Trong những tháng đầu năm, tình hình kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp. Sự suy giảm của kinh tế Mỹ đã tác động mạnh và kéo theo sự suy giảm của nhiều nền kinh tế khác; giá dầu, giá lương thực và hầu hết các nguyên vật liệu cơ bản trên thị trường thế giới liên tục tăng cao, gây ảnh hưởng mạnh đến sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại lịch sử kéo dài ở miền Bắc, Bắc Trung Bộ và tình hình dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi cũng đã tác động đáng kể đến tình hình sản xuất và đời sống của dân cư.

Quán triệt các chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã đề ra Nghị quyết về giải pháp chủ yếu điều hành thực hiện kế hoạch và ngân sách Nhà nước năm 2008; Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội nghị với các địa phương, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và chỉ đạo điều hành quyết liệt để thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững và cùng với sự nỗ lực của các các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân, tình hình kinh tế-xã hội nước ta tháng 4 và 4 tháng đầu năm tiếp tục phát triển theo hướng ổn định.

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng này là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng vụ đông ở miền Bắc, thu hoạch lúa và hoa màu ở miền Nam. Tính đến trung tuần tháng 4 năm 2008, kết quả sản xuất nông nghiệp đạt được như sau:

Lúa đông xuân: Các địa phương phía Nam đã thu hoạch 1690,2 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 90% diện tích gieo cấy và bằng 104,1% cùng kỳ năm trước. Vùng đồng bằng sông Cửu Long cơ bản thu hoạch xong, ước tính năng suất lúa đạt 63,1 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước, sản lượng đạt trên 9,6 triệu tấn, tăng 55 vạn tấn. Các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ do thời tiết không thuận lợi nên năng suất lúa giảm (Phú Yên đạt 44 tạ/ha, giảm 20tạ/ha; Quảng Ngãi đạt 41,3 tạ/ha, giảm 12,5tạ/ha, Quảng Nam đạt 40,1tạ/ha, giảm 10,2 tạ/ha, Bình Định 55tạ/ha, giảm 0,5tạ/ha), sản lượng ước tính giảm 120 nghìn tấn (-14%) so với cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc đã gieo cấy được 1118,8 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,4% cùng kỳ năm trước; trong đó các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã kết thúc gieo cấy, diện tích đạt 548,1 nghìn ha, bằng 99,1%; các tỉnh Bắc Trung Bộ đạt 330,3 nghìn ha, bằng 99,1%; các tỉnh miền núi đã cơ bản gieo cấy xong.

Gieo sạ lúa hè thu ở các địa phương phía Nam đạt 351,9 nghìn ha, bằng 113,8% cùng kỳ năm trước; trong đó đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 346,7 nghìn ha, bằng 120%. Giá lúa tăng cao đã khuyến khích người nông dân trở lại trồng lúa thay thế cho trồng cây màu. Do đó, một số tỉnh diện tích gieo sạ lúa hè thu đạt cao so với cùng kỳ năm trước: Đồng Tháp 146%, Vĩnh Long 120%, Long An 390%, Trà Vinh 131%.

Cây trồng khác, đến trung tuần tháng 4/2008, cả nước đã gieo trồng được 509,5 nghìn ha ngô, bằng 108,2% so với cùng kỳ năm trước; 112,2 nghìn ha khoai lang, bằng 91,7%; 152,3 nghìn ha sắn, bằng 92,1%; 159,2 nghìn ha lạc, bằng 92,1%; 99,6 nghìn ha đậu tương, bằng 102%; 12,4 nghìn ha thuốc lá, bằng 62,1%; rau đậu các loại 408,9 nghìn ha, bằng 108,7%.

Chăn nuôi: Chăn nuôi trong tháng có nhiều biến động so với cùng kỳ năm trước, đàn bò và gia cầm có xu hướng tăng trong khi đàn lợn giảm. Ước tính đàn bò tăng 3-4% so với cùng kỳ năm trước, đàn gia cầm tăng 6-7% chủ yếu do ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long vịt chạy đồng tăng mạnh, đàn lợn giảm 2-3% do dịch tai xanh bùng phát tại nhiều địa phương đã gây tâm lý e ngại cho người nuôi lợn.

Tình hình dịch bệnh: Đến ngày 22/4/2008, dịch tai xanh trên lợn đã bùng phát ở nhiều địa phương, cả nước có 10 tỉnh là Thái Nguyên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Lâm Đồng, Quảng Nam có dịch tai xanh chưa qua 21 ngày; số lợn bị mắc bệnh là 229,2 nghìn con và đã tiêu huỷ 227,8 nghìn con. Cũng đến ngày 22/4, cả nước có 02 tỉnh là Tiền Giang và Cần Thơ có dịch cúm gia cầm; 02 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh có dịch lở mồm long móng ở trâu, bò xảy ra chưa qua 21 ngày.

