Những triền đồi xanh ở Hòa An (Tuyên Quang) hay những vùng dứa mật trù phú ở Mường Nhà (Điện Biên), một làn gió mới đang lan tỏa trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi. Người dân không còn quanh quẩn với lối sản xuất nhỏ lẻ, mà chủ động chuyển mình theo hướng hàng hóa, tận dụng lợi thế tự nhiên để vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.

Từ đồi rừng, vươn lên với nghề nuôi dê hàng hóa
Đến xã Hòa An, tỉnh Tuyên Quang những ngày cuối thu này, dễ dàng bắt gặp những đàn dê khỏe mạnh gặm cỏ trên triền đồi, hình ảnh phản chiếu một hướng đi mới trong phát triển kinh tế nông thôn nơi đây.

Tận dụng địa hình đồi núi, nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, xã Hòa An đã và đang khuyến khích người dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, trong đó chăn nuôi dê được xem là hướng đi phù hợp, hiệu quả.

Tại thôn Làng Rèn 2, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư chuồng trại, mở rộng quy mô chăn nuôi dê sinh sản và dê thương phẩm. Dê được nuôi theo hình thức bán chăn thả, tận dụng các bãi cỏ ven đồi, bìa rừng, vừa giảm chi phí thức ăn, vừa giúp vật nuôi phát triển tự nhiên, ít bệnh tật.

Chuồng trại thường làm bằng tre, gỗ, dựng cao ráo, thoáng mát, sàn cách mặt đất từ 50–70 cm, bảo đảm vệ sinh và an toàn. Với chu kỳ sinh sản khoảng hai lứa mỗi năm, một con dê mẹ có thể đẻ từ 2–3 con mỗi lứa; sau 7–8 tháng có thể xuất bán, mang lại lợi nhuận ổn định cho người nuôi.

Ông Đinh Văn Long, người tiên phong trong phong trào nuôi dê của thôn Làng Rèn 2, chia sẻ: “Gia đình tôi hiện nuôi hơn 20 con dê sinh sản, mỗi năm xuất bán khoảng 10–15 con, thu lãi từ 30–40 triệu đồng. Nuôi dê không quá vất vả, lại tận dụng được đồi rừng, nên bà con trong thôn ai cũng phấn khởi”.

Từ mô hình của ông Long, phong trào chăn nuôi dê lan tỏa mạnh mẽ trong thôn. Hiện toàn thôn có gần 30 hộ nuôi dê với tổng đàn khoảng 500 con.

Không chỉ dừng lại ở quy mô hộ gia đình, một số hộ đã phát triển thành mô hình chăn nuôi lớn. Tiêu biểu như ông Hà Đức Luân ở thôn Ba Hai, người sở hữu đàn dê hơn 100 con, chủ yếu là giống Bách Thảo và dê lai. Ông Luân cho biết: “Tận dụng triền đồi rộng và nguồn thức ăn tự nhiên, gia đình tôi phát triển đàn dê thương phẩm quy mô lớn. Mỗi năm, tôi xuất chuồng hàng chục con, thu về hàng trăm triệu đồng; đồng thời tạo việc làm thời vụ cho một số lao động địa phương”.

Theo chính quyền xã Hòa An, mô hình chăn nuôi dê không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, giảm thiểu rủi ro so với các loại hình chăn nuôi khác như trâu, bò.

Hiện nay, xã đang phối hợp với các cơ quan chuyên môn mở lớp tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ vay vốn ưu đãi, hướng dẫn xây dựng chuồng trại an toàn sinh học và triển khai mô hình chăn nuôi dê tập trung gắn với chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ.

“Trái ngọt” từ cây dứa mật trên đất biên cương
Còn ở vùng biên giới tỉnh Điện Biên, xã Mường Nhà những ngày này lại rộn ràng không khí tất bật chăm sóc những luống dứa mật trải dài xanh mướt trên các triền đồi. Trên gương mặt bà con nông dân, ai nấy đều ánh lên niềm vui, phấn khởi khi vụ dứa mới hứa hẹn một mùa bội thu.

Nhờ khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp, cây dứa mật đang chứng minh là cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, giúp người dân Mường Nhà từng bước vươn lên thoát nghèo.

Hiện tại, vùng trồng dứa mật tập trung chủ yếu ở bản Pu Lau, với diện tích khoảng 150 ha chuyên canh. Theo người dân địa phương, cây dứa mật có năng suất ổn định, chất lượng quả ngọt, thơm, được thị trường ưa chuộng.

Anh Thào A Giàng, người trồng dứa lâu năm tại bản Pu Lau, chia sẻ: “Năm nay giá dứa cao hơn, dao động từ 6.000–6.500 đồng/kg. Hộ thu nhập cao có thể đạt 500–600 triệu đồng/vụ, hộ trung bình từ 70–100 triệu đồng. Nhờ cây dứa mà cả bản giờ không còn hộ nghèo”.

Không chỉ mang lại thu nhập ổn định, cây dứa mật còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người dân, từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường và thương hiệu.

Theo ông Đặng Văn Tuấn, Chủ tịch UBND xã Mường Nhà, trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2025–2030, xã đặt mục tiêu mở rộng diện tích dứa mật lên trên 500 ha, hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, được cấp mã số vùng trồng và tiến tới chế biến tại chỗ.

“Chúng tôi đang phối hợp với các hợp tác xã và doanh nghiệp để liên kết tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm đầu ra bền vững. Cây dứa mật không chỉ giúp tăng thu nhập, mà còn mở ra hướng phát triển du lịch nông nghiệp, thương mại dịch vụ gắn với nông thôn mới,” ông Tuấn nhấn mạnh.

Thực tế cho thấy, mô hình trồng dứa mật ở Mường Nhà đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Nhiều hộ đã đầu tư thêm máy móc, hệ thống tưới tiết kiệm, áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến, hướng đến mục tiêu đưa cây dứa mật trở thành sản phẩm OCOP chủ lực của địa phương.

Hướng tới nông thôn mới bền vững
Từ mô hình chăn nuôi dê ở Hòa An đến vùng dứa mật trù phú Mường Nhà, điểm chung nổi bật là tinh thần đổi mới trong tư duy sản xuất – biết tận dụng lợi thế tự nhiên và gắn kết chặt chẽ giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp. Những mô hình kinh tế này không chỉ giúp người dân thoát nghèo, mà còn mở ra hướng phát triển nông thôn bền vững, hài hòa giữa kinh tế và môi trường.

Hiện nay, nhiều địa phương miền núi trên cả nước cũng đang từng bước khẳng định mình trong hành trình xây dựng nông thôn mới – “giàu lên từ đất, vững vàng nhờ ý chí con người”.

Nguồn: Sơn Hào – baochinhphu.vn


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm