I- SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Trọng tâm sản xuất nông nghiệp tháng này vẫn là tập trung thu hoạch lúa hè thu và gieo cấy lúa mùa, nhưng nhìn chung tiến độ còn chậm. Đến 15 tháng 8 thu hoạch lúa hè thu mới đạt 1300,0 nghìn ha, bằng 96,0% cùng kỳ năm trước; gieo cấy lúa mùa đạt 1722,3 nghìn ha, bằng 94,9%, trong đó các địa phương phía bắc gieo cấy 1253,8 nghìn ha, bằng 102,3% cùng kỳ năm trước; các tỉnh phía nam gieo cấy 468,5 nghìn ha, bằng 79,5%.
Khó khăn lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp hiện nay là mưa lũ tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung Bộ. Đợt lũ ở đồng bằng sông Cửu Long kéo dài từ đầu tháng 7 đến nay đã làm 317 nghìn ha lúa hè thu của các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang và vùng phụ cận bị ngập, trong đó 30 nghìn ha bị mất trắng và 68 nghìn ha phải gặt ép chạy lũ. Cơn bão số 2 xảy ra trong những ngày vừa qua tràn vào Duyên hải Nam Trung Bộ cũng gây ngập úng hàng chục nghìn ha lúa hè thu của các tỉnh Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi.
II- SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Giá trị sản xuất công nghiệp 8 tháng tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,3% (Trung ương quản lý tăng 11,0%; địa phương quản lý tăng 15,0%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,4% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 2,0%; các doanh nghiệp khác tăng 25,0%).
Một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp tương đối lớn đã đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao. Nếu so với cùng kỳ năm trước thì sản xuất công nghiệp 8 tháng trên địa bàn Hà Nội tăng 15,3%; Hải Phòng tăng 26,0%; Đà Nẵng tăng 15,1%; Khánh Hoà tăng 21,9%; Đồng Nai tăng 18,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 14,9%; Cần Thơ tăng 19,2%.
Nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng, phục vụ sản xuất và đời sống cũng đã nâng cao được mức sản xuất. Sản lượng điện phát ra 8 tháng tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Tương tự, than sạch tăng 13,9%; thép cán tăng 15,9%; xi măng tăng 29,6%; giấy bìa tăng 14,0%; vải lụa tăng 16,3%; hàng thuỷ sản chế biến tăng 28,9%; đường mật tăng 17,2%; lắp ráp ô tô gấp 2,0 lần; lắp ráp xe máy tăng 54,2%; lắp ráp ti vi tăng 53,6%.
Sở dĩ toàn ngành công nghiệp nói chung cũng như sản xuất công nghiệp của từng Bộ, ngành, từng địa phương nói riêng đạt được tốc độ tăng trưởng như trên, một phần do so với cùng kỳ năm trước là những tháng sản xuất công nghiệp đạt mức thấp, nhưng mặt khác môi trường và điều kiện sản xuất công nghiệp trong những tháng gần đây đã có thêm một số yếu tố thuận lợi, trong đó có tác động tích cực của Luật doanh nghiệp đối với khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và hiệu quả của việc tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước.
III- THƯƠNG MẠI, GIÁ CẢ
Sau nhiều tháng liên tục giảm, chỉ số giá tiêu dùng tháng này đã nhích lên, tăng 0,1% so với tháng trước. Tuy nhiên nếu so với tháng 12/1999 thì chỉ số giá tháng này vẫn còn giảm 1,5%, trong đó giá nhóm hàng lương thực giảm 10,1%; thực phẩm, đồ uống và thuốc lá giảm 0,5%; may mặc, giầy dép và mũ nón giảm 0,2%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,2%; dược phẩm và y tế tăng 2,5%; giáo dục và đồ dùng dạy và học tăng 2,4%; giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng trên dưới 1%. Nếu so với mức giá tháng 8/1999, tức là sau một năm thì chỉ số giá tiêu dùng giảm 2,1%, chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm giảm 4,8% (Giá lương thực giảm 10,6%; giá thực phẩm giảm 3,2%).
Kim ngạch xuất khẩu 8 tháng ước tính đạt 9207 triệu USD, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 4852 triệu USD, tăng 7,8% ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 4355 triệu USD, tăng 59,8%. Kim ngạch nhập khẩu 8 tháng ước tính đạt 9737 triệu USD, tăng 34,2% so với 8 tháng đầu năm 1999, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 7044 triệu USD, tăng 34,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 2693 triệu USD, tăng 34,0%. Nhập siêu 8 tháng 530 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2192 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1662 triệu USD.
IV- NGÂN SÁCH
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách 8 tháng ước tính đạt 72,2% dự toán cả năm và tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu từ kinh tế Nhà nước đạt 71,9% và tăng 7,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 85,5% và tăng 74,5%, chủ yếu do giá dầu thô xuất khẩu tiếp tục tăng và đứng ở mức cao; thuế xuất nhập khẩu đạt 56,5% và giảm 12,6%; thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 66,2% và bằng cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách 8 tháng ước tính đạt 62,6% dự toán cả năm và tăng 17,8% so với 8 tháng 1999, trong đó chi thường xuyên đạt 66,5% và tăng 9,7%; chi cho đầu tư phát triển đạt 60,9% và tăng 15,8%. Riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 61,7% và tăng 15,1%. Bội chi ngân sách 8 tháng bằng 12,2% tổng số thu, bằng 10,9% tổng số chi và được bù đắp bằng nguồn vay, trong đó vay trong nước bù đắp 51,7% mức bội chi; vay ngoài nước bù đắp 48,3% còn lại.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