Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười Hai tăng 0,19% so với tháng trước do giá lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng Mười Hai tăng 3,48%. CPI bình quân quý IV/2025 tăng 3,44% so với quý IV/2024. Tính chung cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.

Trong mức tăng 0,19% của CPI tháng Mười Hai so với tháng trước, có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

(1) Chín nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

– Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75% so với tháng trước (tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm). Trong đó, chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,98%[1] (tác động tăng 0,22 điểm phần trăm); nhóm lương thực tăng 0,55%[2]; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,29%[3].

– Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,20% do nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép tăng vào cuối năm. Trong đó, giá quần áo may sẵn tăng 0,19%; may mặc khác tăng 0,21%; dịch vụ may mặc tăng 0,50%; mũ nón tăng 0,46%.

– Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,19%, chủ yếu ở một số mặt hàng như: Giá đồ trang sức tăng 2,71% theo giá vàng thế giới; sửa chữa đồng hồ đeo tay tăng 0,69%; dịch vụ về hiếu, hỷ tăng 0,31%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 0,26%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,25%; hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,04%.

– Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16% do chi phí sản xuất và nhân công tăng. Trong đó, bình nước nóng nhà tắm tăng 0,29% do nhu cầu sử dụng tăng vào mùa lạnh; thiết bị gia đình lớn có động cơ tăng 0,24%; máy xay sinh tố, ép hoa quả tăng 1,03%; nồi điện tăng 0,22%; ấm, phích nước điện tăng 0,19%; đồng hồ treo tường và để bàn tăng 0,36%; gương treo tường tăng 0,23%.

– Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,06% do nhu cầu tiêu dùng tăng vào dịp Giáng sinh và chuẩn bị cho dịp Tết sắp tới, trong khi chi phí nguyên nhiên vật liệu tăng theo tỷ giá, theo đó giá rượu mạnh tăng 0,60%; rượu vang tăng 0,47%; thuốc hút tăng 0,18%; bia lon tăng 0,15%.

– Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,06% chủ yếu do các nguyên nhân sau: Giá gas tăng 2,08%, do từ ngày 01/12/2025, giá gas trong nước điều chỉnh tăng theo giá gas thế giới; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,62% do tiền công thợ sơn tường, thợ lát nền, xây tường và lao động phổ thông tăng; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,55% do giá gạch, cát, đá tăng khi nhu cầu sửa chữa, xây dựng tăng vào cuối năm; giá nước sinh hoạt tăng 0,20%; giá dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 0,31% chủ yếu do chi phí nhân công tăng; giá thuê nhà tăng 0,19% do nhu cầu thuê nhà tăng tại một số địa phương. Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng có giá giảm so với tháng trước: Giá điện sinh hoạt giảm 1,68% do nhu cầu sử dụng điện giảm trong điều kiện thời tiết mùa đông; giá dầu hỏa giảm 6,29% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá trong tháng.

– Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng nhẹ 0,03% do ảnh hưởng của chi phí sản xuất và phân phối. Trong đó, nhóm thuốc hóc môn tăng 0,11%; thuốc giảm đau, hạ sốt chống viêm không steroid tăng 0,21%; nhóm vitamin và khoáng chất tăng 0,16%; thuốc chống dị ứng và các trường hợp quá mẫn tăng 0,12%; thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng và thuốc tim mạch cùng tăng 0,09%; thuốc đường tiêu hóa tăng 0,02%.

– Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,02%. Trong đó, máy vi tính và phụ kiện tăng 0,29%; phụ kiện máy điện thoại tăng 0,19%; máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng tăng 0,11%; thiết bị âm thanh tăng 0,10%.

– Nhóm giáo dục tăng 0,01%. Trong đó, giá dịch vụ giáo dục không phân theo trình độ tăng 0,03% Bên cạnh đó, giá sản phẩm từ giấy và bút viết các loại đều tăng 0,10%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,13%.

(2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,12% chủ yếu do giá sách, báo, tạp chí các loại giảm 0,11%; thiết bị dụng cụ thể thao và đồ chơi cùng giảm 0,03%; thiết bị văn hóa giảm 0,04%. Ở chiều ngược lại, giá khách sạn, nhà khách tăng 0,22%; dịch vụ văn hóa tăng 0,17%; hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 0,08%; dịch vụ giải trí tăng 0,03%.

– Nhóm giao thông giảm 1,08%. Trong đó, chỉ số giá dầu diesel giảm 7,84%; chỉ số giá xăng giảm 2,38% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. Thêm vào đó, giá xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,26%; giá vận tải hành khách bằng đường hàng không giảm 0,06%. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Giá vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 0,20% và vận tải hành khách bằng taxi tăng 0,02%; giá nhóm phụ tùng tăng 0,26%; giá bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,28%; giá xe đạp tăng 0,23%.