Lâm nghiệp

Trong tháng Tư, sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào chăm sóc rừng, trồng mới, quản lý và bảo vệ rừng hiện có. Do thời tiết tương đối thuận cho việc ươm cây giống, chuẩn bị giống cây trồng nên kết quả sản xuất lâm nghiệp đạt khá. Diện tích rừng trồng tập trung ước tính tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây lâm nghiệp phân tán tăng 0,6%; sản lượng gỗ khai thác tăng 1,3%. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, diện tích rừng trồng tập trung tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước, trồng cây lâm nghiệp phân tán giảm 1%, sản lượng gỗ khai thác tăng 0,9%.

Tuy công tác bảo vệ rừng được các cấp ngành quan tâm, nhưng do thời tiết đang vào cuối mùa khô, nhất là đang vào mùa đốt nương, làm rẫy nên hiện tượng cháy rừng, chặt phá rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong 4 tháng đầu năm, diện tích rừng bị thiệt hại của Đăk Nông là 99,6 ha, Điện Biên 90 ha, Lâm Đồng 45,8 ha, Bắc Giang 35,8 ha. Đáng chú ý là ngày 22/4 tại vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đã xảy ra cháy rừng và tính đến ngày 23/4 đám cháy đã lan toả trên diện tích khoảng 200 ha, trong đó gần 30 ha tràm bị thiêu trụi hoàn toàn.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 4/2008 ước tính đạt 322,3 nghìn tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 146,7 nghìn tấn, tăng 15,5%; khai thác 175,6 nghìn tấn, giảm 2% (trong đó khai thác biển 159,7 nghìn tấn, giảm 2,2%, chủ yếu do thời tiết không thuận lợi và giá nhiên liệu cao).

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tăng khá, do diện tích nuôi tăng và giá cá tra xuất khẩu tăng (Giá cá tra nguyên liệu ở Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng lên khoảng 15.200-15.300đ/kg) nên các hộ nuôi cá yên tâm hơn, không còn tình trạng bán “chạy lỗ“ như trước. Trong tháng Tư, các địa phương tiếp tục xuống giống nuôi tôm chính vụ và tập trung chăm sóc diện tích đã thả nuôi.

Do thời tiết vào thời điểm giao mùa, môi trường nuôi biến động nên dịch bệnh tôm xảy ra ở một số nơi, chủ yếu là bệnh thân đỏ đốm trắng (Kiên Giang dịch bệnh 35 nghìn ha, Cà Mau 11 nghìn ha, Bạc Liêu 1,2 nghìn ha phần lớn trên diện tích nuôi quảng canh cải tiến và nuôi kết hợp).

Tính chung 4 tháng đầu năm 2008, sản lượng thuỷ sản đạt 1,3 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 562,7 nghìn tấn, tăng 23,9%; sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 737,3 nghìn tấn, tăng 0,3%. Trong tổng số, ước tính sản lượng cá đạt 994,3 nghìn tấn, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước và sản lượng tôm đạt 114,1 nghìn tấn, tăng 4,6%.

2. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4/2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 16,8%, trong đó kinh tế nhà nước tăng 13%, kinh tế ngoài nhà nước tăng 18,6% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,3% (dầu khí giảm 5,2%; các ngành khác tăng 19,7%). Một số sản phẩm công nghiệp có giá trị, có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ như: xe chở khách tăng 130,4%; xe tải tăng 89,4%; máy giặt tăng 77,3%; lốp ôtô, máy kéo các loại tăng 52,9%; dầu thực vật tinh luyện tăng 43,2%; kính thủy tinh tăng 41,9%; tủ lạnh, tủ đá tăng 35,5%; sữa bột tăng 32,2%; quần áo mặc thường cho người lớn tăng 30,4%; tivi các loại tăng 28,2%; đường kính tăng 22,4%; thủy sản chế biến tăng 19,1%; than đá tăng 18,3%.

Tính chung 4 tháng đầu năm nay, giá trị sản xuất công nghiệp tháng theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế nhà nước tăng 7,9%; kinh tế ngoài nhà nước tăng 22,1% và kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 16,8% (dầu, khí giảm 4,5% và các ngành khác tăng 19,1%).

