Tại chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã nghe Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Chuyển đổi số, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ.
Về dự án Luật Chuyển đổi số, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, việc xây dựng luật này nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật để thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hướng đến hình thành quốc gia số; điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hoạt động trên môi trường số; tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập.
Quan điểm xây dựng dự thảo luật là thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, quốc gia số; thống nhất với pháp luật hiện hành, phù hợp điều ước quốc tế; là luật khung kết nối các luật chuyên ngành về chuyển đổi số, đồng thời bổ sung các hoạt động pháp lý để hình thành hành lang pháp lý đồng bộ, không quy định lại nội dung đã có và không làm thay đổi trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, ngành.
Dự thảo sau khi được chỉnh lý còn 8 chương, 51 điều nhưng vẫn bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và giải quyết các vấn đề thực tiễn của chuyển đổi số.
Dự thảo luật tập trung giải quyết các vấn đề chính như thể chế hóa nguồn lực, tài chính và nhân lực để đảm bảo chuyển đổi số được bền vững, đặc biệt là giải pháp tài chính cho chuyển đổi số; Làm rõ, tạo được hành lang pháp lý cho hoạt động chuyển đổi số của các cơ quan trong hệ thống chính trị và tổ chức chính trị xã hội.
Thúc đẩy phát triển hạ tầng cho chuyển đổi số, kinh tế số và xã hội số theo hướng Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, đầu tư công kết hợp với xã hội hóa và áp dụng các cơ chế ưu đãi. Quản lý, thúc đẩy phát triển xã hội số, công dân số, quy định quyền con người, quyền công dân trên môi trường số, phổ cập các dịch vụ số cơ bản, thực hiện chính sách ưu tiên đối với trẻ em, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm dễ bị tổn phương. Đưa năng lực số vào chương trình giáo dục bắt buộc và giáo dục nghề nghiệp, xây dựng và lan tỏa văn hóa ứng xử văn minh, nhân văn trên môi trường số.
Quản lý, thúc đẩy, phát triển kinh tế số, trong đó thúc đẩy chuyển đổi số các doanh nghiệp.
Quy định các điều kiện đảm bảo chuyển đổi số quốc gia hiệu quả, bền vững, như nhân lực, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số, tiêu chuẩn, quy chuẩn cho chuyển đổi số, công nghệ cho chuyển đổi số, dữ liệu cho chuyển đổi số và an toàn trên môi trường số, đo lường, thống kê, giám sát, đánh giá hiệu quả của chuyền đổi số.
Về dự án Luật Công nghệ cao, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, mục đích ban hành là tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ chiến lược; hoàn thiện chính sách coi công nghệ cao là đột phá chiến lược cho phát triển kinh tế xã hội và tự chủ công nghệ; hoàn thiện chính sách ưu đãi và cơ chế hỗ trợ gắn với tính hiệu quả cho các khu công nghệ cao thế hệ mới.
Quan điểm xây dựng luật là cụ thể hóa đường lối của Đảng, đưa công nghệ cao trở thành động lực phát triển đất nước; bám sát xu thế công nghệ và thực tiễn Việt Nam; học hỏi kinh nghiệm quốc tế; giữ lại quy định hiệu quả của luật hiện hành và chỉ bổ sung các điểm mới để bảo đảm ổn định của hệ thống pháp luật.
Các nội dung, sửa đổi của Luật công nghệ cao tập trung vào các nhóm chính sách: như hoàn thiện khái niệm và tiêu chí của công nghệ cao; làm rõ khái niệm công nghệ cao, công nghệ chiến lược; quy định tiêu chí cụ thể cho công nghệ của sản phẩm, quy định chi tiết các hoạt động phát triển đồng thời bổ sung cơ chế rà soát, đánh giá, cập nhật danh mục công nghệ cao, công nghệ chiến lược định kỳ.
Thiết kế các hệ thống chính sách và các đối tượng hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Xác định công nghệ cao, công nghệ chiến lược là ưu tiên để xây dựng chính sách, đa dạng hóa ưu đãi theo cấp độ cho các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển.
Đồng thời, khuyến khích phát triển hệ sinh thái công nghệ cao. Hệ sinh thái công nghệ cao là trụ cột mới tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp – viện – trường – quỹ đầu tư với khu công nghệ cao.
Bổ sung và hoàn thiện các quy định quản lý nhà nước về công nghệ cao, cơ chế quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả, phân cấp, phân quyền rõ ràng trách nhiệm giữa Chính phủ, bộ, ngành, địa phương. Kết hợp cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động khách quan dựa trên dữ liệu.
