I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sáu tháng đầu năm 2013 ước tính tăng 4,90% so với cùng kỳ năm 2012 (quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%), trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,07%, đóng góp 0,40 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,18%, đóng góp 1,99 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,92%, đóng góp 2,51 điểm phần trăm.
Nhìn chung tăng trưởng kinh tế nước ta một số năm gần đây phần lớn do đóng góp của khu vực dịch vụ; khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và khu vực công nghiệp, xây dựng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Trong khu vực dịch vụ sáu tháng đầu năm nay, trừ ngành kinh doanh bất động sản tăng 1,8%, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn và tăng khá là: Ngành bán buôn và bán lẻ tăng 5,33%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,78%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,4%; giáo dục và đào tạo tăng 8,02%; vận tải kho bãi tăng 5,59%. Các ngành khác tăng từ 7 – 8%. Tuy nhiên, trong sáu tháng đầu năm, ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã có chuyển biến khá nhanh từ quý II với giá trị tăng thêm quý II cao hơn 2,3 điểm phần trăm so với quý I (Tương ứng năm trước chỉ cao hơn 0,4 điểm phần trăm).
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản sáu tháng đầu năm theo giá so sánh 2010 ước tính tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp tăng 2,2%; lâm nghiệp tăng 5,7% và thuỷ sản tăng 2,5%. Trong sản xuất nông nghiệp, kết quả của chăn nuôi giảm sút đã ảnh hưởng đến phát triển toàn ngành. Giá trị sản xuất chăn nuôi sáu tháng đầu năm chỉ tăng 0,9%, thấp hơn nhiều mức tăng 6,5% của cùng kỳ năm 2012. Trong sản xuất thủy sản, giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản sáu tháng chỉ tăng 1,8%, trong khi cùng kỳ năm trước tăng 7,2%.
a. Nông nghiệp
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay đạt 3139,9 nghìn ha, tăng 15,7 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2012; năng suất đạt 64,5 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 20,3 triệu tấn, giảm 29,4 nghìn tấn. Sản lượng lúa đông xuân của các địa phương phía Bắc đạt 7,2 triệu tấn, giảm 45,1 nghìn tấn, các địa phương phía Nam ước đạt 13,1 triệu tấn, tăng 15,7 nghìn tấn (vùng trọng điểm lúa đồng bằng sông Cửu Long đạt 10,8 triệu tấn, tăng 27 nghìn tấn). Sản lượng một số cây trồng khác của vụ đông xuân năm nay như sau: Ngô đạt 2,5 triệu tấn, tăng 4,6% so với năm trước; đậu tương đạt 90,5 nghìn tấn, tăng 10,9%; lạc đạt 377,1 nghìn tấn, tăng 5,1%; rau đạt 8 triệu tấn, tăng 1,0%.
Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm và cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ do diện tích cho sản phẩm tăng: Chè đạt 407,6 nghìn tấn, tăng 2,3%; cao su đạt 309 nghìn tấn, tăng 7,9%; hồ tiêu đạt 109 nghìn tấn, tăng 4,8%; xoài tăng 11,2%; cam, quýt tăng 9,7%… Riêng sản lượng điều đạt 278,1 nghìn tấn, giảm 11,4% so với cùng kỳ năm 2012; dừa 653,5 nghìn tấn, giảm 3%, chủ yếu do giá bán sản phẩm thấp nên một phần diện tích được chuyển sang trồng cây khác hiệu quả hơn.
