Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và chuyển đổi số (CĐS) là đòn bẩy chiến lược, giúp Bộ Tài chính sau sáp nhập không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị mà còn giữ vững vị thế dẫn đầu trong bảng xếp hạng đánh giá mức độ CĐS cấp bộ, ngành nhiều năm liền. Bộ đang chuyển mình từ “ứng dụng CNTT” sang “chuyển đổi số toàn diện,” đặt nền móng vững chắc cho Chính phủ số trong lĩnh vực tài chính – ngân sách.

Bộ Tài chính có 893 TTHC, trong đó đã triển khai cung cấp 468 DVCTT toàn trình. Ảnh: QM.
Định hình phương thức quản lý mới
Quá trình CĐS tại Bộ Tài chính đã tạo ra những thay đổi mang tính đột phá: Bộ Tài chính đã chuyển từ mục tiêu “Ứng dụng CNTT” sang “Chuyển đổi số toàn diện,” kiến tạo nên Chính phủ số trong lĩnh vực tài chính. CĐS đã thay đổi căn bản phương thức làm việc, quản lý, và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Điều này giúp tăng cường minh bạch, giảm chi phí và rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính (TTHC). Bộ Tài chính đang đi đúng hướng, đáp ứng các yêu cầu cao của Đề án 06, Nghị quyết 57, và Chương trình CĐS quốc gia, góp phần thiết thực vào mục tiêu Chính phủ số – Kinh tế số – Xã hội số của Việt Nam đến năm 2030.
Cơ chế chính sách nền tảng pháp lý vững chắc
Cục Công nghệ thông tin và chuyển đổi số đã tham mưu và chủ trì xây dựng nhiều văn bản quan trọng, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai CNTT và CĐS, đặc biệt sau sáp nhập: Quyết định 1754/QĐ-BTC (ngày 14/5/2025) ban hành Kế hoạch CĐS của Bộ Tài chính năm 2025 sau sáp nhập. Chỉ thị 01/CT-BTC (ngày 20/6/2025) đẩy mạnh ứng dụng CNTT, phát triển Chính phủ điện tử, CĐS và triển khai Đề án 06. Quyết định 2405/QĐ-BTC (ngày 08/7/2025) ban hành Quy chế an toàn thông tin mạng và an ninh mạng của Bộ. Quyết định 2839/QĐ-BTC (ngày 18/8/2025) ban hành Kiến trúc cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính, phiên bản 2.0. Quyết định 3099/QĐ-BTC (ngày 04/9/2025) ban hành Khung kiến trúc Chính phủ số Bộ Tài chính phiên bản 4.0.
Phục vụ người dân và doanh nghiệp
Bộ Tài chính đã tập trung cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT), tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Tính đến nay, Bộ Tài chính có 893 TTHC, trong đó đã triển khai cung cấp 468 DVCTT toàn trình, 123 DVCTT một phần và 431 dịch vụ cung cấp thông tin cho tổ chức, cá nhân. Các DVCTT toàn trình của Bộ Tài chính đã được khai thác sử dụng bằng tài khoản VneID đối với các cá nhân qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Đối với các vướng mắc phát sinh sau ngày 01/7/2025, Bộ Tài chính đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, hoàn thành khắc phục các lỗi của Hệ thống thuế, đăng ký kinh doanh (Bộ đã có các Công văn số 10466/BTC-CNTT ngày 11/7/2025 và Công văn số 10994/BTC-CNTT ngày 18/7/2025 gửi Văn phòng Chính phủ, Công văn số 12078/BTC-CNTT ngày 07/8/2025 gửi Bộ Khoa học và Công nghệ), đảm bảo vận hành các hệ thống thông suốt, ổn định, hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan đã đảm bảo thực hiện việc cung cấp tập trung các dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trong đó, bảo đảm duy trì và cung cấp thực chất, hiệu quả 06 DVCTT toàn trình thuộc nhiệm vụ của Bộ Tài chính, gồm: Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe; Đăng ký điều chỉnh đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động (BHTNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN); cấp sổ BHXH, thẻ BHYT; Cấp lại, đổi, điều chỉnh thông tin trên sổ BHXH, thẻ BHYT; Chuyển nơi hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH; Đăng ký tham gia đóng BHXH tự nguyện; Khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Triển khai hệ thống trung tâm giám sát, điều hành thông minh
Việc xây dựng hạ tầng dữ liệu và điều hành là bước đi chiến lược hướng tới quản trị thông minh. Bộ Tài chinh đã ban hành bộ chỉ số phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành ngành Tài chính và xây dựng hệ thống trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) ngành Tài chính phiên bản 1.0. Hệ thống cho phép khai thác các chỉ số thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ như: Thuế, hải quan, ngân sách Nhà nước (NSNN), đầu tư, đấu thầu, doanh nghiệp. Dữ liệu IOC đã được chia sẻ vượt yêu cầu (vượt 17 chỉ tiêu) cho Trung tâm chỉ đạo điều hành Chính phủ và Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng 13/16 cơ sở dữ liệu (CSDL) và đang xây dựng 3/16 CSDL theo đúng kế hoạch đề ra. Bộ Tài chính cũng đã phối hợp với C12 – Bộ Công an hoàn thành khảo sát hiện trạng, điền thông tin về 16 CSDL chuyên ngành của Bộ Tài chính theo yêu cầu của C12.
