Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu người lao động vùng ven biển, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều địa phương khác. Quý III năm 2025, ngành thủy sản tiếp tục đối diện nhiều biến động từ bối cảnh quốc tế, nhu cầu thị trường mặc dù phục hồi nhưng còn tiềm ẩn rào cản kỹ thuật và thương mại, cạnh tranh gia tăng, chi phí sản xuất đầu vào và yêu cầu chất lượng ngày càng cao.
Trong bối cảnh đó, ngành thủy sản 9 tháng và quý III năm 2025 đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, khả quan đối với tăng trưởng kinh tế. Tổng sản lượng thủy sản quý III năm 2025 ước đạt 2.710,9 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.830,1 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 498,8 nghìn tấn, tăng 5,8%. Tính chung chín tháng năm 2025, sản lượng thủy sản ước đạt 7.261,8 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 5.111,9 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 1104,3 nghìn tấn, tăng 5,7%. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản quý III năm 2025 đạt 3.005,6 triệu USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, xuất khẩu thủy sản ước đạt 8.116,2 triệu USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2025
Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý III năm 2025 ước đạt 1.705,1 nghìn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.041,5 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 465,3 nghìn tấn, tăng 6,3%. Tính chung chín tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.284,3 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.791,0 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 998,8 nghìn tấn, tăng 6,3%.
Sản lượng thủy sản khai thác chín tháng năm 2025 ước đạt 2.977,5 nghìn tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.321,0 nghìn tấn, tăng 0,5%; tôm đạt 105,5 nghìn tấn, tăng 0,2%; thủy sản khác đạt 551,0 nghìn tấn, tăng 0,6%.
Đặc biệt ở các mặt hàng chủ lực như tôm và cá tra: Sản lượng cá tra quý III năm 2025 ước đạt 469,3 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước; tính chung chín tháng năm 2025 ước đạt 1.341,2 nghìn tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu cá tra trong quý III năm 2025 tại các thị trường đã ký kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), có chiều hướng khả quan nhờ ưu đãi thuế quan và nhu cầu ổn định từ các thị trường Nhật Bản, Ca-na-đa, Mê-xi-cô, Chi-lê. Xuất khẩu cá tra sang một số thị trường tiếp tục ghi nhận tăng trưởng 2 con số, trong 8 tháng năm 2025 xuất khẩu cá tra sang khối CPTPP đạt 242 triệu USD, tăng 36% so với cùng kỳ; thị trường Nam Mỹ, đặc biệt là Bra-xin với 118 triệu USD, tăng 54% so với cùng kỳ.
Sản lượng tôm thẻ chân trắng quý III năm 2025 ước đạt 352,8 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 87,2 nghìn tấn, tăng 3,5%. Tính chung chín tháng năm 2025, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 719,7 nghìn tấn, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 212,3 nghìn tấn, tăng 3,5%.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng, ngành thủy sản vẫn tồn tại một số hạn chế, thách thức cần tháo gỡ để duy trì đà tăng trưởng ổn định, cụ thể:
(1) Vấn đề thuế chống bán phá giá, thuế đối ứng 20% đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ là áp lực lớn, nhiều doanh nghiệp có thể đối diện với mức thuế cao hoặc bị điều tra lại.
(2) Từ ngày 01/01/2026, nếu nghề khai thác cá không được công nhận tương đương theo Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA), có thể bị cấm nhập khẩu sang Mỹ. Điều này đe dọa hàng trăm triệu USD kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam vẫn đang chịu “thẻ vàng” IUU (thủy sản bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định) từ Liên minh châu Âu (EU) nếu không được gỡ bỏ sẽ ảnh hưởng đến uy tín, chi phí và mức độ kiểm tra khắt khe hơn cho hàng xuất khẩu; các quy định kỹ thuật, an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất, việc truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe ở các thị trường phát triển (EU, Mỹ, Nhật), nếu doanh nghiệp không đáp ứng tốt sẽ bị loại lô hàng hoặc chi phí tuân thủ cao hơn.
(3) Các nước xuất khẩu thủy sản khác (Thái Lan, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Ê-cua-đo…) đang cạnh tranh mạnh về giá, chi phí và cải thiện chất lượng tạo áp lực cho thủy sản Việt Nam. Sự phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống (Mỹ, Trung Quốc, EU) khiến thuỷ sản Việt dễ bị ảnh hưởng bởi biến động chính sách thương mại, tỷ giá, logistics hoặc rủi ro phi thuế quan tại những thị trường này.