CPI bình quân quý IV/2025 tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,84%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,91%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,19%; giáo dục tăng 3,17%; hàng hóa và dịch khác tăng 3,05%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,20%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,75%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,58%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,42%; giao thông tăng 0,18%; thông tin và truyền thông giảm 0,37%.

CPI bình quân năm 2025 tăng 3,31% so với năm 2024, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra, do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

(i) Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,08%, làm CPI chung tăng 1,38 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê tăng 7,33% và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 6,45%. Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 7,20% do nhu cầu sử dụng điện tăng cùng với EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân vào ngày 11/10/2024 và ngày 10/5/2025.

(ii) Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,27%, tác động làm CPI chung tăng 1,17 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 3,61%, tác động làm CPI chung tăng 0,8 điểm phần trăm, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,81%; nhóm lương thực tăng 0,17%.

(iii) Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,07%, làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế.

(iv) Chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,78%, làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm.

(v) Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,15%, làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh học phí.

(vi) Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm.

Yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2025 là:

(i) Chỉ số nhóm giao thông giảm 2,14%, tác động làm CPI chung giảm 0,21 điểm phần trăm, trong đó giá xăng giảm 8,53%.

(ii) Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,45%, tác động làm CPI chung giảm 0,02 điểm phần trăm do giá điện thoại thế hệ cũ giảm.

Lạm phát cơ bản[4] tháng Mười Hai tăng 0,23% so với tháng trước và tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,21% so với năm trước, thấp hơn mức tăng 3,31% của CPI bình quân chung, nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 29/12/2025, giá vàng thế giới bình quân ở mức 4.356,45 USD/ounce, tăng 6,18% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ cắt giảm lãi suất vào năm 2026. Bên cạnh đó, bất ổn kinh tế và địa chính trị toàn cầu, lạm phát tiềm ẩn rủi ro quay trở lại, nhu cầu trú ẩn an toàn của nhà đầu tư cùng với hoạt động mua ròng vàng của các ngân hàng trung ương và quỹ hoán đổi danh mục (ETF) góp phần thúc đẩy giá vàng tăng trong tháng Mười Hai. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Mười Hai tăng 2,18% so với tháng trước; tăng 70,37% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 47,67%.

Giá đô la Mỹ trong nước tháng Mười Hai biến động ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 29/12/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 98,31 điểm, giảm 1,33% so với tháng trước, chủ yếu do kỳ vọng điều chỉnh chính sách tiền tệ của Mỹ, lạm phát có xu hướng hạ nhiệt và sự phục hồi của các đồng tiền chủ chốt khác, qua đó tạo áp lực giảm giá lên đồng USD trên thị trường quốc tế. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng Mười Hai tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,92%.

[1] Giá nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng 3,87%; giá thủy sản tươi sống tăng 0,62%; giá thủy sản chế biến tăng 0,43%; giá thịt gia cầm tăng 0,46%; giá trứng các loại tăng 2,26%. Một số nhóm thực phẩm khác có giá tăng như chè, cà phê, ca cao tăng 0,64%; đồ gia vị tăng 0,53%; đường, mật tăng 0,36%; sữa, bơ, phô mai tăng 0,05%. Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, một số mặt hàng thực phẩm có giá giảm so với tháng trước: Pho mát giảm 0,82%; quả chế biến giảm 0,73%; kem giảm 0,61%; các loại lá để uống khác giảm 0,21%; dầu thực vật giảm 0,05%.

[2] Giá gạo tăng so với tháng trước do nguồn cung trong nước giảm nhẹ vào cuối vụ, trong khi nhu cầu tiêu dùng và dự trữ phục vụ Tết Nguyên đán tăng. Theo đó, chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,46% (Giá gạo tẻ thường tăng 0,41%, gạo tẻ ngon tăng 0,44%, gạo nếp tăng 1,27%, gạo lứt tẻ tăng 0,75%). Bên cạnh đó, một số mặt hàng lương thực tăng như: Giá ngô tăng 2,36%; khoai tăng 2,35%; sắn tăng 2,19%; miến tăng 1,48%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,9%; bánh mì tăng 0,43%; bột mỳ tăng 0,4%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,34%; mì sợi tăng 0,27%. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá nhóm ngũ cốc khác giảm 0,04%.

[3] Do giá nguyên liệu lương thực, thực phẩm và dịch vụ tăng. Trong đó, giá ăn ngoài gia đình tăng 0,28%; uống ngoài gia đình tăng 0,26%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,4%.

[4] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.


Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm