Những tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt khi xung đột vũ trang gia tăng tại Trung Đông. Tuy nhiên, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương đã quyết liệt thực hiện giải pháp trong Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội nhằm đạt kết quả cao nhất các mục tiêu của kế hoạch sản xuất, kinh doanh năm 2026. Kinh tế – xã hội quý I/2026 của nước ta đạt được kết quả tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo, các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo đà tăng trưởng cho các quý tiếp theo. Một số nét chính về kinh tế – xã hội quý I/2026 của nước ta như sau:

  1. Điểm sáng và tích cực

(1) Trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế quý I/2026 của nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng khá nhờ hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội và điều hành, quản lý vĩ mô của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, ngành và địa phương. Tốc độ tăng GDP quý I/2026 đạt 7,83% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của quý I/2025 (7,07%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, đóng góp 5,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%, đóng góp 44,08%; khu vực dịch vụ tăng 8,18%, đóng góp 50,32%.

(2) Sản lượng cây lâu năm, các sản phẩm chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thu hoạch nhiều loại cây lâu năm quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm 2025 nhờ mở rộng quy mô trồng và áp dụng giống mới, kỹ thuật canh tác hiện đại nâng cao năng suất và sản lượng. Trong đó, sản lượng sầu riêng tăng 15,0%; mít tăng 12,8%; dừa tăng 6,0%; bưởi tăng 5,8%; chuối tăng 5,3%; điều tăng 5,4%; chè búp tăng 4,2%; cao su tăng 0,4% …

Sản lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước, đáp ứng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng. Trong đó, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 1.439,9 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; thịt gia cầm đạt 660,8 nghìn tấn, tăng 5,8%; sản lượng sữa bò tươi đạt 359,7 nghìn tấn, tăng 3,8%; sản lượng trứng gia cầm đạt 5.456,2 triệu quả, tăng 4,8%.

Sản xuất lâm nghiệp đẩy mạnh công tác trồng rừng mới, sản lượng gỗ khai thác tăng khá. Tính chung quý I/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 45,6 nghìn ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.337,8 nghìn m3, tăng 2,6%.

Nuôi trồng thủy sản tăng khá do sản lượng cá tra nguyên liệu[1] và tôm thẻ chân trắng tăng, nhu cầu tiêu dùng tại Mỹ, châu Âu tăng do nguồn cung thịt trắng toàn cầu giảm mạnh. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I/2025 ước đạt 1.296,8 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá tra đạt 450,4 nghìn tấn, tăng 5,9%; tôm thẻ chân trắng đạt 128,9 nghìn tấn, tăng 8,5%.

(3) Sản xuất công nghiệp tăng trưởng tích cực, các nhà máy khôi phục hoàn toàn công suất hoạt động sau Tết Nguyên đán nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý I/2026 ước tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của quý I trong 7 năm gần đây[2]. Trong đó, chỉ số sản xuất một số ngành công nghiệp trọng điểm tiếp tục phát triển và có tốc độ tăng cao, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng toàn ngành công nghiệp[3].

(4) Hoạt động thương mại dịch vụ duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, phản ánh sức cầu trong nước phục hồi và cải thiện. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.902,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 18,3% và luân chuyển tăng 11,3%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,5% và luân chuyển tăng 12,0%.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa quý I/2026 ước đạt 249,50 tỷ USD, tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,1%; nhập khẩu tăng 27,0%.

(5) Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch ngày càng chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện nhằm tăng cường thu hút khách quốc tế đến Việt Nam. Khách quốc tế đến nước ta quý I/2026 đạt hơn 6,76 triệu lượt người, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước và đây là số lượng khách đến nước ta của quý I cao nhất từ trước đến nay. Sự phục hồi của ngành Du lịch góp phần tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ, trong đó doanh thu du lịch lữ hành quý I/2026 ước đạt 22,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

(6) Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tính đến 31/3/2026 tiếp tục tăng trưởng ấn tượng.

Tính đến ngày 31/3/2026, cả nước thu hút được 904 dự án đầu tư nước ngoài cấp mới với số vốn đạt 10,23 tỷ USD, tăng 6,4% về số dự án và gấp 2,4 lần về số vốn so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 có 850 dự án và vốn đăng ký cấp mới đạt 4,33 triệu USD), cho thấy Việt Nam tiếp tục giữ vững vị thế là điểm đến thu hút đầu tư nước ngoài trong điều kiện thế giới còn nhiều bất ổn. Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 5,41 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước.

