Trong 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp; trong nước vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, tình hình kinh tế – xã hội tháng Sáu và 6 tháng đầu năm 2026 của nước ta đạt nhiều kết quả tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo, hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục phục hồi, nhiều ngành, lĩnh vực tăng trưởng khả quan, tạo nền tảng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2026. Một số nét chính về kinh tế – xã hội tháng Sáu và 6 tháng đầu năm 2026 của nước ta như sau:
- Điểm sáng và tích cực
(1) Trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 của nước ta đạt mức tăng trưởng khá, quý sau cao hơn quý trước nhờ hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội và điều hành, quản lý vĩ mô của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, ngành và địa phương. Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8,18% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 7,94%; quý II tăng 8,39%), cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm 2025 (7,63%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%.
(2) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 duy trì tăng trưởng ổn định. Năng suất và sản lượng lúa vụ đông xuân tăng so với cùng vụ năm trước; sản lượng cây lâu năm đạt khá; chăn nuôi phát triển theo hướng an toàn sinh học. Sản lượng gỗ khai thác tăng nhờ nhu cầu chế biến và xuất khẩu được duy trì tích cực; nuôi trồng và khai thác thủy sản ổn định nhờ ứng dụng công nghệ cao và thời tiết thuận lợi.
Năng suất lúa vụ đông xuân năm 2026 ước đạt 69,8 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt gần 20,5 triệu tấn, tăng 88,1 nghìn tấn. Sản lượng thu hoạch cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2026 tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhờ thời tiết thuận lợi, công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hiệu quả[1]. Mô hình chăn nuôi quy mô lớn và an toàn sinh học được mở rộng, góp phần tăng sản lượng sản phẩm chăn nuôi[2].
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 51,6 triệu cây, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11,8 triệu m3, tăng 4,5%.
Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.954,2 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng đạt 2.993,1 nghìn tấn, tăng 5,7%, trong đó cá tra đạt 935,4 nghìn tấn, tăng 5,0%; tôm sú đạt 167,6 nghìn tấn, tăng 4,3%. Sản lượng khai thác đạt 1.961,1 nghìn tấn, tăng 0,6%.
(3) Sản xuất công nghiệp tăng trưởng tích cực nhờ nhiều dự án công nghiệp lớn đi vào vận hành thương mại và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh, tạo động lực cho nhu cầu đầu tư phát triển hạ tầng. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng Sáu ước tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 6 tháng đầu năm tăng 10,8%, là mức tăng cao nhất của 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước trong 7 năm gần đây[3] và tăng ở 34 địa phương trên cả nước. Một số địa phương có IIP tăng trên 2 con số: Hà Tĩnh 32,8%; Ninh Bình 27,3%; Phú Thọ 25,1%; Nghệ An 23,0%; Thái Nguyên 19,9%; Bắc Ninh 19,5%; Quảng Ninh 15,9%; Hưng Yên 15,2%; Hải Phòng 14,8% …
(4) Hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì đà tăng trưởng khá nhờ sức mua trong nước cải thiện, hoạt động du lịch và dịch vụ diễn ra sôi động; vận tải, kho bãi đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý II/2026 ước đạt 1.977,6 nghìn tỷ đồng, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9%, cao hơn cùng kỳ các năm 2024 (9,0%) và năm 2025 (9,4%).
Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2026 tăng 18,8% và luân chuyển tăng 12,2%; vận chuyển hàng hóa tăng 13,2% và luân chuyển tăng 10,0%.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 12,25 triệu lượt khách, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước và là số lượt khách đến nước ta đạt mức cao nhất của 6 tháng đầu năm trong nhiều năm qua.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 21,0%; nhập khẩu tăng 33,4%. Với kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2026 có khả năng đạt và vượt mục tiêu đặt ra trong NQ số 01 (15-16%).
(5) Thu hút đầu tư 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục khởi sắc, cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế được cải thiện và niềm tin của nhà đầu tư đối với triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam được củng cố.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó quý I đạt 748,3 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2%; quý II đạt 1.059,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1%. Tính đến ngày 30/6/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61,0% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 13,0 tỷ USD, tăng 11,2%.
(6) Tinh thần khởi nghiệp tiếp tục sôi động, phản ánh kỳ vọng của doanh nghiệp đối với đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 169,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (151,1 nghìn doanh nghiệp); số vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới đạt 1.352,6 nghìn tỷ đồng, tăng 64,8%.
(7) Chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu giảm 0,39% so với tháng trước do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới; nguồn cung hàng hóa trong nước cơ bản được bảo đảm, giá lương thực và thực phẩm giảm, góp phần kiềm chế mức tăng CPI. Đây là mức giảm CPI tháng thấp nhất trong 6 tháng đầu năm 2026[4].