Tính đến 15/6/2013, đàn trâu cả nước có 2,6 triệu con, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò có 5,1 triệu con, giảm 3,2%; đàn bò sữa có 174,7 nghìn con, tăng 10,3%; đàn lợn có 26,5 triệu con, giảm 0,5%; đàn gia cầm có 304,5 triệu con, giảm 2%; sản lượng thịt trâu hơi giảm 0,6%; sản lượng thịt bò hơi tăng 3,5%; sản lượng thịt lợn hơi giảm 0,1%; sản lượng thịt gia cầm giảm 1,8%; sản lượng trứng gia cầm tăng 5,8%; sản lượng sữa tăng 9,2%.
b. Lâm nghiệp
Trong sáu tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 66,1 nghìn ha, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 111,3 triệu cây, tăng 2,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2410,6 nghìn m3, tăng 7,2%. Trong sáu tháng, diện tích rừng thiệt hại trên cả nước là 1355 ha, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy 845 ha, giảm 2,3%; diện tích rừng bị chặt phá 510 ha, giảm 21,8%.
c. Thủy sản
Sản lượng thủy sản sáu tháng đầu năm ước tính đạt 2737 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó cá 2109 nghìn tấn, tăng 0,8%, tôm 262 nghìn tấn, tăng 2,8%.
Diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 920 nghìn ha, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản nuôi trồng sáu tháng ước tính đạt 1425 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1121 nghìn tấn, giảm 1,5%; tôm đạt 181 nghìn tấn, tăng 3%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng giảm chủ yếu do sản xuất cá tra gặp khó khăn trong tiêu thụ. Sản lượng cá tra sáu tháng đầu năm chỉ đạt 560 nghìn tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước. Nuôi tôm phát triển ổn định hơn và người dân có xu hướng chuyển dần sang nuôi tôm thẻ chân trắng vì ít bị bệnh nên hiệu quả hơn. Trong sáu tháng đầu năm, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 25 nghìn ha, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 57 nghìn tấn, tăng 12%. Sản lượng thuỷ sản khai thác sáu tháng ước tính đạt 1312 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 1226 nghìn tấn, tăng 3,8%.
- Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp sáu tháng đầu năm ước tính tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2012 (quý II cao hơn 1,5 điểm phần trăm so với quý I, trong khi quý II năm 2012 chỉ tăng 0,4 điểm phần trăm). Trong mức tăng chung 5,2% của toàn ngành sáu tháng đầu năm, ngành khai khoáng đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành chế biến, chế tạo đóng góp 4,1 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,6 điểm phần trăm và ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng sáu tháng tăng 1,9%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 4,2% cùng kỳ năm trước, chủ yếu do sản lượng than và dầu thô giảm. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sáu tháng tăng 5,7% (cùng kỳ năm trước tăng 5,9%), đây là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp, tuy chưa đạt mức tăng như cùng kỳ năm trước nhưng mức tăng quý II cao hơn 2,3 điểm phần trăm so với mức tăng quý I (mức tăng quý II/2012 thấp hơn 1,0 điểm phần trăm so với quý I/2012). Chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện sáu tháng đầu năm tăng 8,7%, thấp hơn nhiều mức tăng 14,7% của cùng kỳ năm trước.
Trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao là: Sản xuất da tăng 16,8%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 14,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 14,6%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 11,1%; sản xuất đồ uống tăng 10,5%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 10,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 9%. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 5,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 5,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 5%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,4%; sản xuất thuốc lá tăng 4,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học giảm 1,8%; sản xuất kim loại giảm 3,9%.
Mức tăng sản lượng sáu tháng đầu năm của một số sản phẩm đóng góp nhiều trong công nghiệp chế biến, chế tạo như sau: Thủy hải sản chế biến tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2012; đường kính tăng 13,9%; phân urê tăng 34,9%; xi măng tăng 7,2%; thép cán tăng 22,3%; ô tô lắp ráp tăng 5,4%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm tháng đầu năm tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/6/2013 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,7%. Một số ngành có chỉ số sản xuất, chỉ số tiêu thụ và chỉ số tồn kho tương đối tốt là: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan với các chỉ số tương ứng là 116,8%, 129,0% và 74,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy với các chỉ số: 114,7%, 105,2% và 102,4%; sản xuất đồ uống: 110,5%, 113,4% và 105,4%; sản xuất xe có động cơ: 109,0%, 122,2% và 78,4%; sản xuất trang phục: 108,7%, 107,1% và 102,5%; dệt với 107,3%, 108,7% và 103,0%. Một số ngành có chỉ số sản xuất, chỉ số tiêu thụ và chỉ số tồn kho chưa an toàn là: Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất với các chỉ số tương ứng là: 111,1%, 104,6% và 132,3%; sản xuất thiết bị điện: 105,2%, 118,6% và 117,7%; sản xuất thuốc lá: 104,1%, 106,2% và 118,6%; sản xuất kim loại: 96,1%, 95,2% và 112,3%.
Tỷ lệ tồn kho tháng Năm năm nay là 71%, tỷ lệ tồn kho năm tháng đầu năm là 75,4%. Một số ngành có tỷ lệ tồn kho năm tháng cao hơn tỷ lệ tồn kho chung của ngành chế biến, chế tạo là: Sản xuất xe có động cơ 120,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất 117,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 112,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế 100,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 93,4%. Một số ngành có tỷ lệ tồn kho năm tháng thấp hơn tỷ lệ chung là: Sản xuất thuốc lá 64,1%; sản xuất đồ uống 61,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy 48,2%.
Chỉ số sử dụng lao động tháng Sáu của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,8% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sử dụng lao động tháng 6/2013 tăng 2,8%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,1%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6,6%. Chỉ số sử dụng lao động tháng Sáu trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,3%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,3%.
- Hoạt động xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng sáu tháng đầu năm theo giá hiện hành ước tính đạt 325,3 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 38,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8%; khu vực ngoài Nhà nước 277,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 85,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 9,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 2,9%. Giá trị sản xuất xây dựng sáu tháng đầu năm theo giá so sánh 2010 ước tính tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực Nhà nước tăng 5,1%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 5,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 6,1%.
- Hoạt động dịch vụ
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm ước tính tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 4,9%, tuy thấp hơn nhiều so với mức tăng 6,7% của cùng kỳ năm 2012 nhưng quý II năm nay tăng 5,1%, cao hơn mức tăng 4,5% của quý trước.
Vận tải hành khách sáu tháng đầu năm nay ước tính tăng 3,9% về vận chuyển và tăng 3,6% về luân chuyển so với cùng kỳ năm 2012, trong đó vận tải hành khách đường bộ tăng 4% về vận chuyển và tăng 3,9% về luân chuyển; đường hàng không tăng 1,8% về vận chuyển và tăng 3,6% về luân chuyển; đường sắt giảm 0,2% về vận chuyển và giảm 2,1% về luân chuyển; đường biển tăng 4,9% về vận chuyển và tăng 3,7% về luân chuyển.
Vận tải hàng hóa sáu tháng đầu năm ước tính tăng 2,8% về vận chuyển và giảm 3,5% về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước tăng 3,2% về vận chuyển và tăng 2,5% về luân chuyển; vận tải ngoài nước giảm 6,7% về vận chuyển và giảm 8,1% về luân chuyển. Vận tải hàng hoá đường bộ tăng 3,6% về vận chuyển và tăng 4,6% về luân chuyển; đường sông tăng 2,9% và tăng 5,1%; đường biển giảm 9,8% và giảm 8,2%; đường sắt giảm 4,1% và giảm 5,3%.
- Khách quốc tế đến Việt Nam
Trong sáu tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3540,4 nghìn lượt người, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước (khách đến quý I giảm 6,2%, quý II tăng 13,5%), trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 2169,4 nghìn lượt người, tăng 4,9%; đến vì công việc 592,5 nghìn lượt người, tăng 1,8%; thăm thân nhân đạt 590 nghìn lượt người, giảm 1%. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta tăng so với cùng kỳ năm trước là: Trung Quốc tăng 21%; Hàn Quốc tăng 4,3%; Nhật Bản tăng 1,9%; Ôx-trây-li-a tăng 7,3%; Ma-lai-xi-a tăng 12,2%; Thái Lan tăng 24,3%; Nga tăng 60,4%. Một số nước có lượng khách đến nước ta giảm so với cùng kỳ năm trước là: Hoa Kỳ giảm 5%; Đài Loan giảm 18,1%; Cam-pu-chia giảm 5,2%; Pháp giảm 10,5%.