Hệ thống lõi và hạ tầng số đảm bảo vận hành
Bộ Tài chính đã triển khai nhiều hệ thống lõi quan trọng và chú trọng phát triển hạ tầng, đảm bảo an toàn an ninh mạng. Bộ Tài chính đã xây dựng và triển khai một số hệ thống lõi như: hệ thống Hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS); Hệ thống dịch vụ thuế điện tử (eTax); Hệ thống hóa đơn điện tử của Cục Thuế; Hệ thống thông quan hàng hóa tự động (VNACCS/VCIS); Hệ thống một cửa quốc gia và Một cửa ASEAN của Cục hải quan; Hệ thống thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS) của Kho bạc nhà nước; Hệ thống công bố thông tin (IDS); Hệ thống giám sát giao dịch chứng khoán (MSS) của Ủy ban Chứng khoán; Quản lý nghiệp vụ dự trữ quốc gia của Cục Dự trữ; Hệ thống thông tin về giám sát, đánh giá đầu tư; Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia; Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký hợp tác xã; Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh; Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư; Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; Hệ thống thông tin thống kê; Hệ thống sản xuất thông tin thống kê điện tử; Hệ thống thông tin quốc gia về phát triển doanh nghiệp và Hệ thống thông tin quốc gia về khu công nghiệp, khu kinh tế đang trong quá trình nghiên cứu, xây dựng. Thông qua đó đã giúp các đơn vị trong ngành có được cơ sở để thúc đẩy chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính.
Các hệ thống CNTT phục vụ nội bộ cũng đã được triển khai, hỗ trợ tốt cho công tác hàng ngày tại các đơn vị: Hệ thống quản lý văn bản điều hành mới đang được nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm tại các đơn vị thuộc Bộ, hệ thống quản lý cán bộ, Quản lý tài sản, tài chính kế toán đang được nghiên cứu và nâng cấp để ứng dụng các công nghệ mới, tiên tiến.
Hệ thống hạ tầng truyền thông ngành Tài chính được triển khai, vận hành ổn định, liên tục kết nối các đơn vị trong toàn ngành Tài chính từ trung ương đến cấp tỉnh/ thành phố, xã/ phường. Hiện nay, hệ thống HTTT đã được cập nhật, cấu hình để phục vụ trao đổi thông tin, dữ liệu ứng dụng nghiệp vụ, điều hành của các đơn vị trong ngành theo mô hình sắp xếp chính quyền địa phương hai cấp tại 34 tỉnh, thành phố và 3.321 xã, phường.
Bên cạnh đó, hạ tầng tính toán, lưu trữ, sao lưu tại Trung tâm dữ liệu chính và trung tâm dữ liệu dự phòng của Bộ đã được thiết kế, nâng cấp kịp thời và vận hành theo mô hình quản lý tập trung, đảm bảo hiệu quả, tối ưu trong sử dụng, đáp ứng nhu cầu của ứng dụng, CSDL nghiệp vụ.
Thách thức và định hướng tương lai
Bên cạnh những thành tựu vượt bậc, công tác CĐS của Bộ Tài chính vẫn đối diện với một số thách thức cần giải quyết dứt điểm: Các hệ thống lớn, cốt lõi quan trọng của ngành như hệ thống TABMIS của Kho bạc, hệ thống VNACCS/VCIS của Hải quan, hệ thống TMS của Thuế là các hệ thống đã triển khai từ lâu (trên 10 năm), công nghệ, kỹ thuật đã lạc hậu, hệ thống đóng khó nâng cấp mở rộng. Bộ Tài chính đã giao các đơn vị tập trung nghiên cứu, nâng cấp các hệ thống cốt lõi, quan trọng của ngành đáp ứng kịp thời các thay đổi và điều chỉnh nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm. Kiến trúc, giải pháp hệ thống mới phải đảm bảo tầm nhìn dài hạn, vừa đáp ứng toàn bộ nghiệp vụ hiện tại, vừa có khả năng mở rộng linh hoạt, đáp ứng Chiến lược của ngành tài chính cũng như các chỉ đạo theo yêu cầu của Chính phủ, Lãnh đạo Bộ. Lựa chọn các nhà cung cấp có khả năng cung cấp các giải pháp công nghệ mới như dữ liệu lớn (BigData), trí tuệ nhân tạo (AI), Chuỗi khối (Blockchain),… Riêng đối với các dự án “Hệ thống công nghệ thông tin thực hiện Hải quan số”, “Hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng tái thiết kế quy trình nghiệp vụ và yêu cầu Chuyển đổi số trong công tác quản lý Thuế”, “Hệ thống thông tin Ngân sách và Kế toán nhà nước số” phải đảm bảo đưa hệ thống vào triển khai từ tháng 10/2026.