(7) Lạm phát được kiểm soát theo mục tiêu đề ra trong bối cảnh chi phí sản xuất đầu vào tăng cao do tác động của xung đột quân sự tại Trung Đông. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý I/2026 tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng 3,22% của cùng kỳ năm 2025 nhưng thấp hơn quý I năm 2023 và 2024 (lần lượt là 4,18% và 3,77%). Lạm phát cơ bản tăng 3,63%.

(8) Lao động, việc làm, thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị duy trì dưới 3,0%; công tác bảo đảm an sinh xã hội được các cấp, ngành thực hiện kịp thời, hiệu quả.

Lao động có việc làm quý I/2026 ước tính là 52,5 triệu người, tăng 656,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; thu nhập bình quân của lao động được cải thiện, đạt 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 329 nghìn đồng so với quý trước và tăng 706 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,21%, gần như không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước.

Theo báo cáo tổng hợp từ các địa phương, tính đến ngày 25/3/2026, tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm là đạt gần 25,0 nghìn tỷ đồng. Có hơn 32,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ hoặc thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng.

  1. Hạn chế, tồn tại

(1) Ngành Nông nghiệp vẫn gặp nhiều thách thức. Tiến độ gieo trồng một số cây hằng năm tính đến ngày 20/03/2026 đạt thấp chủ yếu do ảnh hưởng của bão, mưa lũ các tháng cuối năm 2025[4].

(2) Hoạt động sản xuất kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, có 69,9% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh quý I/2026 so với quý IV/2025 tốt hơn và giữ ổn định; 30,1% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn[5].

(3) Doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặc dù vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới tăng cao nhưng vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong quý I/2026 đạt 9,4 tỷ đồng, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước; tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt hơn 1,3 triệu tỷ đồng, giảm 5,1%; số doanh nghiệp đăng ký giảm vốn là 1.882 doanh nghiệp, tăng 60,7%.

(4) Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục xu hướng giảm, cán cân thương mại nhập siêu. Tháng 3/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước đạt 8,96 tỷ USD, giảm 20,1% so với cùng kỳ năm trước; tính chung quý I/2026 đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%. Cán cân thương mại hàng hóa tháng 3/2026 ước nhập siêu 0,67 tỷ USD, là lần thứ tư liên tiếp kể từ tháng 12/2025[6].

(5) Chi phí sản xuất đầu vào tăng cao trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, áp lực lạm phát gia tăng. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2026 tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,76%. Đây là những mức tăng cao nhất của quý I các năm giai đoạn 2023-2026[7]. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng CPI cao nhất của tháng Ba so với cùng kỳ năm trước trong 5 năm qua[8].

(6) Lao động có việc làm phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động có việc làm của nền kinh tế. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức quý I/2026 là 62,2%, trong đó tỷ lệ lao động phi chính thức trong khu vực thành thị là 48,4%; khu vực nông thôn là 71,1%.

(7) Tình hình thiên tai và cháy, nổ tiếp tục diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong quý I/2026, thiên tai làm 01 người chết, 10 người bị thương; tổng giá trị thiệt hai do thiên tai gây ra ước tính 159,7 tỷ đồng, tăng 76,2% so với cùng kỳ năm trước; cả nước xảy ra 729 vụ cháy, nổ, làm 26 người chết và 34 người bị thương, thiệt hại ước tính 237,6 tỷ đồng, gấp 4,6 lần cùng kỳ năm trước.

  1. Kiến nghị

Bên cạnh những kết quả đạt được, bước sang quý II/2026, kinh tế – xã hội nước ta dự báo sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, biến động nhanh và khó lường về kinh tế, chính trị, quân sự; dịch bệnh, thiên tai khó dự báo trước. Việc đạt mục tiêu đặt ra của năm 2026 theo Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ của năm 2025 là một thách thức lớn, do đó để tạo đà tăng trưởng cho các quý tiếp theo, cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, cung ứng hàng hóa và kiểm soát giá cả, thị trường. Theo dõi sát diễn biến xung đột quân sự khu vực Trung Đông, giá dầu thế giới, chi phí vận tải quốc tế, biến động tỷ giá và các diễn biến mới phát sinh trên toàn cầu. Kịp thời cập nhật các kịch bản về tăng trưởng, lạm phát; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, hài hòa và thận trọng các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô nhằm duy trì sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế để ứng phó kịp thời với các cú sốc từ bên ngoài. Có chính sách điều hành linh hoạt giá xăng dầu thông qua các công cụ thuế, phí và quỹ bình ổn nhằm hạn chế tốc độ tăng giá nhiên liệu trong nước, rà soát lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý như điện, y tế, giáo dục và dịch vụ công để tránh gây áp lực lạm phát trong cùng một thời điểm.

