông thôn. Sản phẩm thanh long được lưu thông trên thị trường, tạo điều kiện thúc đẩy các dịch vụ sản xuất phát triển, công nghiệp chế biến tại địa phương dần được hình thành, góp phần làm thay đổi nông thôn, theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Tính đến cuối năm 2023, diện tích thanh long toan tinh đoạt 8.661 ha, trong đó Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 về việc phát triển cây thanh long trên địa bàn tỉnh đến năm 2025 đạt 8.821 ha, chiếm 98,1% diện tích thanh long toàn tỉnh, tăng 72,96%, tương đương tăng 3.721 ha so với trước khi thực hiện Đề án (năm 2016 là 5.100 ha), đạt 98% so với mục tiêu đến năm 2025. Đến năm 2023 đã có 7.396 ha thanh long cho sản phẩm, chiếm 85% diện tích thanh long hiện có và cho thu hoạch 299 nghìn tấn quả.
Năng suất bình quân trên diện tích cho sản phẩm đạt 34,5 tấn/ha, tăng 9,4 tấn/ha so với trước khi thực hiện Đề án, cao hơn 5,8 tấn/ha so với mục tiêu của Đề án đến năm 2025 (mục tiêu Đề án từ 28,7 tấn/ha). Nhờ đó mà góp phần tăng giá trị sản phẩm trên một ha đất trồng trọt của Tiền Giang từ 89,3 triệu đồng/ha năm 2016 lên 122,3 triệu đồng/ha năm 2023.
Giống thanh long được trồng chủ yếu là thanh long ruột đỏ, ruột trắng, ruột tím hồng và thanh long khác, trong đó: Thanh long ruột đỏ: 6.227 ha, chiếm 70,6% diện tích, tăng 37,3% so với trước khi thực hiện Đề án; thanh long ruột trắng 2.478 ha, chiếm 28,1% diện tích, giảm 38,6%; thanh long ruột tím hồng 62 ha, chiếm 0,7% diện tích, tăng 0,7%; thanh long khác 53 ha, chiếm 0,6% diện tích, tăng 0,6%.
Để đạt được hiệu quả và tăng năng suất thanh long, công tác phòng chống dịch bệnh trên thanh long luôn được ngành quan tâm thực hiện. Trong năm 2022, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn về Trồng trọt và bảo vệ thực vật thuộc Sở phối hợp với địa phương tập huấn 06 cuộc hướng dẫn nông dân Quy trình sản xuất, quản lý bệnh đốm nâu trên thanh long; chăm sóc, bón phân, phòng trừ bệnh trên thanh long theo hướng an toàn, sinh học với hơn 300 lượt nông dân tham dự. Bên cạnh đó, Ngành Nông nghiệp đã chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân trong tỉnh bao gồm: Hướng dẫn nông dân trồng giống thanh long ruột đỏ, kỹ thuật trồng thanh long leo giàn, kỹ thuật ủ và sử dụng phân hữu cơ, sử dụng hệ thống tưới nước tự động, kết hợp đưa phân vào hệ thống tưới, kỹ thuật cắt tỉa cành tạo tán, quy trình quản lý bệnh đốm nâu, kỹ thuật xử lý ra hoa nghịch vụ bằng đèn compact tiết kiệm chi phí xông điện, kỹ thuật tuyển chọn nụ và trái,…đã góp phần nâng cao năng suất cây thanh long và gắn kết nông dân và doanh nghiệp tiêu thụ trái thanh long. Đến nay đã có 76,3% diện tích thanh long áp dụng cơ giới hóa trong tưới nước; 60-70% diện tích thanh long sử dụng các chế phẩm sinh học trong sản xuất thanh long; 39,2% diện tích sử dụng các loại đèn tiết kiệm điện để xử lý ra hoa, có 2.306 ha thanh long được chứng nhận đạt tiêu chuẩn GAP, chiếm 26,1%. Đến nay, mã số vùng trồng được cấp cho thanh long là 77 mã số, trong đó sang thị trường Trung Quốc là 29 mã số và sang thị trường như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Úc, NewZealand 48 mã số với tổng diện tích là 6.090 ha, chiếm 69%.
Về thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện các hoạt động kết nối cung cầu các mặt hàng nông sản hàng hóa của tỉnh với các kênh phân phối như: Các siêu thị, trung tâm thương mại (Big C, Co.opmart, Vinmart, Familymart, Bách hóa Xanh, MM Mega market, Lottemart, Aeon,…); các hãng hàng không như Vietnam Airlines; các nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể; các chợ đầu mối nông sản tại Tp.HCM, Hà Nội,… Thông qua các hoạt động kết nối này, nhiều sản phẩm nông sản của Tiền Giang, trong đó có thanh long đã có mặt tại hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại và các chợ đầu mối tại các thành phố lớn. Nhiều doanh nghiệp cơ sở đã đầu tư kho bãi, cơ sở sơ chế trên địa bàn góp phần tác động sự cạnh tranh về giá, có lợi cho nông dân tiêu thụ trên 80% sản lượng thanh long được sản xuất.