Mặc dù Bộ Tài chính đã phê duyệt Đề án cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính ngân sách, bước đầu đã xây dựng kho cơ sở dữ liệu tổng hợp cũng như các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tuy nhiên dữ liệu vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu, nâng cấp và ứng dụng các công nghệ mới.
Các hệ thống phục vụ công tác quản trị nội bộ vẫn còn phân mảnh, thiếu tính kết nối giữa các hệ thống.
Các hệ thống hạ tầng kỹ thuật của ngành được đầu tư từ nhiều năm trở về trước, đến nay đã khai thác hết công năng và công nghệ đã cũ, lạc hậu. Do đó, hệ thống hạ tầng CNTT chưa thể đáp ứng được các yêu cầu sử dụng, đặc biệt trong bối cảnh sáp nhập giữa các đơn vị, cần thay thế và nâng cấp.
Việc triển khai bảo mật an toàn, an ninh thông tin tại cơ quan Bộ, trung tâm dữ liệu của Bộ về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu, không để xảy ra sự cố về an toàn thông tin trong thời gian vừa qua, tuy nhiên vẫn chưa áp dụng được các công nghệ, giải pháp bảo mật tiên tiến, hiện đại trên thế giới.
Các công nghệ mới của cuộc cách mạng công nghiệp lần thư tư như Chatbot, Blockchain, Bigdata, AI, Cloud,… chưa được áp dụng một cách đồng bộ, tổng thể nên chưa nâng cao được năng lực xử lý, tính toán của toàn hệ thống hạ tầng CNTT.
Các hạn chế trong công tác ứng dụng CNTT và chuyển đổi số của Bộ Tài chính xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan sau: Phạm vi quản lý của Bộ Tài chính là lớn, đa ngành, đa lĩnh vực, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, cơ chế chính sách thay đổi thường xuyên, việc triển khai CNTT từng bước, theo từng khâu từng lĩnh vực, còn thiếu tính tổng thể nên dẫn đến việc thay đổi, tích hợp là khó khăn hơn, thiếu linh hoạt hơn, chia sẽ dữ liệu khó khăn. Mặc dù trong thời gian vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế chính sách để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho chuyển đổi số. Tuy nhiên, cơ chế chính sách về CNTT hiện nay vẫn còn bất cập, chưa theo kịp được những thay đổi công nghệ. Đội ngũ CNTT còn yếu và thiếu; do hiện tại ngành Tài chính gặp khó khăn trong việc thu hút và giữ chân nhân lực có chuyên môn sâu về dữ liệu, AI, phân tích tài chính, an toàn thông tin… do cơ chế tiền lương và đãi ngộ chưa tương xứng.
Lộ trình kiến tạo Bộ Tài chính số tương lai
Bộ Tài chính đã công bố lộ trình chuyển đổi số chi tiết, được chia thành 03 giai đoạn rõ ràng từ năm 2025 đến năm 2030, nhằm xây dựng một hệ sinh thái số hoàn chỉnh, hướng tới mục tiêu Chính phủ số, Kinh tế số và Xã hội số phát triển bền vững. Lộ trình này thể hiện sự quyết tâm của Bộ trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại, từ việc xây dựng nền tảng hạ tầng lõi ban đầu đến việc khai thác dữ liệu toàn diện và thông minh hóa các dịch vụ.
Giai đoạn ngắn hạn 2025-2026, hoàn thành các hạ tầng và nền tảng lõi (Trung tâm dữ liệu, LGSP, Nền tảng định danh và xác thực điện tử…); kết nối các nền tảng quốc gia; chuẩn hóa dữ liệu và ban hành Khung kiến trúc số Bộ Tài chính. Tập trung chuẩn hóa, tích hợp và đưa các cơ sở dữ liệu, ứng dụng quốc gia, ngành, về vận hành trên nền tảng chung.
Giai đoạn trung hạn 2027-2028, xây dựng và vận hành các nền tảng/nghiệp vụ chuyên ngành, nền tảng trí tuệ nhân tạo (AI), nền tảng phân tích dữ liệu lớn theo chuẩn kiến trúc quốc gia, Kiến trúc số Bộ Tài chính.
Giai đoạn dài hạn 2029-2030, khai thác dữ liệu toàn diện, phát triển ứng dụng trên nền tảng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn; hoàn thiện hệ sinh thái số Bộ Tài chính; cung cấp dịch vụ thông minh, liền mạch, hướng tới Bộ Tài chính số, Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số phát triển bền vững.
Mặc dù có những thách thức về hạ tầng, công nghệ và nhân lực, Bộ Tài chính đã và đang quyết tâm đẩy nhanh CĐS. Với nền tảng pháp lý và kết quả đạt được, Bộ Tài chính đang khẳng định vai trò tiên phong, là hình mẫu trong kiến tạo Chính phủ số, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững của đất nước.
Cao Thùy Linh
Nguồn: https://www.mof.gov.vn/

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)