(4) Biến đổi khí hậu, thời tiết bất thường, ô nhiễm môi trường có thể ảnh hưởng tới sản lượng nuôi thủy sản, chất lượng nguyên liệu, dịch bệnh đây là rủi ro cố hữu của ngành nuôi trồng thuỷ sản, cùng với đó chi phí nguyên liệu đầu vào, thức ăn thủy sản, năng lượng, logistics tiếp tục gia tăng, làm giảm biên lợi nhuận của doanh nghiệp, ap lực cạnh tranh nguồn nguyên liệu từ trong nước và nhập khẩu là không nhỏ nếu Việt Nam không đảm bảo chủ động sẽ dễ bị chi phối bởi biến động nguồn cung.
Kỳ vọng những tháng cuối năm 2025, ngành thủy sản Việt Nam đang có nền tảng khá vững khi kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đã vượt mốc 8 tỷ USD, tăng trưởng 6,7% so với cùng kỳ năm 2024. Với đà tăng này, dự báo xuất khẩu thủy sản cả năm 2025 có thể cán mốc 9 tỷ đến 10 tỷ USD. Quý IV thường là giai đoạn cao điểm nhập khẩu thủy sản ở các thị trường lớn để phục vụ mùa lễ hội cuối năm. Đây là cơ hội lớn để doanh nghiệp Việt Nam bứt phá, gia tăng đơn hàng xuất khẩu và khẳng định vị thế.
Trong bối cảnh rủi ro phụ thuộc vào Mỹ và EU, nhiều doanh nghiệp đã tăng tốc khai thác các thị trường mới như ASEAN, Trung Đông, Nam Mỹ và khối CPTPP. Xu hướng tiêu dùng thực phẩm thủy sản chế biến sẵn, giàu dinh dưỡng ở các thị trường này đang tăng nhanh. Việc tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do (CPTPP, EVFTA, RCEP…) sẽ mở ra biên độ tăng trưởng bền vững hơn, đồng thời giảm rủi ro khi thị trường truyền thống siết chặt các rào cản kỹ thuật.
Những tháng cuối năm, nhu cầu các sản phẩm thủy sản chế biến sẵn, tiện lợi, đáp ứng tiêu chuẩn “xanh – sạch – truy xuất được nguồn gốc” sẽ tăng cao. Doanh nghiệp Việt nếu tận dụng cơ hội này để đưa ra sản phẩm phù hợp với thị hiếu từng thị trường sẽ nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện biên lợi nhuận thay vì cạnh tranh thuần túy bằng giá.
Chính phủ và các hiệp hội ngành hàng đang đẩy mạnh nỗ lực gỡ “thẻ vàng” IUU, đồng thời thúc đẩy đàm phán thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các vụ kiện chống bán phá giá. Các chính sách hỗ trợ về tín dụng, cải thiện hạ tầng logistics, phát triển vùng nuôi nguyên liệu an toàn, bền vững cũng được kỳ vọng phát huy tác dụng từ cuối năm 2025, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu.
Xu hướng tiêu dùng trên thế giới đang dịch chuyển mạnh sang thực phẩm an toàn, thân thiện môi trường, có chứng chỉ bền vững (ASC, MSC, GlobalG.A.P.). Việt Nam có cơ hội tận dụng xu hướng này để nâng cao thương hiệu quốc gia. Nếu doanh nghiệp đẩy nhanh áp dụng công nghệ nuôi trồng tiên tiến, quản lý môi trường và hệ thống chứng nhận quốc tế, sản phẩm thủy sản Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh vượt trội.
Nhìn chung 9 tháng và quý III năm 2025, có thể thấy ngành thủy sản Việt Nam đã ghi nhận những kết quả tích cực trong sản xuất và xuất khẩu, nhu cầu tiêu dùng phục hồi tại nhiều thị trường lớn và sự vươn lên của các mặt hàng chủ lực đã khẳng định khả năng thích ứng nhanh của doanh nghiệp Việt Nam trước bối cảnh thị trường toàn cầu còn nhiều biến động. Năm 2025 là năm bản lề để ngành thủy sản Việt Nam định hình rõ hướng đi bền vững, từ tăng trưởng về lượng sang phát triển về chất, nâng cao giá trị gia tăng, củng cố vị thế trên thị trường quốc tế và tạo dựng nền tảng vững chắc cho các giai đoạn phát triển sau này.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)
