- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
- a) Nông nghiệp
Tính đến ngày 15/11:
(1) Trồng trọt
– Lúa mùa: Cả nước đã cơ bản kết thúc sản xuất vụ mùa với diện tích thu hoạch đạt 1.424,7 nghìn ha, chiếm 89,9% diện tích gieo cấy[1] và bằng 98,1% vụ mùa năm trước. Năng suất lúa mùa năm nay ước tính đạt 51 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha so với vụ mùa năm trước; sản lượng đạt 8,08 triệu tấn, giảm 20,7 nghìn tấn do diện tích gieo cấy giảm.
– Lúa thu đông: Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 724 nghìn ha lúa thu đông, giảm 0,2 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích thu hoạch đạt 382,9 nghìn ha, bằng 103,9% cùng kỳ năm trước. Năng suất toàn vụ ước tính đạt 55,1 tạ/hạ, tăng 0,2 tạ/ha, sản lượng đạt 3,99 triệu tấn, tương đương vụ thu đông năm trước. Hiện nay còn gần một nửa diện tích lúa thu đông chưa đến kỳ thu hoạch, ngành Nông nghiệp cần tăng cường hướng dẫn người dân theo dõi sát tình hình sinh trưởng của cây lúa, đặc biệt trên trà lúa đã trổ đòng để tránh sâu bệnh gây hại.
– Lúa đông xuân: Các địa phương phía Nam đã gieo cấy được 237,9 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 68,1% cùng kỳ năm trước do các địa phương chủ động điều chỉnh thời điểm xuống giống phù hợp với diễn biến thời tiết và dự báo của các ngành chức năng.
(2) Chăn nuôi
– Chăn nuôi trâu, bò: Ước tính trong tháng Mười Một, tổng số trâu của cả nước giảm 2% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số bò tăng 2,5%.
– Đàn lợn tiếp tục đà hồi phục trên cả nước, giá lợn giống có xu hướng giảm nhẹ là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc tái đàn. Ước tính tổng số lợn tăng khoảng 12% so cùng thời điểm năm trước. Tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi hiện nay đang diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, đến ngày 25/11/2020 dịch có ở 318 xã của 29 địa phương. Trong tháng Mười Một, giá thịt lợn hơi giảm khoảng 2.000-7.000 đồng/kg so với tháng Mười, dao động trong khoảng từ 65.000-76.000 đồng/kg.
– Chăn nuôi gia cầm: Do ảnh hưởng lũ lụt nên tổng số gia cầm các tỉnh miền Trung giảm làm chậm tốc độ tăng tổng số gia cầm chung của cả nước, tổng số gia cầm cả nước tăng 4,1% so với cùng thời điểm năm 2019.
- b) Lâm nghiệp
Tính chung 11 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 223,8 nghìn ha, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 83,7 triệu cây, giảm 1,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 15,3 triệu m3, tăng 3%; sản lượng củi khai thác đạt 17,3 triệu ste, giảm 0,6%.
Diện tích rừng bị thiệt hại 11 tháng là 1.418,5 ha, giảm 45,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 629 ha, giảm 67,9%; diện tích rừng bị chặt, phá là 789,5 ha, tăng 22,3%.
- c) Thủy sản
Trong tháng Mười Một, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 733,8 nghìn tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 457 nghìn tấn, tăng 2,5%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 276,8 nghìn tấn, giảm 1,1% do ảnh hưởng của bão nên khai thác thủy sản ở vùng biển miền Trung không được hoạt động liên lục, làm giảm sản lượng khai thác của cả nước.
– Nuôi cá tra: Giá cá tra nguyên liệu sau chuỗi 9 tháng đầu năm dao động ở mức dưới 20.000 đồng/kg đã tăng lên mức 22.000-23.000 đồng/kg trong tháng Mười và tiếp tục duy trì mức giá này trong tháng Mười Một. Tuy nhiên, nguồn cung cá tra đạt yêu cầu (từ 0,7-0,9 kg/con) không còn nhiều, sản lượng cá tra tháng 11/2020 ước tính đạt 136,6 nghìn tấn, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước.
– Nuôi tôm: Giá tôm nguyên liệu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục ở mức cao so các tháng đầu năm và tăng nhẹ do nguồn cung giảm, các nhà máy điều chỉnh giá thu mua để phục vụ nhu cầu xuất khẩu cuối năm[2]. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Mười Một ước tính đạt 56,6 nghìn tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 20 nghìn tấn, tăng 0,5%.
Tính chung 11 tháng năm 2020, sản lượng thủy sản ước tính đạt 7.673,3 nghìn tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 4.158,3 nghìn tấn, tăng 1,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.515 nghìn tấn, tăng 1,8% (sản lượng khai thác biển đạt 3.342,5 nghìn tấn, tăng 2%).
- Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng Mười Một tiếp tục khởi sắc với tốc độ tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,9% chủ yếu do có sự đóng góp của các ngành: Sản xuất than cốc và sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 125% (sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 131,1%); sản xuất kim loại tăng 39%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 19,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 18,9%; sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 15,8%.
Tính chung 11 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
– Ngành khai khoáng giảm 7,1% (cùng kỳ năm trước tăng 0,9%).
– Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,2% (cùng kỳ năm trước tăng 9,5%).
– Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4% (cùng kỳ năm trước tăng 6,7%).
– Ngành chế biến, chế tạo tăng 4,7%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 12,1% và 10,6% của cùng kỳ năm 2018 và 2019.
| Ngành công nghiệp cấp 2 | Tốc độ tăng IIP 11 tháng năm 2019 (%) | Tốc độ tăng IIP 11 tháng năm 2020 (%) |
| Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính
và sản phẩm quang học (26) |
7,2 | 10,2 |
| Sản xuất, chế biến thực phẩm (10) | 9,1 | 4,6 |
| Sản xuất trang phục (14) | 7,9 | -4,5 |
| SX sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (23) (xi măng) | 8,0 | 1,5 |
| Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (15) | 9,8 | -2,5 |
| Sản xuất phương tiện vận tải khác (30) (xe máy) | -5,5 | -10,3 |
| Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) (25) | 7,8 | 4,2 |
| Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (20) | 6,6 | 7,5 |
| Sản xuất kim loại (24) | 31,7 | 13,6 |
| Dệt (13) | 11,3 | -0,4 |
| Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (22) | 14,4 | 4,7 |
| Sản xuất thiết bị điện (27) | 9,8 | 2,3 |
| Sản xuất xe có động cơ (29) (ô tô) | 7,3 | -8,9 |
| Sản xuất đồ uống (11) | 10,9 | -5,5 |
| Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế (19) | 24,6 | 11,5 |
- Khu vực dịch vụ
- a) Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một ước tính đạt 464,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ đạt mức tăng cao 13,2%. Tính chung 11 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.590,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 2% (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,1%).
- b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[3]
Xuất khẩu hàng hóa
– Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2020 ước tính đạt 24,8 tỷ USD, giảm 9% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước.
– Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 11 tháng ước tính đạt 254,6 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 73 tỷ USD, tăng 1,6%, chiếm 28,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 181,6 tỷ USD, tăng 6,9%, chiếm 71,3%.
– Trong 11 tháng có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó có 6 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,3%), cụ thể: Điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 46,9 tỷ USD, chiếm 18,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 40,2 tỷ USD, tăng 24,3%; hàng dệt may đạt 26,7 tỷ USD, giảm 10,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 23,9 tỷ USD, tăng 44,5%; giày dép đạt 14,9 tỷ USD, giảm 9,8%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 10,9 tỷ USD, tăng 14,1%.
– Hầu hết các mặt hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản có kim ngạch xuất khẩu 11 tháng giảm so với cùng kỳ năm trước:
+ Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 18,7 tỷ USD, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Rau quả đạt 3 tỷ USD, giảm 11,7%; hạt điều đạt 2,9 tỷ USD, giảm 1,7% (lượng tăng 13,2%); cà phê đạt 2,5 tỷ USD, giảm 2,9% (lượng giảm 3,9%); cao su đạt 2 tỷ USD, giảm 1,4% (lượng tăng 0,4%); hạt tiêu đạt 596 triệu USD, giảm 11,5% (lượng giảm 1,8%); chè đạt 201 triệu USD, giảm 5,3% (lượng tăng 1,2%). Riêng sản phẩm gạo đạt 2,8 tỷ USD, tăng 10,4% (lượng giảm 2,2%).
+ Nhóm hàng thủy sản đạt 7,7 tỷ USD, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước.
Nhập khẩu hàng hóa
– Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2020 ước tính đạt 24,2 tỷ USD, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước.
– Tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 234,5 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 85,43 tỷ USD, giảm 9,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 149,07 tỷ USD, tăng 9,2%.
– Trong 11 tháng năm 2020 có 34 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 89,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 57,4 tỷ USD (chiếm 24,54% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 22% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 33,1 tỷ USD, bằng cùng kỳ năm trước; điện thoại và linh kiện đạt 14,6 tỷ USD, tăng 9,3%; vải đạt 10,6 tỷ USD, giảm 12,3%.
– Về cơ cấu nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2020, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 218,8 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 15,7 tỷ USD, tăng 0,5%.
Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Mười xuất siêu 2,9 tỷ USD; 10 tháng xuất siêu 19,5 tỷ USD; tháng Mười Một ước tính xuất siêu 600 triệu USD. Tính chung 11 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu kỷ lục 20,1 tỷ USD.
Về thị trường, cán cân thương mại 11 tháng năm 2020 ước tính thâm hụt ở các thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Nhật Bản và thặng dư ở các thị trường Hoa Kỳ, EU.
(1) Trung Quốc là thị trường có quan hệ thương mại hai chiều lớn nhất với 117 tỷ USD, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Xuất khẩu ước tính đạt 43,1 tỷ USD, tăng 16%; nhập khẩu ước tính đạt 73,9 tỷ USD, tăng 7,9%; nhập siêu từ Trung Quốc là 30,8 tỷ USD, giảm 1,7%.
(2) Hoa Kỳ đứng vị trí thứ hai với tổng mức lưu chuyển ngoại thương đạt 82,5 tỷ USD, tăng 20,1%. Xuất khẩu đạt 69,9 tỷ USD, tăng 25,7%; nhập khẩu đạt 12,6 tỷ USD, giảm 3,6%; xuất siêu sang Hoa Kỳ lớn nhất với 57,3 tỷ USD, tăng 34,7%.
(3) Hàn Quốc là thị trường có quan hệ thương mại hai chiều lớn thứ 3 với 59,7 tỷ USD, giảm 2,9%. Xuất khẩu đạt 17,7 tỷ USD, giảm 2,7%; nhập khẩu đạt 42 tỷ USD, giảm 2,9%; nhập siêu từ thị trường Hàn Quốc đạt 24,3 tỷ USD, giảm 3,1%.
(4) ASEAN có kim ngạch 2 chiều đạt 48,2 tỷ USD, giảm 8,5%. Xuất khẩu đạt 20,9 tỷ USD, giảm 10,6%; nhập khẩu đạt 27,3 tỷ USD, giảm 6,9%. Nhập siêu 6,4 tỷ USD, tăng 7,5%.
(5) EU có kim ngạch 2 chiều đạt 45,4 tỷ USD, giảm 0,6%. Xuất khẩu đạt 32,2 tỷ USD, giảm 2,4%; nhập khẩu đạt 13,2 tỷ USD, tăng 4,3%. Xuất siêu 19 tỷ USD, giảm 6,6%.
(6) Nhật Bản có kim ngạch 2 chiều đạt 35,9 tỷ USD, giảm 1%. Xuất khẩu đạt 17,3 tỷ USD, giảm 6,5%; nhập khẩu đạt 18,6 tỷ USD, tăng 4,8%. Nhập siêu 1,3 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 772 triệu USD).
- c) Vận tải hành khách và hàng hóa
– Hoạt động vận tải tháng 11/2020 tiếp tục đà phục hồi: Vận tải hành khách tăng 2,3% về vận chuyển và tăng 4,5% về luân chuyển so với tháng trước; vận tải hàng hóa tăng 5,3% về vận chuyển và tăng 2% về luân chuyển.
– Tính chung 11 tháng năm 2020, vận tải hành khách đạt 3.215,9 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 29,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,9%) và luân chuyển 146 tỷ lượt khách.km, giảm 35,1% (cùng kỳ năm trước tăng 10,7%); vận tải hàng hóa đạt 1.606,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,6%) và luân chuyển 304,2 tỷ tấn.km, giảm 7,9% (cùng kỳ năm trước tăng 7,7%).
- d) Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta tháng 11/2020 đạt 17,7 nghìn lượt người, tăng 19,6% so với tháng trước nhưng giảm 99% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam và lái xe vận chuyển hàng hóa tại các cửa khẩu đường bộ. Tính chung 11 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta đạt 3,8 triệu lượt người, giảm 76,6% so với cùng kỳ năm trước.
- Đăng ký doanh nghiệp
– Doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động:
+ Trong tháng Mười Một, số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt gần 13,1 nghìn doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 284,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 119,7 nghìn lao động, tăng 7,3% về số doanh nghiệp, tăng 72% về vốn đăng ký và tăng 65,3%, về số lao động so với tháng trước (tăng 6,7% về số doanh nghiệp, tăng 103,5% về vốn đăng ký và tăng 6,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước); có 5.315 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 5,4% so với tháng trước và tăng 59,8% so với cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong tháng là gần 9,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 10,8% so với tháng trước và tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước.