Sản lượng dầu thô khai thác 4 tháng ước tính đạt 5,02 triệu tấn, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước, các sản phẩm liên quan đến dầu và khí cũng có xu hướng giảm so với cùng kỳ (khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 7,4%, khí hoá lỏng giảm 16,3%); than sạch khai thác 14,3 triệu tấn, tăng 8,7%; điện sản xuất 23 tỷ kwh, tăng 15,6%. Một số sản phẩm công nghiệp lớn của ngành công nghiệp chế biến tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước như: xe chở khách tăng 119,2%; xe tải tăng 109,5%; máy giặt tăng 45,5%; lốp ô tô máy kéo các loại tăng 42,6%; ti vi các loại tăng 29,1%; thuỷ hải sản chế biến tăng 25%; quần áo mặc thường cho người lớn tăng 21,4%; vải dệt từ sợi bông tăng 20,4%; thép tròn các loại tăng 20,4%, gạch xây tăng 15,1%; xi măng tăng 14,4%; phân bón hoá học tăng 10,2%.

Một số địa phương có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn, có tốc độ tăng trưởng khá cao như: Hải Dương tăng 45,8%; Vĩnh Phúc tăng 40,7%; Bình Dương tăng 23,5%; Hà Tây tăng 23,1%; Đồng Nai tăng 20%; Phú Thọ tăng 19%; Hải Phòng tăng 18,4%; Cần Thơ tăng 17,2%; Hà Nội chỉ tăng 15,2%; thành phố Hồ Chí Minh cũng tăng ở mức thấp là 14,6%. Riêng Bà Rịa-Vũng Tàu chỉ tăng 0,9% do sản lượng khai thác dầu thô tiếp tục giảm.

Tuy nhiên, trong 4 tháng đầu năm, bên cạnh nhóm các sản phẩm dầu khí tiếp tục có xu hướng giảm, vẫn còn một số sản phẩm có tốc độ tăng thấp hoặc chưa đạt mức sản lượng của cùng kỳ năm trước như: kính thủy tinh tăng 1%; thuốc lá điếu giảm 1%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo giảm 6,1%; giày dép ủng bằng da giả cho người lớn giảm 33,5%.

3. Đầu tư

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện tháng 4/2008 ước tính đạt 5,71 nghìn tỷ đồng, bằng 5,8% kế hoạch năm, bao gồm vốn Trung ương quản lý 1,49 nghìn tỷ đồng, bằng 4,5%; vốn địa phương quản lý 4,22 nghìn tỷ đồng, bằng 6,5%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2008, ước tính vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện khoảng 23,54 nghìn tỷ đồng, bằng 24% dự toán cả năm, bao gồm vốn Trung ương quản lý 7,29 nghìn tỷ đồng, bằng 22%; địa phương quản lý 16,24 nghìn tỷ đồng, bằng 25%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đạt khá. Tổng vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến 22/4 (cả vốn cấp mới và tăng thêm) ước tính đạt 7,6 tỷ USD, tăng 41,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm vốn của 194 dự án mới cấp giấy phép đạt 7226,5 triệu USD, tăng 52,9% và vốn tăng thêm của 64 lượt dự án đạt 371,4 triệu USD, giảm 42,7%. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 3,15 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2007.

Trong 4 tháng đầu năm, vốn của các dự án mới cấp giấy phép tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ với 6,5 tỷ USD, chiếm 90% tổng vốn đăng ký; lĩnh vực công nghiệp, xây dựng 646,4 triệu USD, chiếm 8,9%; lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 79,3 triệu USD, chiếm 1,1%.

Phân định theo đối tác đầu tư, Quần đảo Virgin thuộc Anh có vốn cấp mới lớn nhất với 2092,4 triệu USD, chiếm 29% tổng vốn đăng ký; tiếp đến Hoa Kỳ 1315 triệu USD, chiếm 18,2%; Ma-lai-xi-a 1304,9 triệu USD, chiếm 18,1%; Xin-ga-po 809,1 triệu USD, chiếm 11,2%; Nhật Bản 768,5 triệu USD, chiếm 10,6%; Hàn Quốc 340,7 triệu USD, chiếm 4,7%…

Theo địa phương, thành phố Hồ Chí Minh có vốn cấp mới dẫn đầu cả nước với 2104,5 triệu USD, chiếm 29,1% tổng vốn đăng ký trong cả nước; tiếp theo là Kiên Giang 1648 triệu USD, chiếm 22,8%; Bà Rịa – Vũng Tàu 1299 triệu USD, chiếm 18%; Hà Nội 555,6 triệu USD, chiếm 7,7%; Thừa Thiên – Huế 406,3 triệu USD, chiếm 5,6%; Đồng Nai 248,1 triệu USD, chiếm 3,4%; Bình Dương 204,8 triệu USD, Bắc Ninh 147,9 triệu USD, Hải Dương 114,5 triệu USD, Long An 101,7 triệu USD.

Vốn ODA được ký kết từ đầu năm đến 22/4/2008 đạt gần 1,27 tỷ USD, trong đó vốn vay 1,22 tỷ USD; vốn viện trợ không hoàn lại là 49 triệu USD. Tổng giá trị giải ngân vốn ODA trong 4 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 343 triệu USD, bằng 18% kế hoạch giải ngân năm 2008, trong đó vốn vay đạt 270 triệu USD; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 73 triệu USD.