Ngoài ra, tỉnh đang triển khai thực hiện dự án “Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ thanh long tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2020-2025 và định hướng đến năm 2030” nhằm nâng cao giá trị, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thanh long thông qua việc tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao tỷ trọng sản phẩm giá trị, áp dụng khoa học công nghệ, gắn kết sản xuất với kinh doanh, ứng dụng công nghệ xử lý sau thu hoạch, chế biến sâu và giảm tổn thất sau thu hoạch gắn với an toàn thực phẩm; nâng cao năng lực quản trị, điều hành, kỹ năng thương mại cho các hợp tác xã; hình thành phương thức sản xuất tiêu thụ mới thông qua hợp đồng, nâng cao thu nhập cho người dân trồng thanh long và các đối tương tham gia chuỗi liên kết; góp phần thực hiện nội dung tái cơ cấu theo vùng nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng biến đổi khí hậu xâm nhập mặn và hạn hán.
Phát triển cây thanh long trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động tại chỗ trong nông thôn. Sản phẩm thanh long được lưu thông trên thị trường, tạo điều kiện thúc đẩy các dịch vụ sản xuất phát triển, công nghiệp chế biến tại địa phương dần được hình thành, góp phần làm thay đổi nông thôn, theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, theo hướng tổ chức hàng hoá.
Phát triển sản xuất thanh long an toàn góp phần thực hiện tốt các chính sách, như ổn định sản xuất vệ sinh an toàn thực phầm. Hơn nữa, phát triển vùng sản xuất hàng hoá tập trung góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng tại địa phương, nhiều khu vực, trung tâm cụm kinh tế kỹ thuật, chợ nông thôn được hình thành sôi động.
Việc đẩy mạnh sản xuất thanh long an toàn theo đúng quy trình VietGap, GlobalGAP không chỉ bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, người sản xuất mà còn có tác dụng duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường; làm cho đất, nước, không khí không bị ô nhiễm bởi dư thừa phân hoá học và các chất bảo vệ thực vật. Xây dựng mô hình canh tác tổng hợp thích nghi với từng vùng sinh thái đã góp phần khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, nước trong vùng đề án. Ứng dụng các giải pháp kỹ thuật như: xử dụng đèn tiết kiệm năng lượng, hệ thống tưới nhỏ giọt, trồng leo giàn kiểu mới, quản lý mùa vụ tổng hợp (ICM – Intergrated Crop Management), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM – Integrated Pest Management) và bón phân theo qui trình quản lý dinh dưỡng (INM), tăng cường sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng (đặc biệt phân gà) đã qua xử lý (oai mục) sẽ giảm thiểu mùi hôi góp phần giảm thiểu ô nhiểm môi trường.
Cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư phát triển đã tạo cơ sở, động lực cho phát triển kinh tế không chỉ cho sản xuất thanh long mà còn cho tất cả các ngành nghề, loại cây trồng khác góp phần gia tăng khả năng thông thương, tiếp cận, trao đổi thông tin, giao lưu văn hóa, chuyển giao khoa học kỹ thuật….Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật có hiệu quả, nhận thức và kinh nghiệm về sản xuất của nông dân được tích lũy và nâng lên thông qua việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ sản xuất và khắc phục khó khăn trong sản xuất.
Tuy nhiên, phát triển cây thanh long tại Tiền Giang cũng gặp một số khó khăn:
– Sự phát triển thanh long ngoài quy hoạch của đề án tiềm ẩn nguy cơ cung vượt cầu, thanh long chưa đạt chuẩn chất lượng, việc điều tiết nước tưới không đồng bộ cho thanh long và các loại cây trồng khác, khó kiểm soát côn trùng gây hại ảnh hưởng đến sản xuất trong nội bộ ngành. Tại những nơi trồng thanh long tự phát rời rạc, không tập trung, hạ tầng giao thông, điện không được đảm bảo, khó ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất, chi phí sản xuất cao.
– Sử dụng phân chuồng chưa qua xử lý, sử dụng nhiều và lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật vẫn còn xảy ra ở một nơi còn làm ô nhiễm môi trường xung quanh và tồn dư thuốc BVTV trên nông sản.
– Doanh nghiệp, cơ sở thu mua trên địa bàn có nhiều nhưng chưa kết hợp địa phương, cơ sở, nông dân trong tổ chức xây dựng vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn an toàn (VietGAP), thực hiện chuổi giá trị cây thanh long rất khiêm tốn.