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
- Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện sáu tháng đầu năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 448,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước và bằng 29,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 166,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 37% tổng vốn và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 168,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,5% và tăng 9,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 114,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,5% và tăng 3,9%. Trong vốn đầu tư thực hiện khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước sáu tháng ước tính đạt 88,5 nghìn tỷ đồng, bằng 44% kế hoạch năm và giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2012.
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2013 đạt 10472,9 triệu USD, bằng 115,9% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đăng ký của 554 dự án được cấp phép mới đạt 5812,0 triệu USD, bằng 89,6% số dự án và bằng 103,7% số vốn cùng kỳ năm 2012; vốn đăng ký bổ sung của 217 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước là 4660,9 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện sáu tháng đầu năm ước tính đạt 5,7 tỷ USD, bằng 105,6% cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sáu tháng đầu năm nay tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với 88,9% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản chiếm 4%.
Trong số 41 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp phép mới vào Việt Nam sáu tháng đầu năm, Xin-ga-po tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với số vốn chiếm 40% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Liên bang Nga chiếm 17,5%; Nhật Bản chiếm16,5%; Hàn Quốc chiếm 8%; Thái Lan chiếm 5,3%.
- Thu, chi ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2013 ước tính đạt 324,4 nghìn tỷ đồng, bằng 39,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa 217,2 nghìn tỷ đồng, bằng 39,8%; thu từ dầu thô 50,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 54,4 nghìn tỷ đồng, bằng 32,7%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 64,4 nghìn tỷ đồng, bằng 36,9% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 49,1 nghìn tỷ đồng, bằng 45,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 47,4 nghìn tỷ đồng, bằng 39,3%; thu thuế thu nhập cá nhân 25,3 nghìn tỷ đồng, bằng 46,2%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2013 ước tính đạt 409,1 nghìn tỷ đồng, bằng 41,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 74,3 nghìn tỷ đồng, bằng 42,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 72 nghìn tỷ đồng, bằng 42,3%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi cải cách tiền lương) ước tính đạt 287,1 nghìn tỷ đồng, bằng 42,6%; chi trả nợ và viện trợ 47,8 nghìn tỷ đồng, bằng 45,5%.
- Xuất, nhập khẩu hàng hóa
a. Xuất khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm ước tính đạt 62 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 20,9 tỷ USD, tăng 2,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 41,1 tỷ USD, chiếm 66,3% tổng kim ngạch. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm ước tính đạt 64,8 tỷ USD, tăng 21,2%.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tương ứng của cả nước như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; giày dép; hàng dệt may. Mức tăng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của khu vực này đóng góp 15,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung, trong khi đó khu vực kinh tế trong nước chỉ đóng góp 0,8 điểm phần trăm.
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện thoại các loại và linh kiện tăng 97%; hàng dệt may tăng 16,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 39,3%; giày dép tăng 16,4%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 16,6%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ năm trước là: Dầu thô giảm 2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác giảm 1,1%; xăng dầu giảm 38,3%. Đối với các mặt hàng nông sản và thủy sản, chỉ có hạt tiêu và rau quả đạt kim ngạch xuất khẩu tăng cao (Hạt tiêu tăng 17,3%; rau quả tăng 33,5%), các sản phẩm khác đều tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như: Thủy sản tăng 0,3%; hạt điều tăng 4,8%; cà phê giảm 21,9%; gạo giảm 7,4%; cao su giảm 19,5%; sắn và sản phẩm của sắn giảm 16,6%.
