1. Sự cần thiết, ý nghĩa, mục đích xây dựng bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội phục vụ Đại hội Đảng cấp tỉnh

Quá trình phát triển của đất nước nói chung và địa phương nói riêng luôn gắn liền với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội. Nghị quyết Đại hội Đảng qua từng thời kỳ luôn xác định mục tiêu, phương hướng và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước cũng như từng địa phương. Trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, việc xây dựng bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội một cách khoa học, khách quan, toàn diện phục vụ đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng cấp tỉnh là yêu cầu cấp thiết, góp phần cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng bằng hệ thống chỉ tiêu định lượng phục vụ theo dõi, đo lường, giám sát và đánh giá việc hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong mỗi nhiệm kỳ.

Bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội phục vụ Đại hội Đảng cấp tỉnh phản ánh đầy đủ, toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, tính so sánh và khả thi trong việc đo lường, định lượng; đồng thời làm cơ sở để đánh giá kết quả nhiệm kỳ qua và xác định phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển cho nhiệm kỳ tới.

Bộ chỉ tiêu được xây dựng nhằm hiện thực hóa mục tiêu: (1) Cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết: Thay vì đặt ra các mục tiêu chung chung, khó đo đếm, các nội dung của Nghị quyết sẽ được chuyển hóa thành những chỉ tiêu rõ ràng, có mốc thời gian, đơn vị đo lường cụ thể; (2) Làm cơ sở xây dựng kế hoạch hành động: Dựa vào bộ chỉ tiêu, chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.

2. Quá trình xây dựng bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội

Thực hiện Kết luận số 160-KL/TW ngày 31/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc thực hiện nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính, bảo đảm tiến độ, yêu cầu theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Hướng dẫn số 32-HD/TBVK ngày 11/6/2025 của Tiểu ban Văn kiện về việc hướng dẫn xây dựng văn kiện đại hội đảng bộ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau sáp nhập, hợp nhất, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương:

(1) Nghiên cứu, đề xuất bộ chỉ tiêu thống kê kinh tế – xã hội chủ yếu cấp tỉnh phục vụ xây dựng văn kiện đại hội Đảng bộ của các địa phương đồng bộ, thống nhất trên cả nước.

(2) Biên soạn số liệu các chỉ tiêu thống kê kinh tế – xã hội của 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2010-2025 làm căn cứ đánh giá thực trạng và xác định chỉ tiêu mục tiêu của các địa phương theo địa giới hành chính mới.

(3) Tổ chức hội nghị trực tiếp và trực tuyến toàn quốc vào ngày 24/6/2025 để (i) Giới thiệu bộ chỉ tiêu thống kê kinh tế – xã hội cấp tỉnh; (ii) Hướng dẫn hoàn thiện bộ số liệu.

3. Cấu trúc của bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội

Bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội cấp tỉnh gồm 28 chỉ tiêu thuộc ba nhóm lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường. Trong đó, Cục Thống kê phụ trách biên soạn 17 chỉ tiêu, sở/ngành phụ trách tính toán 11 chỉ tiêu. Đây là bộ chỉ tiêu cốt lõi, các địa phương có thể linh hoạt bổ sung 3-5 chỉ tiêu cấp tỉnh để phản ánh tính đặc thù, riêng có, qua đó làm rõ hơn đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội của địa phương trong từng giai đoạn.

a) Nhóm chỉ tiêu kinh tế

Nhóm chỉ tiêu kinh tế gồm 07 chỉ tiêu, trong đó Cục Thống kê phụ trách 06 chỉ tiêu, sở/ngành phụ trách 01 chỉ tiêu. Cụ thể: (1) Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP); (2) Tốc độ tăng GRDP theo giá so sánh; (3) GRDP bình quân đầu người; (4) Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP; (5) Ngân sách Nhà nước; (6) Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá hiện hành; (7) Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn so với GRDP.

b) Nhóm chỉ tiêu xã hội

Nhóm chỉ tiêu xã hội gồm có 16 chỉ tiêu, trong đó Cục Thống kê phụ trách 10 chỉ tiêu, sở/ngành phụ trách 06 chỉ tiêu. Cụ thể: (8) Dân số trung bình; (9) Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh; (10) Chỉ số phát triển con người; (11) Số lao động có việc làm trong nền kinh tế; (12) Tỷ trọng lao động có việc làm trong nền kinh tế; (13) Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo; (14) Tỷ lệ thất nghiệp; (15) Năng suất lao động; (16) Số bác sỹ trên 1 vạn dân; (17) Số giường bệnh trên 1 vạn dân; (18) Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế so với dân số; (19) Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia; (20) Tỷ lệ nghèo đa chiều; (21) Thu nhập bình quân đầu người 01 tháng; (22) Tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh; (23) Tỷ lệ xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

c) Nhóm chỉ tiêu môi trường

Nhóm chỉ tiêu môi trường gồm có 05 chỉ tiêu do sở/ngành phụ trách: (24) Tỷ lệ che phủ rừng; (25) Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý; (26) Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý; (27) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn; (28) Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

Ngày 07/8/2025, Bộ Tài chính đã gửi Công văn số 12067/BTC-CTK để báo cáo Chính phủ về bộ chỉ tiêu và đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các sở, ngành phối hợp với Thống kê tỉnh tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đầy đủ các chỉ tiêu còn thiếu số liệu của giai đoạn trước và xác định chỉ tiêu mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo của 28 chỉ tiêu; cung cấp cho Bộ Tài chính
(Cục Thống kê) chậm nhất ngày 31/10/2025 để xây dựng bộ dữ liệu dùng chung.

 Bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội được xây dựng và sử dụng trong Nghị quyết Đại hội Đảng cấp tỉnh đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ mới./.


Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

80 năm ngành Thống kê: Từ căn nhà mái lá vùng Sơn Dương đến cơ quan thống kê quốc gia

Khởi đầu từ căn nhà lá vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) với vài cán bộ chuyên trách, đến nay Cục Thống kê đã trở thành cơ quan thống kê quốc gia chuyên nghiệp, cung cấp số liệu tin cậy và xây dựng kịch bản kinh tế đất nước. (17/04/2026)

Xem thêm