I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Trọng tâm sản xuất nông nghiệp tháng này là thu hoạch lúa hè thu và gieo cấy lúa mùa, nhưng nhìn chung tiến độ chậm. Đến ngày 15 tháng 7 cả nước mới thu hoạch được 465,1 nghìn ha lúa hè thu và gieo cấy  1013,1 nghìn ha lúa mùa. Nếu so với cùng kỳ năm trước thì thu hoạch lúa hè thu chỉ bằng 65,2%; gieo cấy lúa mùa bằng 92,0%.

Khó khăn lớn nhất của sản xuất nông nghiệp hiện nay là mưa lũ đang xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Từ đầu tháng 7 trên toàn lưu vực sông Mê Công có mưa vừa và mưa to nên lũ ở đồng bằng sông Cửu Long của nước ta có cường suất trung bình 9 cm/ngày, thuộc loại cao và xảy ra sớm nhất trong vòng 40 năm qua. Mưa lũ đã làm 29,4 nghìn ha lúa hè thu của 4 tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang bị ngập, trong đó 12,7 nghìn ha phải thu hoạch ép chạy lũ và 16,7 nghìn ha có khả năng bị mất trắng.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Giá trị sản xuất công nghiệp 7 tháng tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng12,2% (Trung ương quản lý tăng 10,9%; địa phương quản lý tăng 14,7%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,9% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 0,9%; các doanh nghiệp khác tăng 24,8%).

Một số tỉnh, thành phố có quy mô sản xuất công nghiệp tương đối lớn, chiếm tỷ trọng cao từ đầu năm đến nay đạt được tốc độ tăng trưởng khá. Tính chung 7 tháng, công nghiệp trên địa bàn Hà Nội tăng 15,9%; Hải Phòng tăng 25,4%; Đà Nẵng tăng 13,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 14,4%; Đồng Nai tăng 17,9%; Cần Thơ tăng 19,4%.

Những sản phẩm công nghiệp quan trọng, phục vụ sản xuất và đời sống đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao. Nếu so với cùng kỳ năm trước thì sản lượng điện phát ra 7 tháng năm nay tăng 11,2%; xi măng tăng 27,0%; thép cán tăng 14,6%; giấy bìa tăng 14,9%; vải lụa tăng 17,1%; thuỷ sản chế biến tăng 27,6%; đường mật tăng 14,9%.

III. THƯƠNG MẠI GIÁ CẢ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tiếp tục giảm. Nếu so với tháng trước thì chỉ số giá tiêu dùng tháng này giảm 0,6%, trong đó nhóm hàng lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống giảm 1,0%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ dược phẩm và y tế, phương tiện đi lại và bưu điện giảm 0,2%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác không giảm hoặc chỉ tăng 0,1 – 0,3%.

Tính chung 7 tháng, chỉ số giá tiêu dùng giảm 1,6% so với tháng 12 năm trước và giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá vàng tháng 7 tăng 0,4% so với tháng 6 và tăng 6,3% so với tháng 7/1999. Tương tự, giá đô la Mỹ tăng 0,1% và tăng 1,3%.

Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đạt 7660 triệu USD, tăng 24,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 4074 triệu USD, tăng 6,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 3586 triệu USD, tăng 55,6%. Kim ngạch nhập khẩu 7 tháng 8396 triệu USD, tăng 32,5% so với 7 tháng 1999. Nhập siêu 7 tháng 736 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2016 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1280 triệu USD.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