4. Thương mại, dịch vụ

Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm nay tính theo giá thực tế, ước tính đạt 295,11 nghìn tỷ đồng, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế cá thể chiếm 55,8% tổng mức, tăng 36,6%; kinh tế tư nhân chiếm 29,3%, tăng 35,9%; kinh tế nhà nước chiếm 11,5%, chỉ tăng 2%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng nêu trên, ngành thương nghiệp chiếm 82,6% và tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn nhà hàng chiếm 11,1% và tăng 25,4%; dịch vụ chiếm 4,9% và tăng 28,8%; du lịch lữ hành chiếm 1,4% và tăng 49,5%.

Giá tiêu dùng

Giá tiêu dùng tháng 4/2008 đã tăng thấp hơn mức tăng của các tháng trước nhưng vẫn còn tăng và nhiều mặt hàng đứng ở mức giá cao. So với tháng trước, giá tiêu dùng tháng 4/2008 tăng 2,2% (tháng 1/2008 tăng 2,38%; tháng 2 tăng 3,56%; tháng 3 tăng 2,99%). Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, tăng mạnh và góp phần đẩy giá lên cao vẫn là giá các nhóm lương thực; nhà ở và vật liệu xây dựng; phương tiện đi lại, bưu điện và thực phẩm, với các mức tăng giá so với tháng trước lần lượt là: lương thực tăng 6,1%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,6%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 2,3%; thực phẩm tăng 2,2%; các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác chỉ tăng ở mức 0,4% đến 1%.

So với tháng 12 năm 2007, giá tiêu dùng tháng 4 tăng 11,6%, trong đó hàng lương thực tăng 25,1%; thực phẩm tăng 15,6%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 10,8%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 9,8%; các nhóm khác tăng phổ biến từ 1% đến trên 5%. So với tháng 4 năm 2007, giá tiêu dùng tháng 4 năm 2008 tăng 21,42%. Giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2008 tăng 17,6% so với 4 tháng đầu năm trước.

Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Xuất khẩu hàng hoá tháng 4/2008 ước tính đạt 5,1 tỷUSD (tăng 5,6% so với tháng trước) và tăng mạnh (+38%) so với tháng 4/2007. Tổng giá trị xuất khẩu 4 tháng đầu năm nay đạt 18,26 tỷ USD, tăng 27,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,67 tỷ USD, tăng 21%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, kể cả dầu thô đạt 10,59 tỷ USD, tăng 32,8%. Nhìn chung trong 4 tháng đầu năm nay, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực (trừ cà phê giảm cả lượng và giá trị) đều tăng so cùng kỳ năm trước. Uớc tính xuất khẩu 4 tháng của một số mặt hàng chủ yếu như sau:

Dầu thô xuất khẩu đạt 4,58 triệu tấn với kim ngạch 3,5 tỷ USD, giảm 9,6% về lượng so với cùng kỳ năm trước, nhưng do giá xuất khẩu tăng mạnh nên trị giá tăng 46,2% .

Than đá xuất khẩu đạt 8,6 triệu tấn với 421 triệu đôla, giảm 20,7% về lượng so với cùng kỳ năm trước, nhưng do giá tăng nên kim ngạch tăng 28%. Trong quí I, thị trường xuất khẩu than Việt Nam lớn nhất là Trung Quốc với 4,47 triệu tấn, chiếm hơn 74,5% lượng than đá xuất khẩu.

Dệt may xuất khẩu đạt 2,6 tỷ USD, tăng 24,5% so với 4 tháng đầu năm trước. Thị trường xuất khẩu lớn của hàng dệt may Việt Nam trong quí I là thị trường Hoa Kỳ, chiếm trên 57,6% thị phần và tăng 18,9% so với quí I năm trước; thị trường EU đạt 338 triệu USD, chiếm 17,7% thị phần và tăng 20,3%; thị trường Nhật Bản đạt 175 triệu USD, chiếm 9,3% thị phần và tăng 7,36%.

Giày, dép xuất khẩu đạt 1,36 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong quí I, các thị trường xuất khẩu lớn là thị trường EU, chiếm 53% thị phần, tăng 14,7%; thị trường Hoa Kỳ đạt 228 triệu USD, chiếm 22,2% thị phần, tăng 9,1%. Gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu đạt 934 triệu USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong quí I, xuất khẩu gỗ và sản phẩm sang thị trường EU đạt 266 triệu USD, chiếm 38,9% thị phần và tăng 32% so với quí I năm trước; thị trường Hoa Kỳ đạt 222 triệu USD, chiếm 32,5% thị phần và tăng 12%).

