1. Khái niệm, phương pháp tính

Tỷ trọng lao động có việc làm chia theo nhóm giờ làm việc trong tuần là phần trăm lao động có việc làm/làm việc theo nhóm giờ làm việc thực tế trong tuần chiếm trong tổng số lao động có việc làm.

Nhóm giờ làm việc thực tế trong tuần được chia ra gồm: 01 – 09 giờ; 10 – 19 giờ; 20 – 29 giờ; 30 – 34 giờ; 35 – 39 giờ; 40 – 48 giờ; 49 – 59 giờ; từ 60 giờ trở lên.

Công thức tính:

Tỷ trọng lao động có việc làm chia theo nhóm giờ làm việc trong tuần (%)

= Số lao động chia theo mỗi nhóm giờ làm việc thực tế trong tuần


  × 100

Tổng số lao động có việc làm

Số giờ đã làm việc thực tế bao gồm thời gian đã làm việc tại cơ sở làm việc và thời gian làm các hoạt động phụ trợ cho công việc (ví dụ như: Lau chùi/sửa chữa/bảo trì công cụ làm việc, chuẩn bị nơi làm việc/hóa đơn chứng từ/báo cáo,…); thời gian người lao động không làm việc vì những lý do gắn liền với quá trình sản xuất/dịch vụ hoặc tổ chức công việc (ví dụ như: Thời gian chờ đợi, tháo lắp thiết bị, do tai nạn); thời gian chờ việc tại nơi làm việc (thực tế không có việc song người chủ vẫn phải trả công cho họ theo hợp đồng việc làm đã ký kết).

Số giờ đã làm việc thực tế còn bao gồm thời gian giải lao ở nơi làm việc (ví dụ như: Uống chè, cà phê); nhưng không bao gồm thời gian nghỉ ăn trưa/thời gian đi – về và số giờ được trả công nhưng thực tế không làm việc (ví dụ như: Nghỉ phép, nghỉ lễ, nghỉ ốm đau/thai sản).

2. Phân tổ chủ yếu

– Nhóm giờ;

– Giới tính;

– Khu vực kinh tế;

– Loại hình kinh tế;

– Thành thị/nông thôn;

– Vùng kinh tế – xã hội;

– Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

3. Kỳ công bố:Năm.

4. Nguồn số liệu:Điều tra lao động và việc làm.

5. Đơn vị chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp

– Chủ trì: Vụ Thống kê Dân số và Lao động;

– Phối hợp: Cục Thu thập dữ liệu và Ứng dụng công nghệ thông tin thống kê.


Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

80 năm ngành Thống kê: Từ căn nhà mái lá vùng Sơn Dương đến cơ quan thống kê quốc gia

Khởi đầu từ căn nhà lá vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) với vài cán bộ chuyên trách, đến nay Cục Thống kê đã trở thành cơ quan thống kê quốc gia chuyên nghiệp, cung cấp số liệu tin cậy và xây dựng kịch bản kinh tế đất nước. (17/04/2026)

Xem thêm