b. Nhập khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu sáu tháng đầu năm ước tính đạt 63,4 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2012 (quý I tăng 15,4%; quý II tăng 19,2%). Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu sáu tháng của khu vực kinh tế trong nước đạt 27,7 tỷ USD, tăng 6,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 35,7 tỷ USD, tăng 27,8%. Cũng như xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu là các mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng tương ứng của cả nước như: Điện thoại các loại và linh kiện; điện tử máy tính và linh kiện; vải các loại; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép. Nếu loại trừ yếu tố giá thì kim ngạch hàng hóa nhập khẩu sáu tháng năm nay đạt 65,1 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong sáu tháng đầu năm nay, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu nhiều mặt hàng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó hàng điện tử, máy tính và linh kiện tăng 52,3%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 8,5%; vải tăng 19,5%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 87,6%; sắt thép tăng 14,4%; chất dẻo tăng 20,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép tăng 22,4%… Riêng nhập khẩu xăng dầu giảm cả về lượng và kim ngạch: Lượng giảm 22,1%, kim ngạch giảm 25,5%.
Nhập siêu tháng 6/2013 ước tính đạt 200 triệu USD, bằng 1,8% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Nhập siêu sáu tháng đầu năm ước tính 1,4 tỷ USD, bằng 2,3% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó quý I xuất siêu 233 triệu USD; quý II nhập siêu 1,6 tỷ USD.
- Chỉ số giá
a. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2013 tăng 0,05% so với tháng trước. Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,42%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,4%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,33%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,32%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,09%; giáo dục tăng 0,03%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,02%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm gồm: Bưu chính viễn thông giảm 0,13%; giao thông giảm 0,09%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,08% (Lương thực giảm 0,62%; thực phẩm giảm 0,03%).
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2013 tăng 2,4% so với tháng 12/2012 và tăng 6,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân sáu tháng đầu năm nay tăng 6,73% so với bình quân cùng kỳ năm 2012.
b. Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản sáu tháng đầu năm 2013 giảm 2,51% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp tăng 4,18%; chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 2,93%; chỉ số giá cước vận tải tăng 7,63%.
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá sáu tháng đầu năm giảm 4,21% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá giảm 2,56%.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
- Lao động, việc làm
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước tại thời điểm 01/7/2013 ước tính 53,3 triệu người, tăng 715,6 nghìn người so với tại thời điểm 01/7/2012 và tăng 308 nghìn người so với tại thời điểm 01/4/2013. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 47,2 triệu người, tăng 249,2 nghìn người so với tại thời điểm 01/7/2012 và tăng 98,5 nghìn người so với thời điểm 01/4/2013. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc sáu tháng đầu năm ước tính 52,2 triệu người, tăng 0,97% so với năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 47,4% tổng số, không biến động so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,7%, giảm 0,5 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 31,9%, tăng 0,5 điểm phần trăm.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi sáu tháng đầu năm 2013 ước tính là 2,28%, trong đó khu vực thành thị là 3,85%, khu vực nông thôn là 1,57%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi sáu tháng đầu năm ước tính là 2,95%, trong đó khu vực thành thị là 1,76%, khu vực nông thôn là 3,47%.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên sáu tháng đầu năm ước tính là 6,07% (được tính cho những người từ 15-24 tuổi), trong đó khu vực thành thị là 11,45% khu vực nông thôn là 4,41%. Tỷ lệ thất nghiệp của người lớn sáu tháng đầu năm ước tính là 1,34% (được tính cho những người từ 25 tuổi trở lên), trong đó khu vực thành thị là 2,55%, khu vực nông thôn là 0,8%. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị của thanh niên gấp 4,5 lần tỷ lệ thất nghiệp của người lớn.
- Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Trong tháng 6/2013, cả nước có 36 nghìn hộ thiếu đói, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 153 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tăng 16,8%. Tính chung sáu tháng đầu năm, cả nước có 323,2 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2012, tương ứng với 1351 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 10,4%. Theo kết quả sơ bộ Khảo sát mức sống dân cư 2012, tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2012 là 11,1%, giảm 1,5 điểm phần trăm so với năm 2011.