Xuất khẩu hàng nông sản và nông sản chế biến đạt trên 2,5 tỷ USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có lợi thế về giá của một số mặt hàng như gạo, cao su, hạt điều, chè trên thị trường thế giới tăng cao, nhất là gạo (giá gạo thế giới tăng kỷ lục, lên mức 1200 USD/tấn). Xuất khẩu gạo 4 tháng đạt 1,57 triệu tấn với 775 triệu USD, tăng 11,6% về lượng so với cùng kỳ năm trước, nhưng do giá xuất khẩu bình quân 4 tháng tăng gần 55% so với cùng kỳ nên kim ngạch tăng tới 72,7%. Bên cạnh đó, nguồn cung trong nước cho xuất khẩu gạo cũng tăng, do lúa đông xuân của đồng bằng sông Cửu Long được mùa, sản lượng tăng thêm 55 vạn tấn so với vụ đông xuân năm trước. Cao su xuất khẩu đạt 169 nghìn tấn với 404 triệu USD, giảm 7,2% về lượng, nhưng do giá tăng 33,1% nên kim ngạch tăng 23,7%; hạt điều xuất khẩu 42 nghìn tấn với 200 triệu USD, tăng 14% về lượng và 34% về kim ngạch (do giá tăng 15,1%).

Thuỷ sản xuất khẩu đạt 1,15 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó riêng tháng 4 đạt 350 triệu USD, tăng 20% so với tháng 4/2007. Trong quí I, xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường EU đạt 216 triệu USD, chiếm 27,1% thị phần và tăng 23% so với quí I năm trước; thị trường Nhật Bản đạt 141 triệu USD, chiếm 17,7% thị phần và tăng 14%; thị trường Hoa Kỳ đạt 116 triệu USD, chiếm 14,5% thị phần và giảm 14%, do lượng tôm xuất khẩu giảm mạnh.

Nhập khẩu hàng hóa 4 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 29,36 tỷ USD, tăng 71% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước 20,6 tỷ USD, tăng 86% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,76 tỷ USD, tăng 43,7%. Nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước ước tính 4 tháng đầu năm nay đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó các mặt hàng nhập khẩu lớn như máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng; xăng dầu; sắt thép; phân bón đều có tốc độ tăng khá cao.

Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng và linh kiện nhập khẩu 4 tháng đạt 4,6 tỷ USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước. Xăng dầu nhập khẩu đạt 4,68 triệu tấn với 3,76 tỷ USD, tăng 8% về lượng, nhưng do giá nhập khẩu bình quân trong 4 tháng tăng 57,6% so với cùng kỳ nên kim ngạch tăng tới 70,2%. Sắt thép nhập khẩu đạt 4,63 triệu tấn với 3,33 tỷ USD, tăng 98,3% (gần gấp đôi) lượng nhập khẩu của 4 tháng đầu năm trước và do giá nhập khẩu bình quân tăng 27,6% nên kim ngạch tăng tới 153,1%. Trong đó, đáng chú ý là phôi thép nhập khẩu đạt 1,33 triệu tấn với 870 triệu USD, tăng 93,1% về lượng nhưng do giá phôi thép đã tăng 47,5% nên kim ngạch nhập khẩu phôi thép tăng tới 184,8%. Phân bón hóa học nhập khẩu đạt 1,63 triệu tấn với 666 triệu USD, tăng 45,2% về lượng so với cùng kỳ năm trước, nhưng trị giá tăng 165% (do giá nhập khẩu tăng tới 82%).

Vải nhập khẩu 4 tháng đạt 1,3 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước; điện tử máy tính đạt 1,17 tỷ USD, tăng 47,2%; chất dẻo đạt 977 triệu USD, tăng 38,1%; nguyên phụ liệu dệt, may, da đạt 728 triệu USD, tăng 16,3%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 706 triệu USD, tăng 114,4%; hóa chất 599 triệu USD, tăng 39,6%; sản phẩm hóa chất 474 triệu USD, tăng 30,4%; ô tô đạt 991 triệu USD, tăng 333,2%.

Đáng chú ý là số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu trong 4 tháng đạt 28 nghìn chiếc, gấp trên 7,5 lần số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm trước và bằng số lượng ô tô nguyên chiếc đã nhập khẩu trong cả năm 2007; kim ngạch nhập ô tô nguyên chiếc 4 tháng là 483 triệu USD, gấp 5,7 lần cùng kỳ năm trước.