(8) Thị trường lao động tiếp tục chuyển biến tích cực; việc làm, thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với cùng kỳ năm trước; công tác bảo đảm an sinh xã hội được các cấp, ngành triển khai đồng bộ, kịp thời và hiệu quả.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, lao động có việc làm là 52,6 triệu người, tăng 672,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; thu nhập bình quân của lao động là gần 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 717 nghìn đồng. Tính đến ngày 22/6/2026, tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các đối tượng là hơn 46,7 nghìn tỷ đồng; cấp phát hơn 35,7 triệu thẻ BHYT/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng.
Tình hình đời sống dân cư duy trì ổn định. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ đời sống nhân dân được các cấp, các ngành tăng cường thực hiện. Tính từ đầu năm đến nay, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân khoảng 17,9 nghìn tấn gạo. Tình hình giao thông có nhiều cải thiện khi giảm cả về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước.
- Vấn đề cần lưu ý
(1) Tiến độ gieo trồng lúa hè thu năm nay chậm hơn cùng kỳ năm 2025, chủ yếu do vụ lúa đông xuân ở các tỉnh phía Nam thu hoạch muộn, làm kéo dài thời gian chuyển vụ. Bên cạnh đó, một số địa phương nắng nóng kéo dài, nguồn nước tưới hạn chế nên người dân chủ động giảm diện tích hoặc chậm xuống giống. Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, diện tích chăn thả thu hẹp và chi phí chăn nuôi cao; tổng đàn trâu cuối tháng Sáu ước giảm 6,6% so với cùng thời điểm năm trước, đàn bò giảm 2,8%.
(2) Chỉ số IIP 6 tháng đầu năm 2026 thấp hơn mục tiêu cả năm (12-14%), trong đó IIP của 17 địa phương tăng dưới 12,0%. Với kết quả này, ngành Công nghiệp cần phải nỗ lực hơn nữa để chỉ số IIP có thể đạt mục tiêu tăng từ 12-14% đặt ra trong Nghị quyết (NQ) số 01/2026/NQ-CP. Một số ngành công nghiệp truyền thống tăng thấp, chịu sức ép bào mòn biên lợi nhuận do chi phí nguyên vật liệu nhập khẩu, cước vận tải quốc tế tăng cao nên doanh nghiệp thận trọng mở rộng quy mô: Dệt (tăng 10,0%), sản xuất trang phục (tăng 5,5%), sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (tăng 4,0%)…
Tại địa phương, một số ngành công nghiệp trọng điểm 6 tháng đầu năm 2026 tăng thấp hoặc giảm, ảnh hưởng đến IIP chung của tỉnh và cả nước. Cụ thể: Ngành sản xuất và phân phối điện ở TP. Hồ Chí Minh tăng 1,1%; Quảng Ninh tăng 3,2%; Đà Nẵng tăng 4,0%; Cà Mau tăng 4,7%; Cần Thơ giảm 1,2%; Huế giảm 13,2%; … Ngành khai khoáng ở Tây Ninh giảm 35,0%; Quảng Ngãi giảm 38,4%; Hà Tĩnh giảm 12,1%; Tuyên Quang giảm 10,8%; Quảng Ninh giảm 5,1%; Gia Lai giảm 2,2%;… do vướng mắc thủ tục cấp phép, giải phóng mặt bằng. Ngành chế biến, chế tạo ở một số địa phương giảm hoặc tăng thấp: Lai Châu giảm 1,7%; Sơn La giảm 1,8%; Lạng Sơn tăng 1,0%; Lào Cai tăng 6,4%; Khánh Hòa tăng 7,9% …
(3) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,3%, thấp hơn cùng kỳ năm trước (7,4%). Bán lẻ hàng hóa tăng 12,5%, thấp hơn mức tăng của khu vực dịch vụ lưu trú và ăn uống (15,6%), cho thấy sức mua hàng hóa, đặc biệt là hàng tiêu dùng lâu bền chưa thực sự bứt phá. Ngoài ra, 16 địa phương có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng dưới 13,0%, ảnh hưởng đến mục tiêu tăng từ 13-15% năm 2026 của cả nước. Với kết quả này, ngành Dịch vụ cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa để tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2026 có thể đạt mục tiêu tăng 13-15% đặt ra trong NQ số 01/2026/NQ-CP.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 49% mục tiêu (đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026 theo NQ số 01). Áp lực trong các tháng còn lại là khá lớn, đòi hỏi ngành Du lịch cần có các giải pháp đồng bộ để bảo đảm hoàn thành mục tiêu đề ra.
Tháng Sáu, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước ước đạt 14,19 tỷ USD, tăng 32,4% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa tháng Sáu ước nhập siêu 2,64 tỷ USD, là tháng thứ bảy liên tiếp nhập siêu kể từ tháng 12/2025; tính chung 6 tháng đầu năm 2026 ước nhập siêu 16,65 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,95 tỷ USD), nguy cơ cán cân thương mại hàng hóa năm 2026 nhập siêu ngày càng rõ nét và tạo áp lực lớn lên thị trường ngoại hối, tỷ giá.