Hai là, bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, triển khai nhanh, hiệu quả các nhiệm vụ, dự án đầu tư quy mô lớn, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Xác định các dự án có khả năng hấp thụ vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, nhất là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có tác động lan tỏa; phát huy nguồn lực đầu tư của các tập đoàn, doanh nghiệp Nhà nước; thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực khu vực tư nhân, khu vực nước ngoài. Khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước một số lĩnh vực công nghệ cao, mới nổi như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số.

Ba là, đẩy mạnh tiêu dùng, tập trung phát triển thị trường trong nước. Thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại. Thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử; thúc đẩy kết nối giữa nhà sản xuất trong nước và các kênh phân phối hiện đại để mở rộng tiêu thụ sản phẩm nội địa trên cả nước. Có các biện pháp hỗ trợ phù hợp cho những ngành chịu tác động trực tiếp từ biến động giá nhiên liệu và chi phí lưu thông như: Vận tải, thủy sản, nông nghiệp và logistics. Thực hiện giãn, hoãn hoặc giảm một số khoản thuế, phí đầu vào trong giai đoạn khó khăn nhằm giúp doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất và duy trì việc làm; Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát đầu cơ, găm hàng và bảo đảm nguồn cung đối với các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, phân bón, lương thực và nguyên liệu sản xuất. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo điểm nhấn để thu hút khách du lịch đến và lưu trú nhiều hơn.

Bốn là, triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu theo hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường, mặt hàng. Đẩy mạnh khai thác các thị trường lớn, thị trường tiềm năng, đồng thời tận dụng tối đa cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do đã ký kết để mở rộng dư địa xuất khẩu. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại theo hướng chuyên nghiệp, ứng dụng nền tảng số, kết nối hiệu quả cung – cầu, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, mở rộng kênh phân phối; tháo gỡ rào cản kỹ thuật, nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn của các thị trường nhập khẩu. Phát triển mạnh hệ thống logistics, giảm chi phí vận chuyển, bảo quản; hỗ trợ tiêu thụ hiệu quả các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản cả ở thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần ổn định sản xuất và nâng cao thu nhập cho người dân.

Năm là, thúc đẩy, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế ban đêm, thương mại điện tử, mô hình kinh doanh mới. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, kinh tế chia sẻ. Thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới, ưu tiên tập trung vào một số ngành như bán buôn, bán lẻ, công nghiệp chế biến, chế tạo, du lịch, logistics. Có các chính sách đột phá thu hút các chuyên gia, nhất là các chuyên gia giỏi người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài làm việc và phát triển khoa học, đổi mới sáng tạo cho Việt Nam. Chú trọng phát triển đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực, ngành, nghề mới, đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Sáu là, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh; chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, có phương án sản xuất nông nghiệp phù hợp và chủ động cung cấp tưới, tiêu nước, phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; phòng chống cháy rừng.

Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm, đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống của Nhân dân./.

 CỤC THỐNG KÊ

[1] Giá cá tra nguyên liệu trong tháng 3/2026 dao động từ 32.000 đồng/kg – 34.000 đồng/kg, tăng 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

 [2] Tốc độ tăng/giảm chỉ số sản xuất công nghiệp quý I so với cùng kỳ năm trước các năm 2020-2026 lần lượt là: 5,6%; 5,7%; 6,8%; -2,6%; 5,9%; 8,3%; 9,0%.

 [3] Sản xuất kim loại tăng 22,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 19,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 18,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,7%; sản xuất đồ uống tăng 14,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,0%; dệt tăng 8,6%; sản xuất trang phục tăng 8,4%.

[4] Diện tích gieo trồng lạc giảm 1,3%; ngô giảm 2,9%; khoai lang tương đương cùng kỳ năm trước; rau các loại tăng 0,4%; đậu các loại tăng 0,7%.

[5] Chỉ số tương ứng của quý IV/2025: 79,1% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định; 20,9% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn.

[6] Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước quý III/2025 giảm 11,4% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 giảm 13,3%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026, lần lượt là: 0,64 tỷ USD; 1,94 tỷ USD; 1,01 tỷ USD; 0,67 tỷ USD.

[7] Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I so với cùng kỳ năm trước các năm giai đoạn 2023-2026 lần lượt là: 1,05%; -0,56%; 2,25%; 2,95%. Chỉ số giá sản xuất nguyên, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý I so với cùng kỳ năm trước các năm giai đoạn 2023-2026 lần lượt là: 1,53%; 1,25%; 3,97%; 4,76%.

[8] Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 so với cùng kỳ năm trước các năm 2022-2026 lần lượt là: 2,41%; 3,35%; 3,97%; 3,13%; 4,65%.


Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm