Năm 2025 là năm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam, đánh dấu năm tăng tốc thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025. Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro như xung đột địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và chính sách thắt chặt tiền tệ tại nhiều nền kinh tế lớn, khu vực doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Đây cũng là năm ghi dấu ấn rõ nét về cải cách thể chế và tổ chức bộ máy, với cuộc “cách mạng” tinh gọn bộ máy, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện pháp luật đạt nhiều kết quả nổi bật. Phát triển kết cấu hạ tầng, cơ cấu lại nền kinh tế, xử lý ngân hàng yếu kém và dự án tồn đọng được thúc đẩy; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chuyển biến tích cực, nhất là trong phát triển Chính phủ điện tử, chính phủ số.
Những thành tựu đạt được
Việc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân với nhiều chính sách đột phá mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp. Nhờ đó, khu vực kinh tế tư nhân nói chung và cộng đồng doanh nghiệp chứng kiến sự bứt phá chưa từng có, khí thế và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp lên cao hơn bao giờ hết, minh chứng qua số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng đột biến và nhiều kỷ lục về số lượng doanh nghiệp khởi sự lần đầu tiên được xác lập. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt 297,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm trước, gấp 1,3 lần số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Trong đó, cả nước có gần 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.919,2 nghìn tỷ đồng, tăng 24,1% về số doanh nghiệp, tăng 24,1% về vốn đăng ký; bên cạnh đó, có hơn 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 34,3% so với năm 2024. Đây là mức tăng kỷ lục, phản ánh rõ nét sức sống mạnh mẽ, năng động và niềm tin kinh doanh ngày càng được củng cố của cộng đồng doanh nghiệp.
Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế năm 2025 đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024, trong đó số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt hơn 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 118,3%. Quy mô vốn mở rộng chứng tỏ các doanh nghiệp đang hoạt động nhìn thấy cơ hội kinh doanh, tiềm năng của thị trường.
Đến nay số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước vượt mốc một triệu doanh nghiệp[1], con số này khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của khu vực doanh nghiệp đối với nền kinh tế. Không chỉ phản ánh sự gia tăng về số lượng, kết quả này còn cho thấy mức độ phục hồi nhất định của môi trường sản xuất kinh doanh, đồng thời là cơ sở quan trọng để đánh giá niềm tin và kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế vẫn còn nhiều biến động.
Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh (SXKD) quý IV/2025 cho thấy niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục cải thiện, đặc biệt rõ nét trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể, có 79,1% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh quý IV/2025 tốt hơn hoặc giữ ổn định so với quý III/2025; chỉ số cân bằng[2] chung đánh giá tổng quan xu hướng SXKD của doanh nghiệp quý IV/2025 so với quý III/2025 là 14,3%, tăng so với quý trước. Các chỉ số cân bằng thành phần đều ghi nhận xu hướng tích cực như chỉ số cân bằng đơn đặt hàng mới là 13,1%, chỉ số cân bằng khối lượng sản xuất là 15,5%, cho thấy doanh nghiệp đang từng bước khai thác hiệu quả hơn năng lực sản xuất hiện có, thay vì thu hẹp quy mô như giai đoạn khó khăn trước đó.
Xu hướng cải thiện về niềm tin cũng được doanh nghiệp duy trì trong đánh giá triển vọng ngắn hạn. Dự báo quý I/2026, có 79,9% số doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nhận định hoạt động SXKD sẽ tốt hơn hoặc ổn định, với chỉ số cân bằng chung đạt 14,9%. Đơn đặt hàng mới và đơn đặt hàng xuất khẩu được kỳ vọng tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Dự báo số lượng đơn đặt hàng mới quý I/2026 so với quý IV/2025 tăng, với 80,9% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên, cùng với đó các doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý I/2026 khả quan hơn, với 81,4% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên. Điều này phản ánh sự phục hồi từng bước của nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng cho thấy niềm tin của doanh nghiệp chưa thực sự vững chắc khi vẫn chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất lợi như chi phí sản xuất gia tăng, lãi suất vay vốn còn cao, sức cầu thị trường trong nước phục hồi chậm và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp vẫn duy trì tâm lý thận trọng trong quyết định mở rộng đầu tư và tuyển dụng lao động.
