1. Những điểm tích cực của thị trường lao động
(1) Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng với quy mô dân số trong độ tuổi lao động dồi dào và tăng hàng năm, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động/dân số từ 15 tuổi trở lên khoảng 69%; hàng năm bổ sung khoảng 500 nghìn người vào lực lượng lao động.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2025 là 52,9 triệu người, giảm 230,7 nghìn người so với quý trước và tăng 532,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
(2) Tỷ lệ lao động qua đào tạo tiếp tục tăng: Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý I năm 2025 là 28,8%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
(3) Số lao động có việc làm trong quý I tăng so với năm trước; cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng trong khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ
Lao động có việc làm quý I năm 2025 đạt 51,9 triệu người, giảm 234,0 nghìn người, tương ứng giảm 0,45% so với quý trước và tăng 532,1 nghìn người, tương ứng tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước.
Lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 13,5 triệu người, giảm 305,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 17,3 triệu người, tăng 262,7 nghìn người; khu vực dịch vụ đạt 21,1 triệu người, tăng 574,4 nghìn người.
(4) Thu nhập bình quân tháng của người lao động quý I năm 2025 là 8,3 triệu đồng, tăng 131 nghìn đồng so với quý trước và tăng 720 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước, tương đương tăng 1,6% và tăng 9,5%.
(5) Tình hình kinh tế – xã hội của nước ta trong quý I năm 2025 đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần làm giảm tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp. Tính chung, quý I năm 2025, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,20%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[1] quý I năm 2025 khoảng 797,0 nghìn người, tăng 32,4 nghìn người so với quý trước và giảm 136,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
2. Những điểm hạn chế của thị trường lao động
(1) Thị trường lao động vẫn tiếp tục xu hướng phục hồi, tuy nhiên chất lượng cung lao động còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng cho cầu lao động của một thị trường lao động hiện đại, linh hoạt, bền vững và hội nhập. Cả nước chỉ có 28,8% lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ thiếu cả về số lượng và trình độ chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhiều việc làm mới vẫn là lao động giản đơn, thời vụ, không ổn định.
(2) Lao động có việc làm có xu hướng tăng nhưng thị trường lao động phát triển chưa bền vững, cụ thể:
– Tỷ lệ việc làm phi chính thức vẫn ở mức cao 64,3%, tăng 0,7 điểm phần trăm so với quý trước. Lao động có việc làm phi chính thức làm các công việc bấp bênh, thiếu tính ổn định với thu nhập thấp.
– Khu vực doanh nghiệp là nơi không những thu hút, tạo việc làm mới cho nền kinh tế mà còn tạo cơ hội cho lao động phi chính thức dịch chuyển sang. Trong quý I/2025, cả nước có 72,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong đó: 36,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 4,0% về doanh nghiệp và giảm 14,6% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 78,8 nghìn doanh nghiệp, trong đó: Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là hơn 61,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước; gần 11,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 26,1%; gần 5,9 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 23,0%. Doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao, làm ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội việc làm, đặc biệt ở các ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông như dệt may, xây dựng, sản xuất gia công.
– Việc Hoa Kỳ áp dụng thuế suất đối ứng 46% sẽ gây ra những tác động tiêu cực đáng kể đến các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và thị trường lao động liên quan. Các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng xuất khẩu liên quan đến 6 nhóm hàng hóa chiếm tỷ trọng trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng: Máy ví tính điện tử và linh kiện; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng; điện thoại các loại và linh kiện; dệt may; giầy dép; gỗ và sản phẩm gỗ. Để giảm thiểu tác động, doanh nghiệp cần tìm kiếm thị trường mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa sản phẩm. Chính phủ cũng cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động trong việc chuyển đổi và thích ứng với tình hình mới.
(3) Chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ nên năng suất lao động của Việt Nam trong thời gian qua mặc dù đã cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm nhưng mức năng suất lao động của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực.
[1] Theo quy định tại Bộ Luật Lao động năm 2019, trong độ tuổi lao động bao gồm: nam từ 15 đến 59 và nữ từ 15 đến 54 (từ năm 2020 trở về trước); nam từ 15 đến chưa đủ 60 tuổi 3 tháng và nữ từ 15 đến chưa đủ 55 tuổi 4 tháng (năm 2021); nam từ 15 đến chưa đủ 60 tuổi 6 tháng và nữ từ 15 đến chưa đủ 55 tuổi 8 tháng (năm 2022); nam từ 15 đến chưa đủ 60 tuổi 9 tháng và nữ từ 15 đến chưa đủ 56 tuổi (năm 2023); nam từ 15 đến chưa đủ 61 tuổi và nữ từ 15 đến chưa đủ 56 tuổi 4 tháng (năm 2024); nam từ 15 đến 61 tuổi 3 tháng và nữ từ 15 đến chưa đủ 56 tuổi 8 tháng (năm 2025).

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)