– Sản lượng thanh long chủ yếu xuất khẩu ra thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 85% tiềm ẩn nguy cơ biến động về giá. Ngoài ra, thị trường tiêu thụ thanh long Trung Quốc bắt đầu áp dụng truy xuất nguồn gốc đảm bảo an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn GAP, đây sẽ là rào cản rất lớn cho thanh long Tiền Giang khi xuất khẩu sang thị trường này. Trong những năm tới, thị trường thanh long chủ yếu là Trung Quốc, thị trường một số nước khác tương đối ổn định, không có đột biến trong tăng trưởng nhu cầu. Thị trường xuất khẩu đối mặt nhiều thách thức để đáp ứng các yêu cầu của nước nhập khẩu về chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản,…
Hiện nay sản lượng thanh long đã vượt mục tiêu đề ra đến năm 2025. Trong thời gian tới, cần tập trung nâng cao về chất lượng sản phẩm và giải quyết đầu ra sản phẩm để nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất, mục tiêu: Trong giai đoạn 2023 – 2025: phấn đấu có khoảng 3.600 ha đạt chuẩn GAP; diện tích thu hoạch năm 2025 là 7.900 ha (không tính diện tích đang trong quá trình cải tạo và kiến thiết cơ bản), năng suất trung bình trên 30 tấn/ha; tổng sản lượng thanh long đạt trên 235.000 tấn/năm.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đã đề ra, giải pháp cần thực hiện là:
– Tổ chức sản xuất theo mô hình liên kết, nâng chất lượng trái thanh long đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, tạo điều kiện thực hiện liên kết chuỗi giá trị với các công ty, tổ hợp tác, hợp tác xã định kỳ rút kinh nghiệm nhân rộng nhằm giúp sản xuất thanh long đạt hiệu quả và mang tính bền vững.
– Trên cơ sở quy hoạch dự án phát triển cây thanh long của tỉnh, các địa phương có kế hoạch cân đối nguồn vốn đầu tư đồng bộ để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất (thủy lợi, giao thông, điện…).
– Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nhằm triển khai sâu rộng về ý nghĩa của việc sản xuất thanh long theo quy hoạch và ứng dụng công nghệ cao trong quá trình sản xuất. Việc sản xuất thanh long an toàn phải đi vào thực chất, không chạy theo số lượng.
– Đào tạo, trang bị kiến thức chuyên ngành và cập nhật thông tin về tiến bộ kỹ thuật mới để chuyển giao, tập huấn cho nông dân, hướng dẫn nông dân sản xuất theo hướng canh tác tiến tiến, hiệu quả.
– Xây dựng phát triển hệ thống dịch vụ sản xuất và tiêu thụ thanh long: Thông qua các chính sách đầu tư về vay vốn để khuyến khích doanh nghiệp, công ty đầu tư xây dựng cơ sở, kho, bãi thu mua, sơ chế, ưu tiên ứng dụng công nghệ cao trong khâu chế biến sâu về thanh long; tạo điều kiện cho doanh nghiệp, công ty gặp gỡ các trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác ký kết tiêu thụ thanh long trên địa bàn tỉnh. Trước mắt xây dựng mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ trên sản phẩm đạt tiêu chuẩn GAP; xây dựng chiến lược phát triển thị trường, trong đó chú trọng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá thanh long để phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ thanh long tránh phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc để đẩy mạnh phát triển thanh long an toàn, Viet GAP.
– Ứng dụng khoa học công nghệ: Sử dụng các công nghệ mới trong sản xuất, bảo quản chế biến sau thu hoạch như: đưa giống mới vào sản xuất; hệ thống tưới tiết kiệm nước, hệ thống làm đất bằng cơ giới, khung che phủ chống thời tiết khắc nghiệt, bón phân theo quy định; Khuyến khích nông dân trồng thanh long theo hướng an toàn; áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP)
– Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất: Mời gọi doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng, kho, bãi phục vụ thu mua, sơ chế, bảo quản trái thanh long.
– Xúc tiến thương mại và phát triển thị trường: Tiếp tục thực hiện dự án “Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ thanh long giai đoạn 2020-2025 và định hướng đến năm 2030” Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thanh long trong nước và xuất khẩu, đồng thời góp phần vào việc tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và định hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; vận động các doanh nghiệp liên kết với nông dân để hình thành chuỗi sản xuất – tiêu thụ khép kín, đồng thời tiếp tục đầu tư tìm kiếm, mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân mở rộng hoặc cấp mới mã số vùng trồng thanh long phục vụ xuất khẩu chính ngạch đối với các thị trường xuất khẩu./.

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)