Bổ sung các quy định về yêu cầu chuyển đổi số toàn diện hoạt động công nghệ cao, số hóa dữ liệu, khuyến khích đầu tư hạ tầng số và nền tảng tích hợp để mọi hoạt động công nghệ cao được quản trị trên hệ thống quản trị thông minh.
Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, luật này được xây dựng nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ hiệu quả, đồng bộ, phù hợp yêu cầu thực tiễn và xu thế thế giới; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ nội sinh; phát triển thị trường khoa học công nghệ minh bạch, chuyên nghiệp, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Quan điểm xây dựng luật là thể chế hóa quan điểm đổi mới của Đảng; kế thừa quy định tiến bộ của Luật năm 2017; tháo gỡ vướng mắc thực tiễn; đổi mới tư duy quản lý, giảm thủ tục hành chính và thực hiện phân cấp, phân quyền.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật chuyển giao công nghệ tập trung vào 06 nhóm chính sách. Một là, bổ sung phạm vi công nghệ cao theo xu thế trên thế giới và yêu cầu thực tiễn; bổ sung công nghệ chiến lược và đối tượng công nghệ ưu tiên chuyển giao; quy định thẩm định công nghệ không chỉ trong dự án đầu tư mà còn theo đề nghị của các tổ chức, cá nhân để phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Hai là, hỗ trợ thúc đẩy chuyển giao công nghệ nội sinh, thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Quy định về hình thức thể hiện quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ, góp vốn bằng công nghệ. Nhà nước tự động giao quyền sở hữu công nghệ tự định đoạt, tự thỏa thuận về giá trị cho tổ chức tạo ra công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước. Nhà nước mua và phổ biến công nghệ phục vụ cho mục đích nghiên cứu ứng dụng phục vụ xã hội công ích. Quy định trường hợp bắt buộc chuyển giao công nghệ phù hợp với luật pháp và các yêu quốc tế.
Ba là, phát triển thị trường khoa học công nghệ, sửa đổi, bổ sung quy định việc nhà nước dành ngân sách phát triển mạng lưới các tổ chức trung gian thị trường khoa học công nghệ nhằm hỗ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ, tăng cường hợp tác công tư thu hút nguồn lực xã hội để phát triển các tổ chức trung gian.
Bốn là, tạo động lực tài chính, thể chế, pháp lý cho hoạt động chuyển giao công nghệ. Cho phép khoản chi cho chuyển giao công nghệ được tính là chi phí trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Ưu tiên thúc đẩy chuyển giao công nghệ đối với công nghệ cao, công nghệ chiến lược, phổ biến công nghệ đến doanh nghiệp nhỏ và vừa hợp tác xã, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Năm là, tăng cường kiểm soát chuyển giao công nghệ xuyên biên giới. Làm rõ quy định chuyển giao công nghệ cho bên giao, bên nhận, bên chuyển giao, tổ chức trung gian. Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài và chuyển giao trong nước.
Sáu là, tăng cường năng lực quản lý nhà nước, thực hiện giám sát, thống kê, đo lường hiệu quả chuyển giao công nghệ, bổ sung quy định khuyến khích đăng ký, cung cấp thông tin chuyển giao công nghệ, đánh giá, đo lường hiệu quả, tác động hoạt động chuyển giao công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, cắt giảm TTHC, thực hiện phân cấp, phân quyền.
Theo báo cáo Thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường về dự án Luật Chuyển đổi số, dự án Luật Công nghệ cao (sửa đổi), dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, Ủy ban KH,CN&MT nhất trí với sự cần thiết ban hành dự án Luật Chuyển đổi số (CĐS), dự án Luật Công nghệ cao (sửa đổi), dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; theo trình tự, thủ tục rút gọn với lý do đã nêu trong các Tờ trình số 804/TTr-CP ngày 17/9/2025; Tờ trình số 791/TTr-CP ngày 15/9/2025; Tờ trình số 788/TTr-CP, ngày 15/9/2025 của Chính phủ. Hồ sơ của các dự án Luật được chuẩn bị đầy đủ, theo đúng trình tự, thủ tục rút gọn tại khoản 5 Điều 51 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Nội dung các dự thảo Luật cơ bản phù hợp với chủ trương của Đảng, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan. Tuy nhiên, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, đối chiếu các quy định trong dự thảo Luật với các luật khác có liên quan để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật./.
Tùng Linh
Nguồn: https://www.mof.gov.vn/

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)