(4) Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 335,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng 22,6% của cùng kỳ năm 2025, cho thấy tiến độ giải ngân đầu tư công còn chậm, việc triển khai và thực hiện các dự án chưa đạt kỳ vọng.
(5) Chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước, bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,38%. Đây là mức tăng CPI cao nhất của tháng Sáu và 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước trong 5 năm qua[5]. Áp lực lạm phát đối với các tháng còn lại của năm vẫn đang hiện hữu, là thách thức lớn để hoàn thành mục tiêu tăng khoảng 4,5% đặt ra trong NQ số 01/2026/NQ-CP.
Chi phí sản xuất đầu vào vẫn tăng cao trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,40%. Đây là mức tăng cao nhất của 6 tháng đầu năm các năm giai đoạn 2023-2026[6].
(6) Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể 6 tháng đầu năm 2026 là 23.980 doanh nghiệp, gấp 1,9 lần cùng kỳ năm trước và là mức giải thể cao nhất từ trước đến nay. Điều này cho thấy một bộ phận doanh nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, sức chống chịu còn hạn chế, nhất là đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và năng lực tài chính yếu.
(7) Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 là 98,7%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, cho thấy tạo việc làm chính thức ở khu vực này còn nhiều khó khăn. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm và cháy, nổ diễn biến phức tạp. Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 55,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (07 trường hợp tử vong); 54,8 nghìn người mắc tay chân miệng (10 trường hợp tử vong); 4.393 người sốt phát ban nghi sởi; 34 người tử vong do bệnh dại; 47 vụ ngộ độc thực phẩm với 1.866 người mắc (07 người tử vong); 1.517 vụ cháy, nổ, làm 54 người chết và 69 người bị thương, thiệt hại ước tính 534,5 tỷ đồng, tăng 98,9% so với cùng kỳ năm trước.
- Kiến nghị
Trên cơ sở những kết quả đạt được và các khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, trong thời gian tới cần tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nhằm giữ vứng ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng. Một số giải pháp chủ yêu như sau:
Một là, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát giá cả và thị trường. Theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới (xung đột Trung Đông, giá dầu, chi phí vận tải, tỷ giá…), kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng, lạm phát. Quản lý giá xăng dầu linh hoạt, hiệu quả; tránh điều chỉnh đồng thời các mặt hàng Nhà nước quản lý để giảm áp lực lạm phát.
Hai là, tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Đồng thời, tăng cường kiểm soát dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô tập trung và chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.
Ba là, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh; chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung và kiểm soát chi phí logistics; đồng thời đẩy nhanh tháo gỡ thủ tục, khơi thông nguồn cung vật liệu và thúc đẩy giải ngân đầu tư công; bảo đảm an ninh năng lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
Bốn là, tiếp tục triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mại và kết nối cung cầu nhằm thúc đẩy sức mua trong nước. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, mở rộng hệ thống phân phối hiện đại và bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, góp phần ổn định thị trường và thúc đẩy tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
Năm là, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường. Tận dụng hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển logistics, giảm chi phí; hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản.
Sáu là, tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.
Bảy là, tăng cường phòng, chống dịch bệnh và chủ động ứng phó thiên tai. Triển khai hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch, bệnh; chủ động ứng phó mưa lũ, hạn hán, xâm nhập mặn; bảo đảm sản xuất nông nghiệp, phòng chống cháy rừng. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống của Nhân dân./.
CỤC THỐNG KÊ
[1] Sầu riêng tăng 12,7%; mít tăng 10,3%; dứa tăng 8,0%; dừa tăng 7,3%; hồ tiêu tăng 5,0%; điều tăng 4,6%; chè búp tăng 4,0%; cao su tăng 3,9%.
[2] Tổng đàn lợn cả nước cuối tháng 6/2026 ước tăng 2,2% so với cùng thời điểm năm 2025; đàn gia cầm ước tăng 3,1%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 2,86 triệu tấn, tăng 4,8%; thịt gia cầm hơi đạt 1,3 triệu tấn, tăng 5,6%; trứng gia cầm đạt 10,8 tỷ quả, tăng 2,6%.
[3] Tốc độ tăng, giảm chỉ số IIP 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2020-2026 lần lượt là: 2,8%; 9,0%; 8,4%; -1,4%; 8,0%; 8,7%; 10,8%.
[4] So với tháng trước, tốc độ tăng, giảm CPI từ tháng Một đến tháng Sáu năm 2026 lần lượt là: -0,05%; 1,14%; 1,23%; 0,84%; 0,29% và -0,39%.
[5] Chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2022-2026 tăng lần lượt là: 3,37%; 2,00%; 4,34%; 3,57%; 4,69%. Bình quân 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2022-2026 tăng lần lượt là: 2,44%; 3,29%; 4,08%; 3,27%; 4,38%.
[6] Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2023-2026 lần lượt là: -0,26%; 0,25%; 1,99%; 4,18%. Chỉ số giá sản xuất nguyên, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2023-2026 lần lượt là: -0,02%; 2,16%; 3,84%; 5,40%.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)