- Giáo dục
Theo báo cáo sơ bộ, cả nước có 941 nghìn thí sinh đăng ký dự thi trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm học 2012-2013. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 97,5% (giảm 1,4 điểm phần trăm so với năm học 2011-2012), tỷ lệ tốt nghiệp hệ bổ túc trung học đạt 78,1% (giảm 7,4 điểm phần trăm).
Tính đến hết tháng 6/2013, cả nước có 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (04 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2) và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Năm học 2012-2013, cả nước có 424 trường đại học, cao đẳng (gồm 343 trường công lập và 81 trường ngoài công lập) và 295 trường trung cấp chuyên nghiệp (gồm 202 trường công lập và 93 trường ngoài công lập). Tổng số sinh viên đại học, cao đẳng của cả nước là 2,2 triệu người, số học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 562,6 nghìn học sinh.
- Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Trong sáu tháng đầu năm, cả nước có 18,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 13 trường hợp tử vong; 33,7 nghìn trường hợp mắc bệnh chân tay miệng, trong đó 11 trường hợp tử vong; 282 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút, có 9 trường hợp tử vong; 102 trường hợp mắc thương hàn; 5 trường hợp mắc viêm màng não do não mô cầu, trong đó 2 trường hợp tử vong và 2 trường hợp mắc cúm A (H5N1); 18 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân tại 2 huyện Sơn Hà và Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Trong tháng Sáu đã phát hiện thêm 489 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống của cả nước tính đến ngày 17/6/2013 lên 213,2 nghìn người, trong đó 62,6 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS cả nước tính đến ngày 17/6/2013 là 63,7 nghìn người. So với tháng trước, số trường hợp tử vong do AIDS tháng Sáu giảm 22,5% (9 trường hợp).
Tính từ đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 64 vụ ngộ độc thực phẩm với 1485 người mắc, trong đó 15 trường hợp tử vong. Riêng trong tháng Sáu, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 21 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 375 người bị ngộ độc, trong đó 329 người phải nhập viện.
- Tai nạn giao thông
Trong tháng Sáu trên địa bàn cả nước xảy ra 912 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên (Không tính các vụ va chạm), tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, làm chết 775 người, tăng 9,5% và làm bị thương 595 người, tăng 2,2%. Tính chung sáu tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 5514 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4913 người và làm bị thương 3465 người. So với cùng kỳ năm 2012, số vụ tai nạn giao thông sáu tháng năm nay tăng 3,6%; số người chết tăng 5,5% và số người bị thương giảm 11,3%. Bình quân 1 ngày trong sáu tháng, cả nước có 31 vụ tai nạn giao thông, làm chết 27 người và làm bị thương 21 người.
- Thiệt hại do thiên tai
Thiên tai xảy ra trong sáu tháng làm 74 người chết, mất tích và 181 người bị thương; gần 1 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; trên 63 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái; hơn 8 nghìn ha lúa và gần 19 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Các địa phương bị thiệt hại nặng do thiên tai là: Quảng Bình; Lào Cai; Tuyên Quang. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong sáu tháng đầu năm nay ước tính 1170 tỷ đồng, trong đó Lào Cai thiệt hại nhiều nhất với hơn 371 tỷ đồng. Tổng số tiền mặt cứu trợ các địa phương bị thiệt hại do thiên tai gây ra trong sáu tháng qua là hơn 2,2 tỷ đồng.
- Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ
Trong sáu tháng đầu năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện 3,5 nghìn vụ vi phạm quy định về vệ sinh môi trường tại 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó 1,7 nghìn vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt gần 362 tỷ đồng. Số vụ cháy, nổ nghiêm trọng xảy ra trong sáu tháng đầu năm là 1274 vụ, làm chết 61 người và 112 người bị thương. Thiệt hại do cháy nổ ước tính khoảng 519 tỷ đồng. Riêng tháng Sáu đã xảy ra 232 vụ cháy, nổ, làm 9 người chết, 47 người bị thương với giá trị thiệt hại trên 199 tỷ đồng.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