Để niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp được duy trì và lan tỏa bền vững hơn, cần tiếp tục triển khai các giải pháp ổn định chi phí đầu vào, cải thiện khả năng tiếp cận vốn, hỗ trợ kích cầu thị trường, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất và đóng góp tích cực hơn cho tăng trưởng kinh tế.
Những khó khăn và thách thức
kinh doanh có thời hạn. Năm 2025[3], số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 114,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 14,3% so với năm trước; 76,9 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 0,9%; 35,9 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 66,1%. Bình quân một tháng có 18,9 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Như vậy, các doanh nghiệp không hẳn rút lui hoàn toàn mà chỉ tạm “đóng băng” hoạt động để tái cơ cấu, tìm kiếm cơ hội mới và chuẩn bị cho sự quay trở lại thị trường khi điều kiện thuận lợi hơn. Đặc biệt, khi bước vào các tháng cuối năm, thường là thời điểm đánh giá hiệu quả kinh doanh của năm cũ, nhiều doanh nghiệp tạm dừng hoặc chậm lại các hoạt động đầu tư và phát triển để tính toạn lại các hoạt động SXKD của mình. Các số liệu này phản ánh những khó khăn mang tính căn cơ mà cộng đồng doanh nghiệp đang phải đối mặt, cụ thể:
Thứ nhất, sức cầu thị trường phục hồi chậm: thị trường xuất khẩu chưa phục hồi như kỳ vọng, trong khi cạnh tranh ngày càng gay gắt. Điều này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chậm, dòng tiền bị thu hẹp và làm gia tăng nguy cơ phải tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động.
Thứ hai, chi phí đầu vào tiếp tục gây áp lực lớn: Chi phí nguyên vật liệu, năng lượng, logistics và chi phí tài chính vẫn ở mức cao, trong khi khả năng điều chỉnh giá bán của doanh nghiệp bị hạn chế. Áp lực chi phí kéo dài làm suy giảm biên lợi nhuận, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả SXKD và khả năng tái đầu tư của doanh nghiệp.
Thứ ba, khả năng tiếp cận vốn còn nhiều khó khăn: Lãi suất vay vốn và điều kiện tiếp cận tín dụng vẫn là rào cản lớn, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, khó tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, dẫn đến thiếu hụt dòng tiền để duy trì và mở rộng hoạt động.
Thứ tư, năng lực tài chính và khả năng chống chịu còn hạn chế của doanh nghiệp: Phần lớn doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ, năng lực tài chính mỏng, phụ thuộc nhiều vào thị trường nội địa. Khi thị trường biến động và chi phí gia tăng, doanh nghiệp dễ rơi vào thế bị động, buộc phải thu hẹp quy mô hoặc rút lui khỏi thị trường. Đây cũng chính là rào cản lớn nhất đang hạn chế sức bật của khu vực doanh nghiệp trong nước. Hạn chế về năng lực tài chính và khả năng thích ứng trước biến động là yếu tố cốt lõi làm giảm sức bật và tốc độ phục hồi của doanh nghiệp.
Một số đề xuất giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp
Một là, đẩy mạnh tiêu dùng, tập trung phát triển thị trường trong nước. Tích cực thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử để mở rộng tiêu dùng nội địa; vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.
Hai là, tập trung triển khai hiệu quả các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, khai thác tối đa thị trường thế giới. Đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường lớn, tiềm năng, phát huy hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận thương mại đã ký kết; đa dạng hóa thị trường xuất, nhập khẩu. Triển khai hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, tháo gỡ rào cản, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhất là các thủ tục thông quan hàng hóa; hỗ trợ DN chuyển đổi sản xuất, đáp ứng nhanh các tiêu chuẩn mới của nước đối tác xuất khẩu.
Ba là, hỗ trợ giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và tiền thuê đất…
Bốn là, gia tăng nội lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực về hỗ trợ đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), đất đai, mặt bằng sản xuất, nguồn vốn, thị trường, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quản trị kinh doanh.
Năm là, đẩy mạnh triển khai các chương trình, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa quản trị công, quản trị dựa trên dữ liệu.
[1] Theo Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính).
[2] Chỉ số cân bằng thể hiện số phần trăm doanh nghiệp nhận định tăng trừ đi số phần trăm doanh nghiệp nhận định giảm.
[3] Theo số liệu về tình hình đăng ký kinh doanh của Cục phát triển Doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