Nhập siêu 4 tháng đầu năm nay đã lên tới 11,1 tỷ USD, bằng 60,8% giá trị xuất khẩu. Xuất khẩu 4 tháng chỉ trang trải được khoảng 2/3 giá trị đã nhập khẩu, gây sức ép lên cán cân thanh toán và tăng cung tiền đồng để mua ngoại tệ thanh toán nhập khẩu, ảnh hưởng đến các cân đối kinh tế vĩ mô. Vấn đề nhập siêu cao cần được đặc biệt quan tâm trong chỉ đạo, điều hành thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của Chính phủ.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến Việt Nam 4 tháng đầu năm ước tính đạt 1,7 triệu lượt người tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi có số lượng lớn nhất, đạt trên 1 triệu lượt người, tăng 12,3%; khách đến vì công việc đạt 315,6 nghìn lượt người, tăng 59,6%; thăm thân nhân đạt trên 263 nghìn lượt người, tăng 12%; khách đến với các mục đích khác đạt 103,4 nghìn lượt người, giảm 17,8%.

Trong 4 tháng đầu năm, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số khách đến nước ta với số lượng từ 100.000 lượt người trở lên và tăng so với cùng kỳ năm trước là: Trung Quốc với 291,9 nghìn lượt người, tăng 63,9%; Hoa Kỳ với 165,5 nghìn lượt người, tăng 6,4%; Đài Loan 111,3 nghìn lượt người, tăng 10%. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số lượng khách đến nước ta không nhiều nhưng lại có tốc độ tăng khá cao như: Phần Lan 4,6 nghìn lượt người, tăng 43,7%; Hồng Kông 2,2 nghìn lượt người tăng 33,3 %; Phi-li-pin 13,5 nghìn lượt người, tăng 24,8%.

Bên cạnh đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số lượt khách đến nước ta giảm so với cùng kỳ năm trước như: Hàn Quốc với 182,9 nghìn lượt người, giảm 2,5%; Nhật Bản với 140,5 nghìn lượt người, giảm 5,8%; Cam-pu-chia với 52 nghìn lượt người, giảm 11,5%; Ca-na-da với 34,2 nghìn lượt người, giảm 7,1%.

Giao thông vận tải

Vận chuyển hành khách 4 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 580,5 triệu lượt khách và 27,2 tỷ lượt khách.km, tăng 11,4% về số khách và tăng 13,1% về số khách.km so với cùng kỳ năm 2007. Trong các ngành vận tải, vận chuyển hành khách bằng đường bộ đạt 523,3 triệu lượt khách, chiếm tới 90,1% tổng số lượt khách được vận chuyển, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; số lượt khách luân chuyển đạt 19,6 tỷ khách.km, chiếm 72% tổng số lượt khách luân chuyển và tăng 16,2%. Vận chuyển hành khách bằng đường hàng không đạt 3 triệu lượt khách và 5,2 tỷ khách.km, tăng 15,2% về lượt khách và 10,5% về lượt khách.km; tương tự, vận chuyển hành khách bằng đường biển tăng 4,9% và tăng 5,3%; vận chuyển hành khách bằng đường sông tăng 2,1% và tăng 2,5%; riêng vận chuyển hành khách bằng đường sắt giảm 5,8% về số lượt khách vận chuyển và 5,9% số lượt khách.km.

Vận chuyển hàng hóa 4 tháng đầu năm ước tính đạt 130,2 triệu tấn và 46,7 tỷ tấn.km, tăng 7,2% về tấn và 25,6% về tấn.km so với cùng kỳ năm trước. Theo cấp quản lý, các đơn vị trung ương vận chuyển 13 triệu tấn với 34,6 tỷ tấn.km, tăng 18,5% về tấn và tăng 32,1% về tấn.km (chủ yếu do đảm nhận vận chuyển trên những tuyến đường dài); các đơn vị vận tải địa phương đạt 117,2 triệu tấn với 12,1 tỷ tấn.km, tăng 6,4% về tấn và 10,9% về tấn.km.

Theo ngành vận tải, vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ đạt 90,2 triệu tấn với 5 tỷ tấn.km, tăng 7,8% về tấn và tăng 11% về tấn.km so với 4 tháng đầu năm trước; đường biển đạt 13,5 triệu tấn, với 38,5 tỷ tấn.km, tăng 20% và tăng 29,4%; đường sắt 3 triệu tấn với 1,4 tỷ tấn.km, tăng 5,9% và tăng 16,4%; đường sông 23,4 triệu tấn với 1,6 tỷ tấn.km, xấp xỉ số tấn vận chuyển trong 4 tháng đầu năm trước và tăng 7,7% về tấn.km.

Bưu chính, viễn thông

Thị trường bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển mạnh. Hạ tầng cơ sở viễn thông ngày càng phát triển và hoàn thiện, được đánh dấu bằng việc phóng vệ tinh viễn thông VINASAT-1 ngày 19/4/2008. Tính từ đầu năm đến nay, số thuê bao điện thoại phát triển mới của toàn ngành ước tính đạt 4,8 triệu thuê bao; tính đến hết tháng 4/2008 cả nước có 51,5 triệu thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới trong 4 tháng đầu năm đạt 346,2 nghìn thuê bao; tính đến hết tháng 4/2008 trên cả nước có khoảng 5,5 triệu thuê bao internet. Doanh thu bưu chính, viễn thông 4 tháng đầu năm ước tính đạt 25,3 nghìn tỷ đồng, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông chiếm 60% với 15,2 nghìn tỷ đồng.

5. Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 38,6% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 36,8%; thu từ dầu thô đạt 38,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 45,3%; thu viện trợ đạt 26,4%. Trong thu nội địa, thu từ kinh tế Nhà nước đạt 36,8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 29,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 36,4%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao bằng 46,3%; thu phí xăng dầu bằng 31,1%; thu phí, lệ phí đạt 33,4%; các khoản thu về nhà, đất đạt 47,5%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm ước tính đạt 33% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 31,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 31%). Chi sự nghiệp kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể đạt 34% dự toán năm, trong đó chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề đạt 33,1%; chi y tế đạt 34,5%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 34,9%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 37,7%; chi quản lý hành chính đạt 33,4%. Chi cải cách tiền lương 4 tháng đầu năm đạt 33,2% dự toán năm; chi trả nợ và viện trợ đạt 39%. Bội chi ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm bằng 10,3% mức dự toán cả năm, trong đó 85,5% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 14,5% từ nguồn vay nước ngoài.

6. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng 4/2008 có 153,4 nghìn hộ tương ứng với 626,5 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 1,3% tổng số hộ và 1,2% tổng số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. So với cùng kỳ năm trước, số hộ thiếu đói tăng 42,2% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 66,6%. So với tháng 3/2008, số hộ thiếu đói tăng 27,7% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 25,9%. Thiếu đói tập trung ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc (cả 4 tỉnh) và Bắc Trung Bộ (trong đó tỷ lệ nhân khẩu thiếu đói so với nhân khẩu nông nghiệp của Hà Tĩnh là 11,2%, Nghệ An là 7,9% và Thanh Hoá là 6%).

Nguyên nhân số hộ và số nhân khẩu thiếu đói tăng là do ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 5 và đợt lũ lụt xảy ra trong tháng 10 và tháng 11 năm 2007 và gần đây nhất là ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại kéo dài xảy ra vào đầu năm 2008 ở các tỉnh miền Bắc. Mặt khác, đối với các tỉnh phía Bắc đây là thời điểm giáp hạt.

Để hỗ trợ các đối tượng thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói khoảng 19,9 nghìn tấn lương thực và hơn 8,6 tỷ đồng (riêng trong tháng 4 hỗ trợ gần 3 nghìn tấn lương thực và hơn 1,3 tỷ đồng).

Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Bộ Y tế, từ ngày 21/3/2008 đến 20/4/2008, cả nước có 2,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét ở 60 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; 1,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và gần 500 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút. Như vậy, tính từ đầu năm đến 20/4/2008, cả nước có 16,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước; 8,2 nghìn trường hợp mắc sốt xuất huyết, tăng 12,3% và 1,8 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút, giảm 7%.

Đặc biệt là trong tháng 4, tình hình mắc tiêu chảy cấp nghi tả diễn ra trên diện rộng. Có tới 1856 trường hợp bị mắc mới tại 19 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó có 317 trường hợp được xác định là dương tính với phẩy khuẩn tả. So với tổng số trường hợp tính từ đầu năm đến nay, số trường hợp trong tháng 4 bị mắc tiêu chảy cấp mới cũng như số trường hợp được xác định dương tính với phảy khuẩn tả đều chiếm tới 97%. Đây là vấn đề cần được quan tâm vì đang chuẩn bị thời gian đầu mùa hè, thời tiết rất dễ lan truyền bệnh.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 4/2008 đã phát hiện thêm 1,46 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 20/4/2008 lên 143 nghìn người, trong đó 30,6 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và gần 17,1 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng 4 đã xảy ra 13 vụ ngộ độc thực phẩm với 233 người bị mắc tại các tỉnh Đắk Lắk, Hà Giang, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Quảng Ninh, Trà Vinh, Cà Mau, Bắc Kạn, làm 5 người tử vong. Tính từ đầu năm đến nay, số người bị ngộ độc là 969 người, trong đó có 16 người tử vong.

Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Uỷ ban ATGT quốc gia, trong tháng 3/2008, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1055 vụ tai nạn giao thông, làm chết 973 người và bị thương 613 người. So với tháng 02/2008, tình hình tai nạn giao thông đã giảm cả về số vụ vi phạm, số người bị chết và số người bị thương: số vụ vi phạm giảm 64; số bị chết giảm 59 người; số bị thương giảm 187 người (-3,4%). So với cùng kỳ năm 2007, số vụ không giảm, số người bị thương giảm 201 người (-24,7%), số bị chết tăng 39 người (+4,2%).