+ Tính chung 11 tháng năm 2020, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt gần 165,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số doanh nghiệp thành lập mới gần 124,3 nghìn doanh nghiệp (với tổng số vốn đăng ký là 1.878,9 nghìn tỷ đồng), giảm 1,9% về số doanh nghiệp (tăng 19,3% về vốn đăng ký); số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 40,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 10,7%. Trung bình mỗi tháng có 15 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
– Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chờ giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể trong 11 tháng năm 2020 là gần 93,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước bao gồm: 44,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 59,7% so với cùng kỳ năm trước; 33,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 11,7% và hơn 15,4 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trung bình mỗi tháng có 8,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
- Đầu tư
Tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười Một và 11 tháng năm nay tiếp tục đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2011-2020[4].
Tính chung 11 tháng năm 2020, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 406,8 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3% kế hoạch năm và tăng 34% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 bằng 79,2% và tăng 7%), cụ thể: Vốn Trung ương quản lý đạt 73,1 nghìn tỷ đồng, bằng 79,5% kế hoạch năm và tăng 64,9% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 333,7 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3% và tăng 28,7%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/11/2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 26,4 tỷ USD, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
+ Cấp phép mới: 2.313 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 13,6 tỷ USD, giảm 33,5% về số dự án và giảm 7,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước.
+ Điều chỉnh vốn: 1.051 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 6,3 tỷ USD, tăng 7,8%.
+ Góp vốn, mua cổ phần: 5.812 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn đạt 6,5 tỷ USD, giảm 41,8%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.535 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp gần 2,7 tỷ USD và 4.277 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị hơn 3,8 tỷ USD.
+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng ước tính đạt 17,2 tỷ USD, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước.
- Chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát cơ bản
Giá xăng dầu trong nước giảm theo giá nhiên liệu thế giới; giá điện, nước sinh hoạt giảm do nhu cầu tiêu dùng không cao trong mùa mưa là những yếu tố làm chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2020 giảm 0,01% so với tháng trước, tăng 0,08% so với tháng 12/2019 và tăng 1,48% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2020 tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước[5].
Lạm phát cơ bản tháng 11/2020 tăng 0,03% so với tháng trước và tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 11 tháng năm 2020 tăng 2,43% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.
- Thiệt hại do thiên tai
Thiên tai xảy ra trong tháng Mười Một chủ yếu là mưa bão, lũ lụt và sạt lở tại một số địa phương làm 104 người chết và mất tích, 388 người bị thương; 2,1 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 249,8 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; 5,6 nghìn con gia súc và 1,5 triệu con gia cầm bị chết; 66,7 nghìn ha lúa và 35,4 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 18,7 nghìn tỷ đồng.
Tính chung 11 tháng năm 2020, thiên tai làm 372 người chết và mất tích, 1.144 người bị thương; 4.132 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 613,3 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; 267 nghìn ha lúa và 132,5 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 38,4 nghìn tỷ đồng, trong đó thiệt hại do bão, lũ là 31,7 nghìn tỷ đồng./.
[1] Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nước năm 2020 đạt 1.584,6 nghìn ha, giảm 27 nghìn ha so với vụ mùa năm trước, chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và do ảnh hưởng bởi các đợt nắng nóng kéo dài, thiếu nước tưới hoặc bị nhiễm mặn nên không xuống giống, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.050,2 nghìn ha, giảm 20,7 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 534,4 nghìn ha, giảm 6,3 nghìn ha. Một số địa phương có diện tích lúa mùa giảm nhiều là: Hưng Yên giảm 1,9 nghìn ha; Hà Nội giảm 2,4 nghìn ha; Hải Phòng giảm 2,7 nghìn ha; Ninh Thuận giảm 2,9 nghìn ha; Thanh Hóa giảm 4,7 nghìn ha.
[2] Giá tôm thẻ chân trắng kích cỡ 70-100 con/kg tăng từ 3.500-6.400 đồng/kg.
[3] Số liệu tháng 11/2020 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 27/11/2020 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào ngày 28/11/2020.
Số liệu xuất, nhập khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài điều chỉnh theo thông báo của Tổng cục Hải quan.
[4] Tốc độ tăng/giảm vốn thực hiện từ nguồn NSNN tháng Mười Một so với cùng kỳ năm trước các năm 2011-2020 lần lượt là: Tăng 9,5%; giảm 4,9%; tăng 4,5%; giảm 2%; tăng 16,7%; tăng 22,5%; tăng 10,2%; tăng 14,6%; tăng 9,1%; tăng 37,1%.
Tốc độ tăng/giảm vốn thực hiện từ nguồn NSNN 11 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2011-2020 lần lượt là: Tăng 10,3%; tăng 7,1%; giảm 0,2%; tăng 0,8%; tăng 9,6%; tăng 15%; tăng 7,5%; tăng 12,4%; tăng 7%; tăng 34%.
[5] Tốc độ tăng CPI bình quân 11 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020 lần lượt là: 2,47%; 3,61%; 3,59%; 2,57%; 3,51%.