Tính chung 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 3290 vụ tai nạn giao thông, làm chết 3053 người và bị thương 2073 người. So với cùng kỳ năm 2007, số vụ giảm 701 (-17,6%); số người chết giảm 508 người (-14,3%), số người bị thương giảm 1043 người (-33,5%).

Bình quân một ngày trong 3 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 36,6 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33,9 người và làm bị thương 23 người. So với 3 tháng đầu năm 2007, số vụ tai nạn giao thông đã giảm 7,79 vụ/ngày; số người chết giảm 5,64 người/ngày và số người bị thương giảm 11,59 người/ngày.

Thiệt hại do lụt bão

Từ ngày 21/3/2008 đến hết ngày 20/4/2008, trên cả nước có 11 tỉnh/thành phố chịu ảnh hưởng và bị thiệt hại do mưa to, mưa đá, lũ quét và lốc, trong đó hai tỉnh Phú Thọ và Hải Phòng bị thiệt hại nặng nhất. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 5 người chết, 30 người bị thương; làm hư hại 1044 ha lúa (Phú Thọ 617 ha), 1347 ha hoa mầu; 135 nhà bị sập, đổ; 3228 nhà bị hư hại, tốc mái (riêng Phú Thọ có 11 người bị thương; 69 nhà bị sập đổ; 1693 nhà bị hư hỏng). Ngoài ra, mưa và lốc còn gây thiệt hại về công trình văn hoá, phúc lợi (như các cơ sở trường học, trạm y tế, nhà văn hoá xã…), các công trình hạ tầng, các cơ sở sản xuất kinh doanh. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong kỳ ước tính là 73,5 tỷ đồng, trong đó Phú Thọ 38,8 tỷ đồng, chiếm 52,87% tổng giá trị thiệt hại của cả nước, Hải Phòng 25 tỷ đồng, chiếm 34%.

Khái quát lại, mặc dù có nhiều khó khăn ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống, nhưng tình hình kinh tế – xã hội nước ta trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm vẫn phát triển theo hướng tích cực. Sản xuất công nghiệp tháng 4 đã tăng cao hơn mức tăng quý I; xuất khẩu tăng cao, một số mặt hàng xuất khẩu của nước ta đang được lợi về giá. Sản xuất nông nghiệp tuy bị ảnh hưởng của thời tiết và dịch bệnh nhưng vẫn phát triển ổn định. Lúa đông xuân ở đồng bằng sông Cửu Long được mùa; diện tích lúa đông xuân ở các tỉnh phía Bắc vẫn xấp xỉ củng kỳ năm trước. Các biện pháp kiềm chế lạm phát bước đầu phát huy tác dụng, giá tiêu dùng đã có xu hướng tăng chậm lại. Tình hình An ninh chính trị, xã hội ổn định.

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn phải đối mặt và vượt qua một số vấn đề khó khăn như: (1) Giá tiêu dùng mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư, nhất là người làm công ăn lương, nông dân và những người có thu nhập thấp; (2) Giá nhập khẩu và giá nhiều loại vật tư nguyên, nhiên liệu đầu và cho sản xuất và kinh doanh tăng cao làm tăng giá sản phẩm và giảm sức cạnh tranh trên thị trường trong nước; (3) Nhập siêu tiếp tục tăng cao trong tháng 4 và hiện đang ở mức qua cao, gây khó khăn cho các cân đối vĩ mô; (4) Sản xuất nông nghiệp còn gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch tai xanh, dịch lở mồm long móng; (5) Đời sống của nhân dân còn gặp khó khăn, nhất là những vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai và thời tiết bất thường. (6) Dịch tiêu chảy cấp ở người tăng mạnh trong tháng 4 và đang diễn biến phức tạp.

Để đảm bảo thực hiện tốt các kết luận của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008 và về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững: (1) Các Bộ, ngành khẩn trương cụ thể hoá 8 nhóm giải pháp và đề ra các chương trình hành động kiềm chế lạm phát; (2) Đẩy mạnh hơn nữa việc theo dõi diễn biến của thị trường và kiểm soát giá cả, chống buôn lậu, lợi dụng tăng giá đầu cơ thu lợi bất chính; (3) Kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc trong đầu tư để đảo đảm đủ vốn cho sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu; (4) Khẩn trương đề ra các biện pháp nhằm hạn chế nhập siêu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng chưa thật sự cần thiết; (5) Tiếp tục đề ra chương trình và biện pháp tích cực để chống và dập dịch bệnh, đặc biệt là chủ động phòng dịch; (6) Tiếp tục đề ra các chương trình hỗ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp để ổn định đời sống và sản xuất.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